Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Khả năng giải phóng của vi cầu alginat có thể được cải thiện bằng cách phối hợp thêm chitosan hoặc kéo dài thời gian ngâm vi cầu. Với mong muốn cải thiện khả năng kiểm soát giải phóng của mẫu vi cầu FM2, tiến hành khảo sát ảnh hưởng của nồng độ chitos...

Khả năng giải phóng của vi cầu alginat có thể được cải thiện bằng cách phối hợp thêm chitosan hoặc kéo dài thời gian ngâm vi cầu. Với mong muốn cải thiện khả năng kiểm soát giải phóng của mẫu vi cầu FM2, tiến hành khảo sát ảnh hưởng của nồng độ chitos...

Tải bản đầy đủ - 0trang

Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi

40



Bảng 3.16. Thành phần môi trường nhỏ giọtvà thời gian ngâm của các mẫu vi cầu.

Thành phần MT nhỏ giọt

Mẫu

VC



Nồng độ calci

clorid (kl/tt)



Nồng độ chitosan

(kl/tt)



Thời

gian

ngâm

(giờ)



5%



0,33%



0,67%



0,80%



FM2



+



-



-



-



0,5



FCo



+



-



-



-



1



FC1



+



+



-



-



1



FC2



+



-



+



-



1



FC3



+



-



-



+



1



FH1



+



-



-



+



3



FH2



+



-



-



+



5



Ghi chú: “+” có ; “ - ” khơng

Tính chất và kích thước của các mẫu vi cầu(bảng 3.17)



-



Bảng 3.17. Tính chất và kích thước của các mẫu vi cầu có mơi trường nhỏ giọt và

thời gian ngâm khác nhau

Mẫu

VC



Hình

dạng



Phân bố kích thước tiểu phân (%)



Hình thái

bề mặt



Màu sắc



0,8 – 1

mm



1 – 1,2

mm



1,2 – 1,4

mm



>1,4



FM2 Gần cầu



0



0



45,21



55,79



Xù xì



Trắng



Fco



Gần cầu



0



4,50



46,32



49,18



Xù xì



Trắng



FC1



Cầu



3,10



88,46



8,44



0



Nhẵn hơn



Vàng nhạt



FC2



Cầu



3,25



89,46



7,29



0



Nhẵn hơn



Vàng nhạt



FC3



Cầu



3,68



89,76



7,26



0



Nhẵn hơn



Vàng nhạt



FH1



Cầu



88,74



4,02



7,24



0



Nhẵn hơn



Vàng nhạt



mm



41



FH2



Cầu



89,25



5,11



5,64



0



Nhẵn hơn



Vàng nhạt



Nhận xét:

- Các mẫu được bao chitosan có màu vàng do màu của chitosan bao bên ngoài.

- Khi được bao thêm chitosan một số đặc tính của vi cầu được cải thiện như: vi cầu

có hình cầu hơn, bề mặt nhẵn hơn, kích thước tiểu phân nhỏ hơn và phân bố đồng

đều hơn so với các mẫu không được bao chitosan.

- Khi kéo dài thời gian ngâm: kích thước tiểu phân cũng giảm đáng kể: mẫu FC3 có

kích thước tập trung trong khoảng 1 -1,2 mm, FH1 và FH2 có kích thước tập trung

trong khoảng 0,8 – 1 mm, FCo có kích thước tiểu phân nhỏ hơn so vơi FM2 nhưng

mức độ chênh lệch khơng nhiều có thể do thời gian ngâm của chúng khơng khác

nhau nhiều.



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi

42



A1



B1



A2



B2



C1



C2



Hình 3.6. Hình ảnh của các mẫu vi cầu bào chế

A. Mẫu vi cầu FCo, B. Mẫu vi cầu FC3, C. Mẫu vi cầu FH1

1. Hình ảnh chụp SEM, 2. Hình ảnh kĩ thuật số



43



Hình ảnh chụp SEM (×60) và máy ảnh Canon eos (1795×1181) cho thấy:

- Các mẫu có chitosan đã cải thiện rõ rệt hình thái bề mặt của vi cầu: bề mặt nhẵn

hơn so với mẫu khơng có chitosan thể hiện ở hình 3.6.A1. và 3.6.B1.

- Với cùng nồng độ chitosan khi tăng thời gian ngâm bề mặt vi cầu cũng được cải

thiện đáng kể thể hiện ở hình 3.6.A1 và 3.6.C1.

- Các mẫu được bao chitosan có màu vàng, kích thước nhỏ và hình cầu hơn các mẫu

khơng có chitosan ở hình 3.6.A2 và 3.6.B2.

- Kích thước tiểu phân của FH1 nhỏ hơn kích thước tiểu phân của FC3 ở hình

3.6.B2 và 3.6.C2.

Các kết quả thu được có thể được giải thích do:

+ Các nhóm điện tích dương trên phân tử chitosan đã trung hòa một phần các nhóm

điện tích âm trên phân tử Carbopol, làm hạn chế khả năng trương nở của nó dưới tác

động của magnesi carbonat do đó cải thiện được đặc tính bề mặt và kích thước VC.

+ Khi tăng thời gian ngâm kích thước VC giảm đáng kể. Do mật độ liên kết chéo

càng cao các chuỗi polyme càng được xếp sít nhau hơn, dẫn đến VC bị co ngót

nhiều hơn, làm kích thước tiểu phân giảm.

-



Hiệu suất tạo vi cầu, tỷ lệ vi cầu hóa và một số đặc tính của vi cầu (bảng 3.18)



Bảng 3.18. Hiệu suất tạo vi cầu, tỷ lệ vi cầu hóa và một số đặc tính của các mẫu vi

cầucó mơi trường nhỏ giọt và thời gian ngâm khác nhau

Mẫu

VC



MKLDSK



H



C



Tỷ lệVCH



%



(%)



(%)



(%)



Chỉ số

Carr

(%)



Tỷ

trọng

BK



FM2



2,95



86,64



34,62



65,98



6,45



0,60



FCo



2,15



86,56



30,26



57,62



6,43



0,60



FC1



1,89



87,35



40,23



77,31



5,92



0,75



FC2



1,58



87,46



41,03



78,94



5,84



0,75



FC3



1,43



87,34



41,13



79,03



5,86



0,78



FH1



1,05



87,32



41,15



79,05



5,43



0,82



FH2



1,06



87,34



41,14



79,04



5,46



0,83



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi

44



• Ảnh hưởng của nồng độ chitosan:

Kết quả từ bảng 3.18 cho thấy:

+Hàm lượng dược chất trong VC: tăng ở các mẫu có bao chitosan: FC1 (40,23%),

FC2(41,03%), FC3 (41,03%) cao hơn mẫu FCo (30,26%), cao hơn cả FM2 có thời

gian ngâm ngắn hơn.

Nguyên nhân do độ nhớt của môi trường nhỏ giọt lớn nên hạn chế sự khuếch tán

dược chất, thứ 2 do bản thân chitosan là 1 polyme cation khi tiếp xúc với 1 polyme

anion là natri alginat, sẽ xảy ra phản ứng tạo thành phức hợp alginat – chitosan trên

bề mặt VC, phức hợp này sẽ hạn chế sự khuếch tán dược chất ra ngồi mơi trường

nhỏ giọt từ đó làm tăng tỷ lệ VCH. Do đó có thể cải thiện khả năng KSGP của mẫu

VC có chitosan theo hướng tăng thời gian ngâm VC.

+Hiệu suất tạo vi cầu: khi nồng độ chitosan tăng hiệu suất tạo vi cầu tăng có thể là

do lượng dược chất khuếch tán ra ngồi mơi trường bị hạn chế hơn. Tuy nhiên, khi

nồng độ chitosan tăng lên đến 0,8% (kl/tt) thì hiệu suất tạo vi cầu lại giảm xuống vì:

độ nhớt của mơi trường nhỏ giọt lớn làm vi cầu bị dính.

+ Khi phối hợp thêm chitosan vi cầu thu được còn có một số ưu điểm sau: tỷ trọng

được cải thiện đáng kể, tỷ trọng của mẫu VC FC3 là 0,78. Đặc tính trơn chảy cũng

tốt hơn do vi cầu có hình cầu hơn, bề mặt nhẵn hơn.

• Ảnh hưởng của thời gian ngâm: kết quả từ bảng 3.18 cho thấy:

+ Đối với mẫu khơng có chitosan: khi tăng thời gian ngâm tỷ lệ VCH giảm đáng kể

từ 65,19% còn 57,62%. Do khi tăng thời gian ngâm dược chất trong VC sẽ khuếch

tán nhiều ra ngồi mơi trường nhỏ giọt làm giảm hàm lượng dược chất trong VC từ

đó làm giảm tỷ lệ VCH. Vì vậy, việc tiếp tục kéo dài thời gian ngâm để kiểm sốt

giải phóng tốt hơn đối với mẫu VC này có thể là khơng khả thi.

+ Đối với mẫu có chitosan: Thời gian ngâm vi cầu ít ảnh hưởng tới các thông số

như hiệu suất tạo vi cầu, tỷ lệ vi cầu hóa và khả năng trơn chảy của vi cầu.Tỷ trọng

các mẫu VC FH1 và FH2 tăng lên so với mẫu FC3 do kích thước tiểu phân giảm.



45



+ Nhận thấy, do tỷ trọng BK của FH1 và FH2 đều cao hơn 0,8, hàm lượng dược

chất trong VC của 2 mẫu đều trên 41% do đó 2 mẫu này có thể đóng vào nang số 0

để được viên nang có hàm lượng 200mg ACV.

-



Khả năng trương nở của các mẫu vi cầu

• Ảnh hưởng của nồng độ chitosan

Kết quả đánh giá khả năng trương nở của các mẫu vi cầu được ngâm trong

dung dịch chitosan có nồng độ khác nhau được thể hiện trong bảng 3.19



Bảng 3.19. Khả năng trương nở của các mẫu vi cầu được ngâm trong dung dịch chitosan

Mức độ trương nở (n = 3)



Mẫu

VC



MT acid hydroclorid 0,1N



MT đệm phosphat pH 6,8



Tỷ lệ trương

nở (lần)



Mức độ cải thiện



Tỷ lệ trương

nở (lần)



Mức độ cải thiện



FCo



2,23



100%



8,29



100%



FC1



2,63



117,94%



8,95



107,96%



FC2



2,71



121,52%



10,89



131,36%



FC3



2,81



126,00%



12,47



150,42%



Hình 3.7. Đồ thị thể hiện khả năng trương nở của các mẫu vi cầu được

ngâm trong dung dịch chitosan



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi

46



Kết quả từ bảng 3.19 và hình 3.7 cho thấy:

+ Trong mơi trường acid:khi được phối hợp thêm chitosan khả năng trương nở của

VC tăng lên: mẫu FC3 trương nở cao hơn 26% so với FCo. Kết quả tương tự cũng

được ghi nhận trong nghiên cứu củaRajendran A. cho thấy chitosan cải thiện khả

năng trương nở trong MT acid của vi cầu alginat – calci [35].

Tuy vậy,không thấy sự khác nhau nhiều về khả năng trương nở giữa các mẫu

VC được ngâm trong dung dịch có nồng độ chitosan khác nhau.

+ Trong môi trường đệm phosphat 6,8: các mẫu vi cầu FC1, FC2, FC3 thể hiện khả

năng trương nở tốt hơn so với FCo: FC3 trương nở mạnh hơn FCo khoảng 50%.

Tuy nhiên, trong 1 nghiên cứu của Rajendran A. lại cho thấy chitosan làm giảm khả

năng trương nở của VC trong môi trường pH 6,8 [35]. Về mặt lý thuyết ở pH trên 5,

độ tan của chitosan kém nên hạn chế về khả năng trương nở, tuy nhiên trong nghiên

cứu này ngoài thành phần alginat và chitosan còn có Carbopol và magnesi carbonat,

sự có mặt của 2 thành phần này tạo ra sự khác biệt với nghiên cứu của Rajendran A.

thể hiện:

+ Đối với mẫu FCo khi thử trong môi trường đệm sau khoảng 40 phút thử thấy cốc

thử bị đục, do VC bị rã ra, làm giảm khối lượng của VC.

+ Những mẫu có thêm chitosan thì hiện tượng trên bị hạn chế (mẫu FC1 cũng bị rã

ra nhưng ít hơn, đối với mẫu FC2 và FC3 khơng thấy cốc bị đục)=> do đó khi có

mặt chitosan khối lượng của VC sau khi ngâm trong mơi trường đệm sẽ cao hơn

mẫu khơng có chitosan.

+ Khi tăng nồng độ chitosan khả năng trương nở của VC cũng tăng: mẫu FC3

trương nở cao hơn FC1 khoảng 39,32% có thể là do VC bị mất khối lượng ít hơn.

• Ảnh hưởng của thời gian ngâm

Khả năng trương nở của các mẫu vi cầu có chitosan và khơng có chitosan có thời

gian ngâm khác nhau được thể hiện trong bảng 3.20 và hình 3.8



47



Bảng 3.20. Khả năng trương nở của các mẫu vi cầu có thời gian ngâm khác nhau



Hình 3.8. Đồ thị thể hiện khả năng trương nở của các mẫu vi cầu có thời gian

ngâm khác nhau

Nhận xét:

- Đối với mẫu vi cầu khơng có chitosan: FM2 và FCo đều khơng có sự chênh lệch

nhiều về khả năng trương nở trong cả 2 môi trường acid hydroclorid 0,1N và đệm

phosphat pH 6,8.

- Đối với các mẫu có cùng nồng độ chitosan:

+ Trong mơi trường acid:



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi

48



Khi tăng thời gian ngâm từ 1giờ lên 3 giờ: khả năng trương nở giảm đáng kể .

Nguyên nhân là khi tăng thời gian ngâm vi cầu phản ứng tạo liên kết chéo xảy ra

với mức độ nhiều hơn, ion Ca++ xâm nhập vào sâu bên trong cấu trúc vi cầu tạo

thành phần calci alginat không tan nhiều hơn. Tuy nhiên khi tiếp tục tăng thời gian

ngâm vi cầu lên 5 giờ thì khả năng trương nở lại khơng thay đổi nhiều so với mẫu 3

giờ. Có thể là do phản ứng giữa ion Ca++ và natri alginat đã ở mức bão hòa nên dù

có tăng thời gian ngâm thì phản ứng cũng khơng thể xảy ra thêm nữa.

+ Trong môi trường đệm:

Từ kết quả trên cho thấy khi tăng thời gian ngâm vi cầu thì khả năng trương nở

trong mơi trường đệm tốt hơn có thể là do khi tăng thời gian ngâm phần calci

alginat tạo ra nhiều hơn, cấu trúc VC co ngót, hàm lượng nước trong VC ít hơn, khi

cho vào mơi trường đệm pH 6,8, xảy ra sự trao đổi ion làm cấu trúc khung giãn ra

làm trương nở tốt hơn.

-



Khả năng giải phóng dược chất



Bảng 3.21. Phần trăm acyclovir giải phóng từ mẫu vi cầu có mơi trường nhỏ giọt và

thời gian ngâm khác nhau

Mẫu

VC



Phần trăm ACV giải phóng tại các thời điểm khác nhau (n = 3)



FM2



51,11 ± 88,52 ± 96,23 ± 101,04

1,03

1,15

1,54

± 3,21



0,5 giờ



1 giờ



2 giờ



3 giờ



4 giờ



5 giờ



6 giờ



102,01

± 3,52



102,01

± 3,00



101,65

± 3,21



FCo



50,22 ± 84,98 ± 94,23 ± 97,00 ± 100,24

1,17

1,66

2,13

3.02

± 3,61



100,19

± 2,43



101,03

± 3,11



FC1



46,16 ± 80,22 ± 86,94 ± 89,64 ± 93,25 ± 96,27 ± 100,15

1,24

2,01

1,68

2,79

2,16

2,30

± 3,21



FC2



40,24 ± 77,00 ± 84,87 ± 87,83 ± 91,65 ± 93,52 ± 98,74

1,08

1,23

0,80

2,25

1,78

2,11

± 2,84



FC3



33,73 ± 72,22 ± 80,87 ± 85,74 ± 91,53 ± 93,66 ± 99,01

0,72

1,17

1,20

2,10

2,29

2,48

± 3,07



FH1



23,14 ± 60,48 ± 70,31 ± 75,08 ± 80,71 ± 87,08 ± 90,72

1,00

1,26

1,38

0,69

2,33

3,10

± 2,74



49



FH2



24,63 ± 61,97 ± 70,33 ± 74,02 ± 79,67 ± 86,13 ± 90,18

1,10

1,05

1,25

1,46

1,98

2,76

± 2,90



Hình 3.9. Đồ thị thể hiện khả năng giải phóng dược chất từ các mẫu có nồng độ

chitosan khác nhau

• Ảnh hưởng của nồng độ chitosan

Ảnh hưởng của nồng độ chitosan tới khả năng giải phóng dược chất được thể hiện

trong bảng 3.21 và hình 3.9

Khi tăng nồng độ chitosan thì khả năng KSGP tốt hơn thể hiện rõ trong 3 giờ

đầu và kéo dài trên 6 giờ. Nồng độ chitosan càng cao giải phóng dược chất càng

kéo dài: FCo giải phóng hết sau 4 giờ, sau 6 giờFC1 giải phóng hết, FC2 giải phóng

được 98,74%, FC3 giải phóng được 99,01%

Nguyên nhân là do trong mơi trường acid tồn bộ ion Ca++ trong hệ cốt Ca –

alginat sẽ bị thay thế hoàn tồn bằng ion H+ của mơi trường, làm giảm độ bền của



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi

50



gel, do đó khả năng kiểm soát sự khuếch tán dược chất bị hạn chế. Đối với các mẫu

cóchitosan, do hình thành lớp phức hợp alginat – chitosan bao quanh bề mặt VC,

nồng độ chitosan càng cao, lớp phức hợp được hình thành càng đặc khít, sự khuếch

tán dược chất càng bị cản trở nhiều hơn.

• Ảnh hưởng của thời gian ngâm



Hình 3.10. Đồ thị thể hiện khả năng giải phóng dược chất từ các mẫu vi cầu có thời

gian ngâm khác nhau

Nhận xét:

Kết quả từ bảng 3.21 khi tăng thời gian ngâm vi cầu khả năng KSGP tốt hơn đối với

cả mẫu có chitosan và khơng có chitosan:

- Đối với mẫu khơng có chitosan: FM2 chỉ kéo dài giải phóng đến 3 giờ, trong khi

FCo có thể kéo dài đến 4 giờ.

- Đối với mẫu có chitosan: thể hiện ở bảng 3.21 và hình 3.10

Mẫu vi cầu 3 giờ đã cải thiện đáng kể khả năng kiểm sốt giải phóng của vi cầu: sau

2 giờ FC3 giải phóng được 80,87%, còn FH1 giải phóng được 70,31%. FH1 và FH2

khơng có sự chênh lệch nhiều.

Các kết quả thu được do khi tăng thời gian ngâm phản ứng giữa alginat và

chitosan xảy ra nhiều hơn, ion Ca++ cũng có thể thâm nhập sâu vào bên trong VC



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Khả năng giải phóng của vi cầu alginat có thể được cải thiện bằng cách phối hợp thêm chitosan hoặc kéo dài thời gian ngâm vi cầu. Với mong muốn cải thiện khả năng kiểm soát giải phóng của mẫu vi cầu FM2, tiến hành khảo sát ảnh hưởng của nồng độ chitos...

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×