Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
vàkhông có kết hợp alginat và sữa gầy

vàkhông có kết hợp alginat và sữa gầy

Tải bản đầy đủ - 0trang

Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi

29



Nuôi cấy vi sinh vật trong môi trường MRS trong 24h (theo phương pháp nêu

trong mục 2.3.2.)

Chuẩn bị các dung dịch tá dược gồm có: dung dịch sữa gầy 10%, dung dịch sữa gầy

20% (kl/tt), các dung dịch alginat có nồng độ 1%, 2%, 5% (kl/tt) (pha dung dịch,

hấp tiệt khuẩn ở 115oC/ 20 phút, để nguội xuống khoảng 37 ÷ 40oC)

Trộn sinh khối li tâm được với các mẫu dung dịch tá dược bảo vệ vừa chuẩn bị ở

trên. Đồng nhất hóa trên máy lắc Vortex.

Đông khô các mẫu thu được (theo phương pháp nêu trong mục 2.3.3.)

Tháo các mẫu ra khỏi thiết bị đông khô, đo hàm ẩm (theo phương pháp nêu ở

mục 2.3.4.), tiến hành xác định số lượng vi sinh vật có trong 1g nguyên liệu thu

được (Theo phương pháp pha loãng liên tục nêu trong mục 2.3.5.).

 Kết quả và nhận xét

 Về thể chất

Cả 4 mẫu đều tạo ra bột nguyên liệu có thể chất đồng nhất, tơi xốp, khơ, màu

đậm dần theo nồng độ alginat có trong mẫu.

Như vậy việc thay đổi nồng độ alginat từ 1÷ 5% không làm ảnh hưởng đến

thể chất của các mẫu.

 Hàm ẩm

Bảng 3.4.Kết quả đo hàm ẩm của các mẫu đông khô với tá dược bảo vệ là hỗn hợp

sữa gầy với alginat các nồng độ

Tá dược

Thời gian



Nồng độ alginat bổ sung (%)

0



1



2



5



0h



2,47 ÷ 3,12



2,67 ÷ 3,54



3,09 ÷ 4,17



3,15 ÷ 4,21



Sau 2 ngày



2,69 ÷ 4,16



2,87 ÷ 3,92



3,37 ÷ 4,56



3,45 ÷ 4,78



Sau 1 tuần



2,81 ÷ 4,21



3,12 ÷ 4,35



3,62 ÷ 4,91



3,89÷ 5,18



Sau 2 tuần



2,90 ÷ 4,27



3,28 ÷ 4,74



3,85 ÷ 5,04



4,01÷ 5,37



30



Hàm ẩm của các mẫu ngay sau đơng khơ có kết hợp sữa gầy 20% và alginat

1%, 2%, 5% đạt từ: 2,69% ÷ 4,21% giá trị này gần tương đương với hàm ẩm của

mẫu đông khô vi sinh vật với tá dược là sữa gầy 10% (hàm ẩm từ 2,47% ÷ 3,12%),

và đạt tiêu chuẩn hàm ẩm của dạng thuốc bột. Hàm ẩm sau thời gian bảo quản trong

túi polyme kín của các mẫu này vào khoảng 3,85 ÷ 5,37% trong khi mẫu đơng khơ

với sữa gầy 10% có hàm ẩm 2,90 ÷ 4,27%.

Như vậy xét về thể chất và hàm ẩm thì khi kết hợp alginat và sữa gầy 10%

thì nguyên liệu tạo thành có thể chất và hàm ẩm tương đương với mẫu đông khô chỉ

sử dụng sữa gầy, nhưng tỉ lệ alginat càng cao thì chế phẩm có màu càng đậm và

hàm ẩm cũng lớn hơn so với mẫu có hàm lượng alginat thấp (tuy nhiên sự thay đổi

về hàm ẩm giữa 3 mẫu này là không đáng kể).

 Về số lượng vi sinh vật Lactobacillus acidophilus sống sót.

Số lượng vi sinh vật sống sót được nêu trong bảng3.5.cho thấy tuy mẫu kết

hợp alginat 2% với dung dịch sữa gầy 10% cho tỉ lệ sống cao nhất 22,94 x

108cfu/gso với 16,94 x 108 cfu/gcủa mẫu đông khô với sữa gầy và 17,82 x 108cfu/g;

17,89 x 108cfu/g của 2 mẫu chứa 1% và 5% alginat. Tuy nhiên số lượng sống sót

trong mẫu đơng khơ khơng có sự khác nhau nhiều (cả 4 mẫu đều chứa khoảng 109

VSV/1g).

Số lượng VSV sống sót được thể hiện trong bảng sau:

Bảng 3.5.Số lượng vi sinh vật sống sót tính trên 1g bột sau đơng khơtrong

các mẫu đông khô sử dụng kết hợp alginat và sữa gầy.

Nồng độ alginat bổ sung (%)

0



1



2



5



Lần 1



8,51 x 108



14,50 x 108



29,40 x 108



23,92 x 108



Lần 2



21,89x 108



9,05x 108



34,52x 108



27,84x 108



Lần 3



20,42x 108



29,91x 108



4,90x 108



1,29x 108



Trung bình



16,94 x 108



17,82 x 108



22,94 x 108



17,89 x 108



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi

31



Như vậy khi kết hợp với sữa gầy 10% để đông khô, natri alginat thể hiện rất

ít khả năng gia tăng tỉ lệ sống sót trên Lactobacillus acidophilus. Nguyên nhân có

thể do tỉ lệ natri alginat sử dụng khá thấp, hơn nữa như ở thí nghiệm 3.1.3 ta thấy

tác dụng bảo vệ vi sinh vật của alginat nhỏ hơn khá nhiều so với sữa gầy (khoảng

27 lần). Do vậy khi kết hợp alginat với sữa gầy tạo hỗn hợp tá dược khi đông khô ta

sẽ không thấy được sự thay đổi lớn trên tỉ lệ sống sót. Mà sự kết hợp tá dược sẽ làm

cho quá trình bào chế trở lên phức tạp hơn, nguyên liệu tạo thành với các mẫu có

nồng độ alginat cao có màu sắc khơng đẹp, độ hút ẩm cũng cao hơn tuy không

nhiều.

Tuy nhiên về cả thể chất, hàm ẩm, cũng như số lượng vi sinh vật sống sót

trong mẫu phối hợp alginat với sữa gầy đều đạt giá trị tốt hơn so với mẫu đông khô

sử dụng riêng alginat.

3.2.



Khảo sát tác dụng bảo vệ Lactobacillus acidophilus của natri alginatkhi



sửdụng làm tá dược độn trong dạng thuốc rắn

Các kết quả nghiên cứu nêu trong mục3.1.2 cho thấy alginat có tác dụng làm gia

tăng tỉ lệ sống sót của vi sinh vật trong q trình đơng khơ. Tuy nhiên việc sử dụng

nó như một tá dược bảo vệ trong đơng khơ vi sinh vật còn nhiều hạn chếvì sản

phẩm tạo thành có thể chất và hàm ẩm khơng thích hợp. Do vậy chúng tơi thực hiện

thí nghiệm nhằm khảo sát khả năng bảo vệ của natri alginat khi sử dụng làm tá dược

độn trong các chế phẩm chứa vi sinh vật. Một trong những phương pháp thử tác

dụng bảo vệ phổ biến nhất hiện nay là thử tác dụng bảo vệ của các tá dược sử dụng

lên tỉ lệ sống sót của vi sinh vật khi tiếp xúc với điều kiện acid dạ dày. Thí nghiệm

này tiến hành thử nghiệm trên các mẫu: nguyên liệu đông khô với sữa gầy 10% và

khi được tiến hành trộn đồng lượng bột đông khô này với tá dược độnlà natri

alginat, tinh bột -một tá dược độn được dùng phổ biến hiện nay là để đối chứng.

3.2.1. Khảo sát khả năng bảo vệ vi sinh vật của bột nguyên liệu probiotic có alginat

trong môi trường pH dạ dày.

 Mục tiêu: Khảo sát khả năng bảo vệ vi sinh vật của alginat đối với vi sinh vật

trong điều kiện acid dạ dày.



32



 Tiến hành:

Ni cấy vi sinh vật trong bình nón chứa 200ml môi trường MRS lỏng trong

24h (theo phương pháp nêu trong mục 2.3.2).

Thu gạn bỏ một phần dịch trong, giữ lại khoảng 60ml HDSK ở phía đáy, tạo

mẫu tiền đơng gồm: hỗn dịch sinh khối trộn đồng lượng với dung dịch sữa gầy

20%.

Đông khô các mẫu (theo phương pháp nêu trong mục 2.3.4.)

Thu sản phẩm, bảo quản trong túi polymer kín đặt trong lọ thủy tinh.

Đếm số lượng vi sinh vật có trong 1g ngun liệu bột đơng khơ trước khi thử

trong môi trường acid pH 1,2 theo phương pháp xác định số lượng vi sinh vật bằng

pha loãng liên tục (được nêu trong mục 2.3.5.)

Làm nhỏ bột đông khô trong túi bảo quản.

Cho lần lượt từng mẫu vào bình nón chứa 100ml dung dịch HCl pH 1,2 (được

pha theo phương pháp nêu trong mục 2.3.4.). Khuấy từ với tốc độ 50 vòng/ phút.

Các mẫu có thành phần như sau:

Mẫu a: Bột đông khô Lactobacilus acidophilus với dung dịch sữa gầy 10%.

(Bột đông khô)

Mẫu b: Bột đông khô + tinh bột.

Mẫu c: Bột đơng khơ + alginat.

Sau 1h, đồng nhất hóa mẫu trong bình. Nhanh chóng hút chính xác 1 ml dịch

trong bình tiến hành pha lỗng tiếp (theo phương pháp nêu trong mục 2.3.5).

Sau khuấy từ 2h, đồng nhất hóa lại dịch trong bình 2. Nhanh chóng hút chính

xác 1ml dịch trong bình này tiến hành pha lỗng (theo phương pháp nêu trong mục

2.3.5).

Tiến hành tương tự với các bình chứa 2 mẫu còn lại.

Ủ trong tủ CO2 5% trong, sau 48h tiến hành đếm số lượng khuẩn lạc. Tính số

lượng vi sinh vật còn sống sót (theo cơng thức nêu trong phần 2.3.5.)

 Kết quả, nhận xét



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

vàkhông có kết hợp alginat và sữa gầy

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×