Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 1.1: Công thức hóa học của meloxicam

Hình 1.1: Công thức hóa học của meloxicam

Tải bản đầy đủ - 0trang

Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi

3



− Meloxicam có tính acid yếu, trong mơi trường nước meloxicam có pKa

=4,08 [27].

− Độ ổn định: Meloxicam không bền dưới tác dụng của nhiệt độ, độ ẩm và

ánh sáng. Trong dung dịch, độ bền của meloxicam phụ thuộc vào pH của môi

trường [12].

1.1.3. Dược lý học

1.1.2.1. Dược động học

Meloxicam có sinh khả dụng theo đường uống đạt 89% so với đường tiêm

tĩnh mạch. Thuốc hấp thu kéo dài, nồng độ đỉnh Cmax đạt 4-5 giờ sau khi uống

thuốc, duy trì nồng độ ổn định trong vòng 5 ngày. Nồng độ trong dịch khớp sau khi

uống một liều duy nhất bằng 40%-50% so với nồng độ trong huyết tương.

Meloxicam có thể tích phân bốVd = 10 lít, tỷ lệ liên kết với protein huyết tương là

99,4% (chủ yếu liên kết với albumin huyết tương), qua được hàng rào nhau thai và

sữa mẹ. Meloxicam chuyển hóa gần như hồn tồn tạo bốn chất chuyển hóa khơng

còn hoạt tính. Thuốc bài tiết qua phân và nước tiểu ở dạng đã chuyển hóa, bài tiết

khơng đáng kể qua mật. Độ thanh thải huyết tương 7-9 ml/phút. Thời gian bán thải

của meloxicam khoảng 20 giờ [12], [37].

1.1.2.2. Dược lực học

a. Tác dụng dược lý và cơ chế

Meloxicam là một thuốc chống viêm khơng steroid (NSAID) có nguồn gốc

từ acid enolic,có tác dụng chống viêm do ức chế cyclooxygenase (COX), đây là

các enzym chịu trách nhiệm chuyển acid arachidonic thành prostaglandin H2 -bước

đầu tiên trong quá trình tổng hợp prostaglandin (chất trung gian gây viêm) [40],

[41], [42].

Các nghiên cứu tiền lâm sàng đã chỉ ra rằng meloxicam có hoạt tính kháng

viêm mạnh, ít độc tính với thận và đường tiêu hóa [7]. Trên in vivo, meloxicam có

tác dụng chọn lọc trên COX II gấp 10 lần so với trên COX I, như vậy sự giảm tác

dụng không mong muốn trên đường tiêu hóa của meloxicam là khơng đáng kể,



4



meloxicam khơng được xếp vào nhóm NSAID ức chế chọn lọc trên COX II [30],

[12].

b. Chỉ định và liều dùng

− Viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp:

+ Người lớn: 15 mg mỗi ngày một lần duy nhất. Những bệnh nhân có nguy

cơ gia tăng các tác dụng phụ: ban đầu 7,5 mg.

+ Người cao tuổi: 7,5 mg mỗi ngày, điều trị lâu dài.

− Đợt cấp tính của viêm xương khớp:

+ Người lớn: 7,5 mg hàng ngày tối đa lên tới 15 mg một lần duy nhất.

+ Người cao tuổi: 7,5 mg mỗi ngày.

− Viêm khớp dạng thấp vị thành niên:

+ Trẻ em: ≥ 2 năm: 125 µg/ kg, dùng 1 lần, hàng ngày. Liều tối đa 7,5 mg

mỗi ngày [41], [9], [28].

c. Tác dụng không mong muốn và chống chỉ định

− Tác dụng khơng mong muốn: Khó tiêu, buồn nơn, nơn, táo bón, đầy hơi;

rối loạn cơng thức máu; ngứa, ban da; khởi phát cơn hen; choáng váng, nhức đầu;

phù, tăng huyết áp [39].

− Chống chỉ định: Các trường hợp dị ứng với meloxicam, acid

acetylsalicylic, NSAID, loét dạ dày tá tràng tiến triển, suy gan, suy thận nặng, phụ

nữ có thai, người đang cho con bú [40].

1.1.4. Một số phương pháp định lượng meloxicam

− Chuẩn độ đo acid trong môi trường khan: dùng chất chuẩn độ là acid

percloric 1 N, chuẩn độ trong môi trường anhydrid acetic và anhydrid formic, phát

hiện điểm tương đương bằng đo thế (theo Dược điển Việt Nam IV).

− Sắc ký lỏng hiệu năng cao: pha động là hỗn hợp đệm amoni pH 9,1- MeOH,

pha tĩnh cột Inertsil ODS-3 (4,6 x 250 mm; 5µm), tốc độ dòng 1 ml/phút ( theo

dược điển Mỹ USP 32).



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi

5



1.2. Tổng quan về hệ phân tán rắn

Có khoảng hơn 40% các dược chất được sử dụng phổ biến hiện nay trong

công nghiệp dược phẩm là các hợp chất ít tan trong nước hoặc thân dầu [14]. Theo

nghiên cứu, các dược chất có độ tan dưới 1mg /ml và tốc độ hòa tan dưới 0,1mg cm2



phút -1trong môi trường pH từ 1-8, ở nhiệt độ 370C thường có vấn đề về sinh khả



dụng do q trình hấp thu dược chất từ đường tiêu hóa bị giới hạn bởi độ tan và tốc

độ hòa tan của dược chất [5]. Do đó nhiều phương pháp để tăng sinh khả dụng của

các dược chất ít tan trong nước đã và đang được nghiên cứu, trong đó, tạo hệ phân

tắn rắn là một trong các phương pháp được sử dụng nhiều.

1.2.1. Khái niệm

Hệ phân tán rắn là hệ trong đó một hay nhiều dược chất phân tán trong một

hay nhiều chất mang (carries) hoặc cốt (matrix) trơ về mặt tác dụng dược lý, được

điều chế bằng phương pháp thích hợp [5], [15].

1.2.2. Đặc điểm của hệ phân tán rắn

1.2.2.1. Thành phần, cấu trúc

Thành phần cơ bản của hệ phân tán rắn gồm chất mang (carries) hoặc cốt

(matrix) và dược chất.

− Chất mang (carries) là các polyme tan trong nước hoặc có thể trộn lẫn

với nước như polyethylenglycol (PEG), polyvinylpyrrolidon (PVP)…, các chất có

trọng lượng phân tử thấp như ure, acid citric, mannitol…. Một số chất cốt nền

không tan trong nước cũng được sử dụng như Gelucires,… .

− Dược chất được đưa vào hệ phân tán rắn thường gặp là các chất ít tan

trong nước [5], [15], [34].

Về mặt cấu trúc hóa lý, hệ phân tán rắn có thể là: Hỗn hợp eutecti đơn giản,

dung dịch rắn trong đó dược chất phân tán ở mức độ phân tử trong chất mang

(thường gặp ở các hệ phân tán rắn mà lượng dược chất chiếm tỉ lệ nhỏ trong thành



6



phần của hệ), cấu trúc kép của cả hỗn dịch và dung dịch, hoặc phức hợp giữa dược

chất và chất mang [5].

1.2.2.2. Phân loại

Theo đặc điểm chất mang sử dụng, hệ phân tán rắn được chia thành 3 thế hệ.

− Thế hệ 1: Các hệ phân tán rắn có chất mang ở dạng tinh thể.

− Thế hệ 2: Các hệ phân tán rắn có chất mang là polyme.

− Thế hệ 3: Các hệ phân tán rắn có chất mang là chất diện hoạt, hỗn hợp

polyme hoặc hỗn hợp chất diện hoạt và polyme [7].

1.2.2.3. Ưu nhược điểm của hệ phân tán rắn

a. Ưu điểm của hệ phân tắn rắn

− Tăng độ tan và tốc độ hòa tan của các dược chất ít tan trong nước, do đó

làm tăng hấp thu và tăng sinh khả dụng của các dược chất này.

− Có thể đưa một lượng nhỏ dược chất ở dạng lỏng vào dạng bào chế rắn.

− Giảm hiện tượng chuyển dạng tinh thể.

− Đảm bảo sự phân tán đồng nhất của dược chất.

− Có thể bào chế dạng thuốc giải phóng có kiểm sốt hoặc dạng bào chế giải

phóng kéo dài bằng cách sử dụng các chất mang khác nhau [5], [15], [34].

b. Nhược điểm của hệ phân tán rắn

− Không ổn định về mặt lý hóa: Trong q trình bảo quản hệ phân tán có thể

xảy ra hiện tượng tách pha, hoặc dưới tác dụng của độ ẩm và nhiệt độ, dược chất từ

dạng vơ định hình có thể bị kết tinh tạo lại dạng tinh thể ban đầu bền hơn nhưng ít

tan hơn [5]. Nghiên cứu của Ford & Rubinstein (1981) cho thấy có sự giảm tốc độ

hòa tan của dược chất trong các hệ phân tán clorpropamide-urea trong quá trình bảo

quản [33]. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng độ ổn định của hệ phân tán rắn phụ

thuộc vào chất mang, tỉ lệ dược chất và chất mang có trong hệ và điều kiện bảo

quản [5], [8]. Bên cạnh đó, độ ẩm và nhiệt độ có tác động xấu trên phân tán rắn

nhiều hơn trên hỗn hợp vật lý [8]. Do đó khi đưa dược chất vào hệ phân tán rắn cần

nghiên cứu độ ổn định của hệ theo thời gian và điều kiện bảo quản để chọn các hệ



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi

7



phân tán rắn vừa có khả năng cải thiện độ tan và tốc độ hòa tan của dược chất đồng

thời có độ ổn định cao.

− Khó lựa chọn phương pháp bào chế và điều kiện sản xuất: Khi sử dụng

phương pháp đun chảy việc sử dụng nhiệt độ cao có thể làm phân hủy dược chất

và/hoặc chất mang. Trong phương pháp dung môi, việc sử dụng các dung môi hữu

cơ gây ra nhiều vấn đề đáng lưu ý đối với môi trường và sức khỏe con người [33].

Điều kiện sản xuất cũng ảnh hưởng tới các thông số lý hóa của hệ phân tán

rắn. Nhiều nghiên cứu cho thấy tốc độ gia nhiệt, nhiệt độ lớn nhất sử dụng, thời

gian duy trì nhiệt độ cao, phương pháp làm lạnh và tốc độ và phương pháp nghiền

bột ảnh hưởng tới các đặc tính của hệ phân tán rắn bào chế bằng phương pháp nấu

chảy. Bản chất của dung môi sử dụng, tỉ lệ dung môi/dược chất hoặc chất

mang/dung môi cũng như tốc độ và phương pháp sử dụng để làm bay hơi dung môi

cũng gây những ảnh hưởng đáng kể tới các đặc tính lý hóa của hệ [33], [34], [24],

[21].

− Khó phát triển các dạng bào chế và mở rộng quy mô sản xuất: trở ngại lớn

trong việc phát triển các dạng bào chế rắn sử dụng các dược chất được phân tán

trong hệ phân tán rắn là việc nghiền, rây, trộn và nén khá phức tạp do hệ phân tán

rắn thường mịn và dính [33], [24], [21]. Bên cạnh đó, tốc độ gia nhiệt và làm lạnh

hệ phân tán rắn ở qui mô lớn rất khác so với ở qui mô nhỏ. Đồng thời khi qui mô

sản xuất tăng lên, chi phí sản xuất tăng lên rất nhiều,cùng với đó là những yêu cầu

về xử lý dung mơi, hóa chất với số lượng lớn cũng là thách thức đối với nhà sản

xuất [33].

1.2.2.4. Cơ chế làm tăng độ tan và độ hòa tan của dược chất

Hệ phân tán rắn làm tăng cả độ tan và tốc độ hòa tan của dược chất, mức độ

tăng thay đổi theo từng hệ, phụ thuộc vào loại chất mang sử dụng, tỉ lệ giữa dược

chất và chất mang, phương pháp bào chế hệ phân tán rắn. Cơ chế làm tăng độ tan và

tốc độ hòa tan của dược chất trong hệ phân tán rắn là:

a. Làm giảm kích thước hạt.



8



Theo cơng thức Noyes-Whitney, tốc độ hòa tan và diện tích bề mặt hòa tan

có mối quan hệ tỷ lệ thuận:



Trong đó: dC/dT là tốc độ hòa tan, A là diện tích bề mặt hòa tan, D là hệ số

khuếch tán của dược chất, Cs là độ tan của dược chất trong mơi trường hòa tan, C là

nồng độ dược chất trong mơi trường hòa tan tại thời điểm t, h là chiều dày lớp

khuếch tán.

Hệ phân tán rắn làm giảm kích thước tiểu phân do đó làm tăng diện tích bề

mặt hòa tan và làm tăng tốc độ hòa tan [24].

b. Cải thiện tính sơ nước của dược chất

Nhiều chất mang được sử dụng trong hệ phân tán rắn có đặc tính thấm ướt

như PVP, PEG… có tác dụng làm giảm tính sơ nước của dược chất, giảm hiện

tượng kết tụ [34].

c. Tạo ra các hạt với trạng thái xốp hơn

Các phân tử dược chất trong hệ phân tán rắn có độ xốp cao hơn, phụ thuộc

đặc tính chất mang [34]. Với các dược chất ít tan trong nước, nếu kích thước tiểu

phân quá mịn có thể gây kết tụ và làm khối bột khó thấm ướt. Kỹ thuật bào chế hệ

phân tán rắn được sử dụng để giảm kích thước tiểu phân và giảm sự kết tụ [24].

d. Làm thay đổi trạng thái kết tinh của dược chất

Dược chất ít tan ở trạng thái vơ định hình có tốc độ hòa tan cao hơn dạng kết

tinh do khơng tốn năng lượng để bẻ gẫy các liên kết trong mạng lưới tinh thể [24],

[25], [4], [6]. Hệ phân tán rắn làm tăng tỷ lệ dược chất ở trạng thái vô định hình do

đó làm tăng tốc độ hòa tan [24], [34].

e. Tạo phức dễ tan



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi

9



Ví dụ: Tạo phức với cyclodextrin [5], [17]. Phân tử cyclodextrin có cấu tạo

gồm phần thân nước quay ra phía ngồi và các đầu kỵ nước quay vào phía trong.

Do đó phân tử cyclodextrin có thể tương tác với các phân tử của các chất ít tan có

kích thước thích hợp để tạo thành các phức lồng, giảm sự sơ nước của các phân tử

dược chất ít tan[25]. Một số loại cyclodextrin còn có khả năng làm thay đổi trạng

thái q bão hòa của dung dịch dược chất và làm thay đổi lớp hấp thụ ở bề mặt tinh

thể, ngăn cản quá trình tạo dạng kết tinh của dược chất ít tan (là dạng có độ tan kém

hơn dạng vơ định hình) [26].



1.2.3. Một số phương pháp bào chế hệ phân tán rắn

1.2.3.1. Phương pháp bay hơi dung môi

− Nguyên tắc: Tạo một dung dịch chứa đồng thời cả dược chất và chất mang.

Trường hợp dược chất và chất mang không đồng tan trong một dung mơi thì có thể

dung 2 dung mơi khác nhau để hòa tan dược chất và chất mang rồi phối hợp, khuấy

trộn. Loại dung môi để thu được hỗn hợp rắn [5], [15], [34], [14], [39].

− Các cách để loại dung môi:

+ Cho dung môi bay hơi ở nhiệt độ phòng, kết hợp với thổi khí để dung

môi bay hơi nhanh hơn hoặc bốc hơi dung môi bằng cách đun cách thủy.

+ Bốc hơi dung môi dưới áp suất giảm bằng máy cất quay hoặc tủ sấy

chân không ở nhiệt độ thấp khoảng 500C.

+ Phun sấy ở nhiệt độ thích hợp.

+ Loại dung mơi bằng phương pháp đơng khơ bằng các máy đơng khơ

thích hợp [5].

Bản chất dung môi, tốc độ và nhiệt độ bay hơi dung môi là các yếu tố ảnh

hưởng tới sự tạo thành sản phẩm [34], [14].

− Ưu điểm: Hạn chế được sự phân hủy dược chất, chất mang do quá trình bay

hơi dung môi tiến hành ở nhiệt độ thấp. Một số polyme có nhiệt độ nóng chảy cao



10



khơng thích hợp với phương pháp đun chảy có thể sử dụng làm chất mang trong

phương pháp này [5], [34], [14].

− Nhược điểm: Thường sử dụng dung mơi hữu cơ để hòa tan và phân tán dược

chất và chất mang nên có khả năng gây độc với con người và mơi trường xung

quanh; khó chọn dung mơi, q trình bay hơi dung mơi kéo dài; giá thành cao [5],

[15], [34], [14], [39].

− Các yêu cầu về dung môi sử dụng:

Dung môi sử dụng cần hòa tan được cả dược chất và chất mang, hạn chế sử

dụng dung mơi độc hại vì nguy cơ gây độc nếu dung mơi khơng được loại bỏ hồn

tồn khỏi hệ phân tán rắn tạo thành.

Cần lưu ý khi sử dụng chất diện hoạt để tăng khả năng hòa tan dược chất

trong dung mơi vì chúng có thể làm giảm nhiệt độ chuyển hóa thủy tinh [20].

1.2.3.2. Phương pháp đun chảy

Áp dụng khi chất mang có nhiệt độ nóng chảy tương đối thấp.

− Nguyên tắc: Đun chảy chất mang rồi phối hợp dược chất vào chất mang đã

đun chảy ở nhiệt độ thích hợp, khuấy trộn tới khi thu được dung dịch đồng nhất, sau

đó làm lạnh bằng nước đá, đồng thời vẫn khuấy trộn tiếp tục tới khi hệ đông rắn lại.

Cuối cùng đem nghiền nhỏ và rây lấy các hạt có kích thước xác định [5], [15], [34],

[14], [39].

− Ưu điểm: Đơn giản, chi phí rẻ [5], [15].

− Nhược điểm :

+ Chỉ áp dụng khi dược chất và chất mang tương thích và có khả năng trộn

đều ở nhiệt độ nóng chảy. Khi dược chất và chất mang thuộc 2 pha lỏng khó trộn

lẫn hoặc ở dạng hỗn dịch thì sẽ tạo ra hệ mà trong đó chất rắn phân tán khơng đồng

nhất. Trong trường hợp này có thể khắc phục bằng cách sử dụng chất diện hoạt

[27], [37].



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi

11



+ Nhiều chất (cả dược chất và chất mang) bị phân hủy ở nhiệt độ cao. Có thể

khắc phục hiện tượng này bằng cách đun nóng trong chân khơng hoặc dưới dòng

khí trơ (ví dụ: N2) để hạn chế sự oxy hóa dược chất và chất mang [27], [37].

+ Trong q trình làm lạnh có thể xảy ra hiện tượng tách pha. Khi hỗn hợp

được làm lạnh chậm có thể xuất hiện các tinh thể dược chất, trong khi nếu làm lạnh

nhanh sẽ tạo dạng vơ định hình của dược chất phân tán trong chất mang [27], [37].

1.2.3.3. Một số phương pháp khác

Một số phương pháp khác được sử dụng để chế tạo hệ phân tán rắn: Phương

pháp điện quay, phương pháp sử dụng chất lỏng siêu tới hạn, phương pháp nhào,

phương pháp xay ướt... [15], [16].

1.2.4. Một số chất mang sử dụng trong hệ phân tán rắn

Yêu cầu của chất mang sử dụng trong hệ phân tán rắn là: Khơng có tác dụng

dược lý riêng, khơng độc hại; điểm nóng chảy khơng cao hơn nhiều hơn so với

dược chất; ổn định nhiệt ở nhiệt độ cao; áp suất hơi thấp; trọng lượng phân tử lớn;

dễ tan trong nước và trong các dịch tiêu hóa, dễ tan trong dung môi hữu cơ, dễ loại

dung môi cả khi dung dịch có độ nhớt cao [14], [38], [8], [23].

Một số chất mang thường được sử dụng là:

− Polyethylenglycol (PEG): Polyethylenglycol là polyme của ethylene oxid,

trọng lượng phân tử từ 200 – 300000. Ưu điểm nổi bật của các PEG là tan tốt trong

nước (độ tan giảm khi tăng khối lượng phân tử), tan tốt trong nhiều dung mơi hữu

cơ. Các PEG có nhiệt độ nóng chảy dưới 650C, điều này thuận lợi cho việc sử dụng

phương pháp nấu chảy. Các PEG có trọng lượng phân tử từ 4000 – 6000 được sử

dụng phổ biến nhất do khả năng tan tốt trong nước, ít hút ẩm, nhiệt độ nóng chảy

dưới 500C. Nếu sử dụng PEG có trọng lượng phân tử q thấp thì sẽ gây nhớt dính,

khó tạo sản phẩm. Một số PEG có trọng lượng phân tử cao hơn cũng đã được sử

dụng thành công nhưPEG 8000, PEG 10000. Ngồi ra có thể phối hợp các PEG có



12



trọng lượng phân tử khác nhau để điều chỉnh thể chất của hệ để phù hợp với dạng

thuốc dự kiến [5], [34], [32], [38].

− Polyvinylpyrolidon (PVP): Polyvinylpyrolidon là sản phẩm trùng hợp của

vinylpyrolidon, trọng lượng phân tử từ 2500 – 3000000. PVP có khả năng hòa tan

tốt trong nhiều dung mơi hữu cơ, thích hợp để tạo hệ phân tán rắn bằng phương

pháp dung mơi. Các PVP có khả năng tan tốt trong nước, làm tăng tính thấm nước

của các dược chất phân tán do đó làm tăng tốc độ hòa tan của các dược chất này.

Chiều dài mạch PVP ảnh hưởng đáng kể tới tốc độ hòa tan dược chất từ hệ phân tán

rắn. Mạch PVP càng dài khả năng hòa tan trong nước càng giảm, độ nhớt giảm.

Nhược điểm lớn của PVP là khả năng hút ẩm rất mạnh [5], [34], [32].

1.2.5. Một số phương pháp đánh giá đặc tính của hệ phân tán rắn

− Phương pháp đo nhiệt lượng vi sai quét (Difirential Scanning Calorimetry DSC): DSC là kỹ thuật đo nhiệt lượng thoát ra hoặc đi vào mẫu như một hàm của

thời gian. Tinh thể có thể được xác định bằng cách xác định nhiệt lượng liên quan

tới q trình nóng chảy của mẫu. Khi nhiệt độ tăng tới một giá trị nào đó, mẫu đạt

tới nhiệt độ nóng chảy, q trình nóng chảy dẫn tới kết quả tạo ra 1 pic cao trên

đường cong DSC. Sự có mặt hay khơng có mặt của pic này cho phép đánh giá sự

thay đổi trong trạng thái kết tinh của chất [34].

− Phương pháp nhiễu xạ tia X: Phương pháp nhiễu xạ tia X dùng để phát hiện

trạng thái kết tinh trong hỗn hợp. Trên phổ nhiễu xạ tia X, phần kết tinh tạo ra các

pic nhiễu xạ hẹp và nhọn, phần vơ định hình làm cho pic rộng ra. Tỷ lệ giữa các

cường độ này được sử dụng để tính tốn tỷ lệ kết tinh trong mẫu [34].

− Phương pháp quang phổ hồng ngoại: Quang phổ hồng ngoại cung cấp thông

tin về cấu trúc và cấu tạo nguyên tử ở trạng thái rắn bằng cách nghiên cứu sự

chuyển động của các phân tử. Phương pháp này cho phép xác định tính chất đa hình

vì các liên kết hydro thường khác nhau giữa các dạng và các nhóm chức năng. Hạn

chế lớn của phương pháp này là chi phí cao và có thể khơng phát hiện được nếu

mẫu có mức độ kết tinh dưới 5-10%. Kích thước mẫu yêu cầu khoảng 2-20 mg[31],

[34], [35].



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi

13



− Phương pháp kính hiển vi điện tử quét (Scanning Electron Microscope SEM): SEM được sử dụng để nghiên cứu các hình thái của dược chất và trạng thái

đa hình của dược chất [31], [35]. Kích thước mẫu yêu cầu khoảng 2 mg [35].

Một số phương pháp khác:







Bảng 1.1: Một số phương pháp đánh giá đặc điểm hệ phân tán rắn [13]

Phương pháp

Cộng hưởng từ



Mục đích

Xác định mức độ phân tán đồng đều giữa dược chất

và chất mang



Phổ tán xạ



Xác định tương tác giữa dược chất và chất mang



Kính hiển vi điện



Xác định cấu trúc vật lý



tử quét

Kính hiển vi phân Xác định tỷ lệ dạng vơ định hình

cực

Chuẩn độ đẳng



Xác định độ kết tinh



nhiệt

1.3. Một số nghiên cứu về hệ phân tán rắn chứa meloxicam

El-Badry M. (2011) đã bào chế HPTR chứa meloxicam (MX) và Gelucire

50/13 với các tỷ lệ khác nhau (1:1, 1:2, 1:4) bằng kỹ thuật phun sấy và đánh giá đặc

điểm của hệ bằng phương pháp kính hiển vi điện tử quét (SEM), phân tích nhiệt vi

sai (DSC) và nhiễu xạ tia X (XRD). Các nghiên cứu về độ hòa tan cũng được thực

hiện để so sánh các đặc tính của HPTR với dược chất tinh khiết và HHVL. Ngoài

ra, tác dụng chống viêm của các vi hạt trên mơ hình chân chuột phù nề cũng được

nghiên cứu. Kết quả SEM cho thấy vi hạt phun sấy của HPTR MX: Gelucire 50/13

(1:1) là những hạt cầu nhỏ đồng nhất, có bề mặt nhẵn và tồn tại ở trạng thái vơ định

hình, trong khi vi hạt sấy phun của HPTR MX: Gelucire 50/13 tỷ lệ 1:4 là các hạt

hình cầu lớn hơn với bề mặt thơ hơn. Kết quả DSC cho thấy MX có một đỉnh thu

nhiệt ở 2620C tương ứng với nhiệt độ nóng chảy của nó, còn Gelucire 50/13 có một



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 1.1: Công thức hóa học của meloxicam

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×