Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ BIỂN

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ BIỂN

Tải bản đầy đủ - 0trang

13



3.1.2. Tiềm năng và kết quả trong quản lý kinh tế biển cuả tỉnh Thanh Hoá

3.1.2.1. Tiềm năng và kết quả khai thác về tài nguyên thuỷ sản

Về năng lực khai thác hải sản: Tổng phương tiện khai thác thủy sản năm

2010 là 8.713 chiếc, năm 2015 giảm xuống còn 7.488 chiếc. Số lượng tàu cá

đánh bắt xa bờ tăng từ 636 (năm 2010) tàu lên 1.051 tàu năm 2015 (tăng 415

tàu). Tỉnh đã có chính sách giảm tàu đánh bắt gần bờ, tăng tàu đánh bắt xa bờ

đến đầu năm 2018, số tàu đánh bắt xa bờ loại từ 90CV trở lên đã lên tới 1.801

chiếc chiếm 24,2% trong tổng số tàu.

Về sản lượng khai thác: Sản lượng khai thác tăng 74.047 tấn năm 2010

lên 77.491 tấn năm 2011(tăng 102%). Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn

2010-2015 đạt 12,07%/ năm. Đến năm 2016 đã tăng lên 100.258 tấn, năm

2017: 107.140 tấn. Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2010- 2017 đạt gần

14%/ năm.

3.1.2.2. Tiềm năng và kết quả kinh tế hàng hải, cảng biển

Dự kiến, từ nay đến năm 2020, cảng Nghi Sơn sẽ được đầu tư mở rộng lên

30 bến, lượng hàng hóa thơng qua cảng ước đạt 15 đến 20 triệu tấn/năm. Hiện

tại, tỉnh Thanh Hóa đã cấp phép đầu tư cho 15 bến, trong đó có 3 bến đã đưa

vào khai thác. Hàng hóa xếp dỡ qua cảng chủ yếu qua cảng Nghi Sơn với lượng

hàng hóa xếp dỡ chiếm trên 85% tổng lượng hàng hóa. Năm 2011, hàng hóa xếp

dỡ qua cảng tăng 44,67% so với năm 2010. Đến năm 2015, lượng hàng hóa xếp

dỡ qua cảng tăng lên 4.582 nghìn tấn ( tăng 59,45%) so với năm 2012. Đây là tín

hiệu tốt cho ngành vận tải biển trong nước cũng như trên thế giới. Đến 5/2018,

cảng nước sâu Nghi Sơn đã đón được tầu có trọng tải hơn 100.000 tấn ra vào cảng.

Cảng có tính chất điểm nhấn là cảng Nghi Sơn- Hòn Mê: Đây là bến cảng tổng

hợp, bến container, các bến chuyên dụng phục vụ KKT Nghi Sơn (Bến suất nhà

máy lọc hóa dầu, than nhiệt điện, xi măng, cơng nghiệp đóng tàu, xuất, nhập

xăng dầu...), cảng này được Chính phủ xác định là cảng loại 1 trong hệ thống

cảng biển Việt nam.

3.1.2.3. Tiềm năng và kết quả du lịch biển

Với đường bờ biển dài 102km, Thanh Hóa có nhiều bãi tắm đẹp như

Sầm Sơn (Thành phố Sầm Sơn), Hải Tiến (huyện Hoằng Hóa), Hải Hòa (huyện

Tĩnh Gia.

Để du lịch phát triển nhanh và bền vững, tỉnh Thanh Hóa xác định du lịch

biển, đảo sẽ trở thành sản phẩm du lịch mũi nhọn của tỉnh đến năm 2025, tầm nhìn

2030. Theo đó, Thanh Hóa đề ra mục tiêu cụ thể đối với loại hình du lịch biển là

đến năm 2020 đón được 8,4 triệu lượt khách (trong đó khách quốc tế là 248.000

lượt), phục vụ 17,5 triệu ngày khách, tổng thu ước đạt 16.500 tỷ đồng; năm 2025:

đón 13,5 triệu lượt khách, đến năm 2030 đón 22 triệu lượt khách (khách quốc tế là

1,2 triệu lượt), phục vụ 51,6 triệu ngày khách, tổng thu ước đạt 88.500 tỷ đồng.



14



3.1.2.4. Tiềm năng về dân số và nguồn lực

Thanh Hóa hiện nay có khoảng 3.512.721 người. Số người trong độ tuổi

lao động là 2.209,500 người chiếm 63,2% dân số trong toàn tỉnh. Vùng biển

Thanh Hóa là địa bàn tập trung dân cư, diện tích chiếm 11,1% diện tích tồn

tỉnh nhưng dân số chiếm 31,62% dân số toàn tỉnh, mật độ dân cư trong vùng

cao gấp 2,85 lần so với mật độ dân cư chung của tỉnh. Dân cư hầu hết sinh sống

ở nơng thơn, làm nghề nơng, nghề thủy sản.

3.2. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ KINH TẾ BIỂN CỦA

TỈNH THANH HOÁ

3.2.1. Phân tích thực trạng tuyên truyền chủ trương của Đảng, pháp

luật của Nhà nước và cụ thể hóa các quan điểm của Đảng và Nhà nước và

ban hành văn bản pháp quy về kinh tế biển của tỉnh Thanh Hóa

Tỉnh Thanh Hóa đã xây dựng kế hoạch về cơng tác tuyên truyền đối với

Luật Biển Việt Nam và Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/02/2007 do Hội nghị

lần thứ Tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X thơng qua về Chiến lược

biển Việt Nam đến năm 2020 là đưa Việt Nam “trở thành quốc gia mạnh về

biển, giàu lên từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biển…”.

3.2.2. Phân tích thực trạng xây dựng và giám sát thực hiện quy

hoạch, kế hoạch về kinh tế biển của tỉnh Thanh Hóa

Tỉnh chủ động xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch về kinh tế biển

trên một số lĩnh vực: Về du lịch biển tập trung lãnh đạo, chỉ đạo huy động các

nguồn lực đưa du lịch Thanh Hóa trở thành ngành kinh tế mũi nhọn vào năm

2020; đến năm 2025 thành một ngành cơng nghiệp “khơng khói”, đóng góp

quan trọng vào phát triển KT-XH của tỉnh và trở thành một trong những trọng

điểm du lịch của cả nước. Khai thác và chế biển hải sản có thương hiệu trong

nước và xuất khẩu.

Khu kinh tế Nghi Sơn và các KCN đã và đang trở thành động lực quan

trọng, có sức lan tỏa, thúc đẩy phát triển cơng nghiệp, góp phần chuyển dịch cơ

cấu kinh tế, cơ cấu lao động và là một trong những nhân tố quyết định kết quả

thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII. Trong năm 2017, KKT

Nghi Sơn đã được Bộ Kế hoạch và Đầu tư đánh giá là một trong số ít các KKT

có tốc độ phát triển nhanh và xếp thứ 02 trong các KKT trên cả nước.

Xây dựng chiến lược quản lý kinh tế biển và quản lý tài nguyên môi

trường biển theo quan điểm phát triển bền vững.

3.2.3. Phân tích thực trạng ban hành và thực thi hệ thống chính sách

khuyến khích phát triển kinh tế biển của tỉnh Thanh Hóa

Tỉnh đã có nhiều chủ trương, chính sách ưu tiên về đầu tư phát triển đối với

kinh tế ven biển. Tỉnh ủy, UBND đã ban hành chương trình hành động thực hiện

Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa X) về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020,

nhiệm vụ chủ yếu là tập trung nguồn lực, khai thác tốt nhất tiềm năng, thế mạnh



15



để phát triển kinh tế biển. Đồng thời Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ

XVIII đã đề ra 5 chương trình trọng tâm. Quản lý tốt các ngành kinh tế biển.

Tỉnh triển khai các dự án lớn như đê chắn sóng, khu tránh trú bão Lạch

Trường, bến cảng Nhà máy thép Nghi Sơn... xây dựng các khu neo đậu tàu

thuyền, dịch vụ hậu cần nghề cá được quan tâm đầu tư. Hiện nay, vùng biển có

3 cảng lớn, năng lực ngày càng được cải thiện, đáp ứng yêu cầu dịch vụ hậu cần

sau khai thác. Cảng Lạch Hới có thể đáp ứng cho 2.600- 3.000 lượt tàu thuyền

ra vào làm dịch vụ, với sản lượng hải sản từ 15.000 đến 20.000 nghìn tấn.

3.2.4. Phân tích thực trạng thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp

trong lĩnh vực kinh tế biển của tỉnh Thanh Hóa

Để tăng cường hơn nữa công tác quản lý biển của tỉnh Thanh hóa có hiệu

lực, hiệu quả, tỉnh tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động các các

ngành, các lĩnh vực kinh tế biển để làm rõ vai trò, trách nhiệm của các cơ quan,

đơn vị, doanh nghiệp hoạt động trên biển và vùng ven biển.

3.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ KINH TẾ BIỂN CỦA

TỈNH THANH HOÁ

3.3.1. Thành công trong quản lý nhà nước về kinh tế biển của tỉnh

Thanh Hóa

Một là, QLNN về kinh tế biển là cơ sở, điều kiện thuận lợi cho kinh tế

biển phát triển.

Hai là, đời sống dân cư vùng ven biển được cải thiện. Phát triển KT-XH

của tỉnh đạt tốc độ tăng trưởng ước đạt 12,5%/ năm cao hơn bình quân chung của

tỉnh. Sản xuất công nghiệp tăng trưởng khá, giá trị sản xuất ước tăng 14,2%.

Ba là, tài nguyên, môi trường biển bước đầu được bảo tồn

Bốn là, an ninh, trật tự, chủ quyền trên biển thuộc Tỉnh được giữ vững.

3.3.2. Hạn chế trong quản lý nhà nước về kinh tế biển của tỉnh Thanh Hóa

Một là, QLNN về kinh tế biển chưa đáp ứng với yêu cầu quản lý tiềm năng.

Kinh tế biển Thanh Hóa tuy đã đạt được những bước tiến quan trọng, nhưng vẫn

còn bộc lộ những hạn chế đó là: Cơ cấu ngành, nghề chưa hợp lý, phương thức

khai thác kinh tế biển chủ yếu vẫn là sản xuất qui mô nhỏ và vừa. Nhận thức về

vai trò, vị trí của biển và kinh tế biển của các cấp, các ngành, các địa phương ven

biển và người dân còn chưa đầy đủ, chưa chuẩn bị điều kiện để vươn ra vùng biển

quốc tế, chưa xây dựng được sản phẩm du lịch đặc trưng.

Các cơng trình hạ tầng kỹ thuật biển còn yếu kém, đầu tư còn thiếu tập trung

nên chưa tạo dựng được các điểm đột phá nhanh và mạnh.

Hai là, mơi trường cơ chế, chính sách tuy được cải thiện và có đổi mới hơn

những năm trước, nhưng vẫn chưa đủ mạnh, còn thiếu cơ chế, chính sách đặc thù

mang tính đột phá để khai thác những thế mạnh, về phát triển kinh tế biển, đảo và

sử dụng nguồn nhân lực dồi dào trong vùng, Tình hình khai thác, sử dụng biển và

hải đảo chưa hiệu quả, thiếu bền vững.



16



Ba là, vấn đề bảo vệ tài nguyên, môi trường biển chưa được coi trọng đúng

mức. Còn nghiêng về ưu tiên khai thác tài nguyên biển ở dạng vật chất, không tái

tạo, các giá trị chức năng, phi vật chất và có khả năng tái tạo của các hệ thống tài

ngun biển còn ít được chú trọng. Một số khu biển ven bờ bị ô nhiễm.

Hệ thống các cơ sở nghiên cứu khoa học-công nghệ biển, đào tạo nguồn

nhân lực cho kinh tế biển; các cơ sở quan trắc, dự báo, cảnh báo biển, thiên tai

biển, các trung tâm tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn,... ở ven biển còn nhỏ bé, trang bị

thơ sơ. Các phương thức quản lý biển mới, tiên tiến còn chậm được áp dụng.

Bốn là, thiếu vốn đầu tư cho ngư dân đầu tư đóng tàu có trọng tải lớn 250

CV trở lên vươn khơi xa, khai thác hải sản vùng đánh cá chung và ngoài biển xa.

3.3.3. Nguyên nhân của hạn chế trong quản lý nhà nước về kinh tế

biển của tỉnh Thanh Hóa

Thứ nhất: Quản lý Nhà nước về kinh tế biển chưa có chiến lược tổng thể,

dài hạn. Qua điều tra, khảo sát xã hội với 6 huyện, thành phố ven biển với gần

600 người được hỏi thì có đến 159 người đánh giá chưa có chiến lược tổng thể

dài hạn. Quy mô sản xuất, chưa tương xứng với tiềm năng (136 người); cơ cấu

ngành nghề còn bất cập; Theo đó, phương thức khai thác biển chủ yếu vẫn dưới

hình thức sản xuất và đầu tư nhỏ, sử dụng công nghệ lạc hậu, mới khai thác tài

nguyên ở dạng thơ, theo số lượng.

Thứ hai: Quy mơ bố trí sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế biển mang

tính tập thể chưa cao, đặc biệt là cơ cấu vùng chưa được quan tâm đúng mức.

Qua điều tra khảo sát có đến 26,7% trả lời đây là khiếm khuyết, khó khăn trong

thực hiện quản lý kinh tế biển. Tình trạng quản lý đơn ngành, phân tán vẫn là

chủ yếu, dẫn đến thiếu sự liên hệ, phối hợp chặt chẽ giữa các Sở, ngành trong

công tác quản lý, bảo vệ môi trường biển.

Thứ ba: Vận dụng nền kinh tế tri thức vào hoạt động khai thác tài nguyên

biển còn hạn chế, qua điều tra khảo sát có đến 191 người= 31,8% trả lời sự vận

dụng nền kinh tế tri thức vào khai thác hải sản hạn chế. Sự hoạt động của kinh

tế tư nhân còn thiếu sự kiểm sốt. Trong thu hút đầu tư nước ngồi còn nhiều

bất cập. theo đánh giá của một số tổ chức khoa học có uy tín, đa dạng sinh học

biển và nguồn lợi thủy, hải sản đã, đang có chiều hướng giảm dần cả về trữ

lượng, sản lượng và kích thước cá đánh bắt.

Thứ tư: Hoạt động kinh tế biển còn tự phát, chưa được quản lý và hổ trợ

đầu tư đúng hướng. Cùng với đó, cơ sở hạ tầng các vùng biển, ven biển, nhất là

hệ thống cảng biển, đường giao thông nối các huyện ven biển và các khu du

lịch biển trong tỉnh còn yếu kém, chưa liên minh thành các doanh nghiệp, tập

thể HTX đủ quy mơ.



17



Chương 4

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HỒN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ

NƯỚC VỀ KINH TẾ BIỂN CỦA TỈNH THANH HỐ

4.1. PHƯƠNG HƯỚNG HỒN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ

KINH TẾ BIỂN CỦA TỈNH THANH HOÁ

Dự báo đến năm 2025, tầm nhìn năm 2030

Mục tiêu tổng quát phát triển KT - XH nhanh, từng bước tạo sự chuyển

biến về chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh hiệu quả của nền kinh tế.

“Phấn đấu đến năm 2025, Thanh Hóa cơ bản trở thành tỉnh khá của cả nước,

đến năm 2030 cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại“. Trên cơ

sở đó, mục tiêu cụ thể đến năm 2020, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa

bàn (GRDP) bình quân hằng năm đạt 12 - 13%; GRDP bình quân đầu người đạt

từ 3.600 USD trở lên, thu nhập thực tế của dân cư năm 2020 gấp 4,4 lần năm

2010.Từ những mục tiêu trên, xác định các chương trình trọng tâm, đột phá đến

năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025 gồm: Phát triển khu kinh tế Nghi Sơn và các

khu cơng nghiệp; chương trình phát triển du lịch; chương trình đào tạo nguồn

nhân lực. Phấn đấu đến năm 2025, Thanh Hóa trở thành một trong những trung

tâm du lịch, cảng biển của vùng Bắc Trung bộ và cả nước, tốc độ tăng trưởng

dịch vụ bình quân hằng năm đạt trên 8,9%.

Là một tỉnh với số dân đông hơn 3,5 triệu người. Vùng biển và ven biển cho

thấy, với hơn 123 ngàn ha diện tích đất đai, với hơn 1 triệu dân sinh sống ven biển

là điều kiện để xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH vùng biển.

4.1.1. Những yêu cầu quản lý nhà nước về kinh tế biển của tỉnh

Thanh Hoá

- Yêu cầu về tái cơ cấu, chuyển đổi mơ hình tăng trưởng: . Về chuyển đổi

mơ hình tăng trưởng kinh tế

Chuyển đổi mơ hình tăng trưởng hiện nay chủ yếu theo chiều rộng (dựa

vào tài ngun, lao động, vốn...) sang mơ hình tăng trưởng hợp lý theo chiều

sâu đến năm 2020 và những năm tiếp theo tăng trưởng chủ yếu theo chiều sâu.

Về định hướng phát triển các ngành: Ưu tiên phát triển mạnh các ngành,

sản phẩm cơng nghiệp, dịch vụ có hàm lượng khoa học công nghệ, giá trị gia

tăng cao; phát triển kinh tế biển, các vùng kinh tế động lực; phấn đấu đến năm

2020 có sản phẩm, lĩnh vực sản xuất đạt trình độ quốc gia và khu vực. Phấn đấu

đến năm 2025, xây dựng Thanh Hóa thành tỉnh có nền công nghiệp, dịch vụ

hiện đại với tốc độ đô thị hóa cao và trở thành một trong những tỉnh có nền kinh

tế nằm trong tốp đầu của cả nước.

Định hướng phát triển kinh tế biển đến 2025, tầm nhìn 2030.

Giai đoạn 2016-2020: Tập trung đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp,

phát triển các vùng sản xuất nông, lâm, thủy sản hàng hóa quy mơ lớn gắn với

chế biến và tiêu thụ sản phẩm; xây dựng thương hiệu sản phẩm nơng, lâm, thủy

sản có lợi thế cạnh tranh của tỉnh. Xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng các khu,

điểm du lịch; ưu tiên thu hút các dự án đầu tư khách sạn tiêu chuẩn 4-5 sao, các

khu resort, khu vui chơi giải trí tại thành phố Sầm Sơn, Khu kinh tế Nghi Sơn

và một số khu du lịch khác trong tỉnh; đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án sân



18



golf tại Quảng Cư để thu hút du khách. Phấn đấu, đến năm 2020 đón được

9.000.000 lượt khách trong đó có 230.000 lượt khách du lịch quốc tế.

Đến năm 2030: Phát triển mạnh kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc

phòng, an ninh. Tập trung đầu tư hạ tầng kinh tế Nghi Sơn. Phát triển các ngành

cơng nghiệp có lợi thế như: Lọc hóa dầu và sau lọc hóa dầu, xi măng, nhiệt

điện, chế biến nông, thủy sản. Đầu tư hệ thống cảng biển để phát triển mạnh

dịch vụ cảng, vận tải biển. Phát triển đa dạng các loại dịch vụ để phát triển

mạnh dịch vụ cảng, vận tải biển. Phát triển các lọai dịch vụ, nhất logicstics,

thương mại, du lịch, ngân hàng, tài chính. Quản lý ngành du lịch Thanh Hóa

phát triển đúng hướng thành một trong những trung tâm du lịch của cả nước về

du lịch nghỉ dưỡng biển và du lịch văn hóa có chất lượng cao, đạt chuẩn quốc

tế. Từng bước xây dựng đảo Mê trở thành cảng trung chuyển cho cảng Nghi

Sơn; từ năm 2025 xây dựng Đảo Mê thành đảo du lịch gắn với bảo vệ quốc

phòng, an ninh trên biển.

4.1.2. Thời cơ và thách thức đặt ra trước quản lý nhà nước về kinh tế

biển của tỉnh Thanh Hoá

4.1.2.1. Thời cơ

Từ nay đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025. Vùng biển và ven biển

Bắc Trung Bộ và dải ven biển miền Trung phát triển có tác động đến nâng cấp

cơ sở hạ tầng khu vực ven biển tỉnh Thanh Hóa. Tỉnh đã ban hành chiến lược

phát triển kinh tế biển với những chính sách đầu tư có hiệu quả cho ngư dân

trang thiết bị máy móc, đóng mới tàu thuyền từ 90CV- 500CV để ngư dân vươn

khơi bám biển khai thác đánh bắt hải sảnvùng đánh bắt chung nhằm tăng sản

lượng, chất lượng, nguồn thủy, hải sản của tỉnh.

Đặc biệt, Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XII) đã đưa ra chủ trương lớn “

Đến năm 2030, phát triển thành công, đột phá về các ngành kinh tế biển “

Trong quá trình quản lý kinh tế biển đã quản lý theo hướng mở, bước đầu

đã hình thành và phát triển 5 cụm khu kinh tế tổng hợp ven biển là các trung

tâm giao lưu kinh tế kết hợp bến cảng bốc dỡ, khu Nghi Sơn, khu du lịch Sầm

Sơn là các trung tâm phát triển kinh tế hướng biển, du lịch biển, đơ thị hóa và

nghiên cứu khoa học về biển,...

Hệ thống thể chế quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển và hải

đảo từ Trung ương xuống địa phương bước đầu đã được thiết lập. Hệ thống

chính sách, pháp luật, các quy phạm về công tác điều tra tài nguyên, quản lý

môi trường biển đã được xây dựng để phục vụ quản lý ngành.

4.1.2.2. Thách thức

Trước hết là nhận thức về vai trò, vị trí của biển và kinh tế biển của các

cấp, các ngành, các địa phương ven biển và người dân còn chưa đầy đủ; quy mơ

kinh tế biển còn nhỏ bé, chưa tương xứng với tiềm năng. Cơ sở hạ tầng các vùng

biển, ven biển và các xã đảo còn yếu kém,

Vốn hỗ trợ cho ngư dân đóng tàu mới đánh bắt gần bờ và xa bờ và nguồn

lực đầu tư còn hạn chế. Các cơ sở nghiên cứu KH-CN biển, đào tạo nguồn nhân

lực chất lượng cao cho kinh tế biển còn hạn chế; các trạm quan trắc, dự báo,

cảnh báo biển, thiên tai biển, các trung tâm tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn,... ở ven

biển còn nhỏ bé, trang bị thơ sơ.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ BIỂN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×