Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Cây thanh cao hoa vàng

Cây thanh cao hoa vàng

Tải bản đầy đủ - 0trang

4



Cây thảo mọc đứng, sống hàng năm, phân nhiều cành. Thân hình trụ có rãnh

dọc, màu lục hoặc hơi tím, cao 0,5 – 2,0m. Lá kép mọc so le, lá ở giữa thân thường xẻ

3 lần lông chim thành những thủy nhỏ và sâu, lá ở giữa ngọn lúc cây sắp ra hoa thường

hẹp, xẻ 1 – 2 lần lông chim, mặt trên có lơng lục nhạt, cả hai mặt đều có lơng nhỏ mịn

[4], [7].

Cụm hoa hình đầu, cuống rất ngắn, đường kính 1,5cm, các đầu tụ hợp thành

chùy ở ngọn thân và đầu cành, tổng bao gồm các lá bắc hình sợi chỉ thn khơng lơng,

xếp thành 2 – 3 hàng, hoa màu vàng, dạng ống, dài không q 1mm, phía ngồi là hoa

cái, bên trong là hoa lưỡng tính, tràng của hoa cái có tuyến ở trong ống, ống tràng hơi

loe ở đỉnh, rồi chia thành 4 thùy nhọn, vòi nhụy xẻ; tràng của hoa lưỡng tính rộng và

xẻ thành 5 thùy; nhị 5, bao phấn ngắn .

Quả bế, hình trái xoan hoặc hình trứng ngược, có vân dọc, dài 0,4 – 0,5mm, có tinh

dầu. Tồn thân và lá vò ra có mùi thơm đặc biệt.

Mùa hoa quả vào tháng 9 – 11 [7].

1.2.3. Phân bố

Trên thế giới, thanh cao hoa vàng phân bố rải rác ở vùng ôn đới ấm, cận nhiệt

đới và nhiệt đới Bắc bán cầu, bao gồm một số nước ở Đông Âu, Bắc Mỹ, Tây –Nam Á

và Đông Á [2], [7].

Ở Việt Nam, thanh cao hoa vàng mọc tự nhiên ở bốn tỉnh: Lạng Sơn, Cao Bằng,

Quang Ninh và Bắc Giang. Do việc phát triển trồng từ năm 1990 đến nay, thanh cao

hoa vàng còn được trồng ở các tỉnh trung du và đồng bằng Bắc Bộ như Vĩnh Phúc,

Phú Thọ (Thanh Sơn), Tuyên Quang, Bắc Ninh,… [4], [7].

1.2.4. Bộ phận dùng và chế biến

Bộ phận dùng là lá, được thu hái ở cây sắp ra hoa, tốt nhất là vào mùa hè, phơi

nắng nhẹ hoặc sấy ở nhiệt độ 30 – 40°C đến khơ [7]. Lá có màu vàng nâu hoặc nâu

sẫm, giòn, dễ vụn nát, mùi thơm hắc đặc biệt, vị đắng. Dược liệu đem chiết xuất có thể

lẫn một ít cành hoặc ngọn non.



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi

5



1.2.5. Thành phần hóa học

Thành phần hóa học có trong cây thanh cao hoa vàng phần trên mặt đất chứa

artemisinin (thành phần chính), acid artemisinic, artenuin (qinghaosu I), artenuin B

(qinghaosu II), desoxyartemisinin (qinghaosu III), Qinghaosu IV, artenuin E

(qinghaosu V), artemisininlacton (artenuin F), artemisiten (dehydroartemisinin),

artemisinic acid methyl ester [7].

Ngoài các thành phần hóa học trên, cây thanh cao hoa vàng còn chứa lipid,

flavonoid, coumarin, polyacetylen, tinh dầu sterol. Hàm lượng artemisinin trong lá cây

thanh cao hoa vàng đạt từ 0,01% đến 0,9% [7]. Ở Việt Nam hiện nay, artemisinin và

artesunat (thành phần tổng hợp từ artemisinin) được sử dụng rộng rãi nhất.

Một số thành phần chính có trong cây thanh cao hoa vàng ngoài artemisinin [7]:

CH3



CH3



H



CH3



H



H

O

CH3



O



CH3

O

O



O

H

H



H



H3C



H



O



CH2



H



CH3



O



HO2C



O



Artemisiten



Desoxyartmisinin

(Qinghaosu III)



CH2



Acid artemisinic



CH3

CH3



CH3



H



CH3



H



H



H



H3C



H3C



H3C



H3C



OH



H



H



O



O



H

CH2



HO2C



H2C



CH2



Acid

epoxyartmisinic



COOCH3



O



Acid artemisinic

methylester



Arteannuin E

CH3



CH3



CH3



H



H



H



O

H3C



O

H3C



H3C



O



O



H

O



O



H



H

O



O



O



CH3



CH3



O



CH2



Arteannuin C



O



Artemisinin G



O



Qinghaosu IV



O

O



Arteannuin E



6



Hình 1.2: Các cơng thức của thành phần hóa học có trong cây thanh cao hoa vàng

1.2.6. Cơng dụng

Thanh cao hoa vàng có vị đắng, tính hàn, quy vào 2 kinh can và đởm, có tác

dụng chữa mồ hơi trộm, sốt rét và mụn nhọt. Đông y cho rằng dùng thanh cao hoa

vàng lâu ngày khơng có hại mà còn làm cho ăn ngon cơm, chóng tiêu, chữa mệt mỏi

về cơ thể và trí não. Ngồi ra thanh cao còn có tác dụng cầm máu, chữa chảy máu cam,

đại tiện ra máu, dùng ngồi da có tính chất sát trùng, chữa mụn nhọt lở ngứa [4], [7].

Trong y học hiện đại, thanh cao hoa vàng là nguồn nguyên liệu để chiết xuất

artemisinin dùng trong điều trị sốt rét [2], [3], [4], [6].

1.3.



Một số phương pháp chiết xuất artemisinin từ lá thanh cao hoa vàng

Đến nay đã có nhiều nghiên cứu về các phương pháp chiết xuất artemisinin từ



lá thanh cao hoa vàng trong mục đích lựa chọn dung mơi có ưu điểm nhất về hiệu suất

chiết, an tồn, chi phí thấp ... Các phương pháp chiết artemisinin từ lá cây thanh cao

hoa vàng :

1.3.1. Chiết bằng dung môi n-hexan

Ở Việt Nam cũng như trên thế giới, người ta sử dụng dung môi n-hexan để

chiết xuất artemisinin. Phương pháp chiết bằng dung môi n-hexan được coi là một

phương pháp truyền thống. Lá thanh cao hoa vàng được phơi khô, xay thô và nạp vào

nồi chiết. Tỷ lệ dược liệu/dung môi là 1/5, chiết ở nhiệt độ 30 – 50°C, thời gian chiết 3

giờ. Chiết 3 lần, dịch chiết lần 3 sử dụng làm dung môi chiết lần 1 của mẻ khác. Sau

đó gộp dịch chiết lại, cơ thu hồi dung mơi rồi rút ra để kết tinh ít nhất 24 giờ,

artemisinin sẽ kết tinh lẫn với sáp. Loại phần dung dịch bằng cách gạn, loại sáp bằng

nhiệt độ và xăng nóng thu được artemisinin thơ khơng lẫn sáp. Có thể kiểm tra đã loại

sáp hết bằng cách hòa tan artemisinin thô trong aceton, nếu dung dịch trong là đã loại

sáp. Artemisinin thơ đã loại hết sáp được hòa tan trong cồn sôi, thêm than hoạt và đun

sôi 20 phút với sinh hàn hồi lưu, lọc nóng loại than hoạt và để kết tinh ở nhiệt độ

thường tối thiểu 24 giờ. Vẩy ly tâm rửa tinh thể bằng cồn và sấy ở 80°C [5].



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi

7



Dung môi n-hexan là dung mơi khá chọn lọc, q trình chiết đơn giản nhưng

hiệu suất chiết thấp và dễ cháy nổ.

1.3.2. Chiết bằng ethanol

Albert Fleming và cộng sự đã nghiên cứu lựa chọn được các thông số để tiến

hành chiết artemisinin bằng ethanol như sau:

- Ethanol: 96%

- Nhiệt độ chiết: Nhiệt độ phòng.

- Tỷ lệ DL/DM (Kg/L): 1/7,5.

- Thời gian chiết: 3,5 giờ.

- Chiết 2 lần, sau mỗi lần chiết có khoảng 1,5L (20%) dịch chiết còn lại trong dược

liệu nên người ta cần rửa và ép lấy dịch chiết. Gộp lại dịch chiết, cất thu hồi dung mơi

đến cắn. Hòa tan cắn bằng hỗn hợp dung môi n-hexan – ethyl acetat (85:15), lọc. Dịch

lọc cô đến đậm đặc rồi để kết tinh. Vẩy ly tâm rửa tinh thể bằng cồn và sấy ở 80°C

[14].

Ethanol 96% là một dung mơi ít độc, dễ kiếm, nhưng dễ cháy nổ, chi phí lại cao và

artemisinin kém ổn định trong ethanol 96%.

1.3.3. Chiết bằng dung môi CO2 siêu tới hạn

Marcel Kohler và cộng sự đã khảo sát phương pháp chiết xuất artemisinin bằng

dung môi CO2 siêu tới hạn, kết hợp với phân tích dịch chiết bằng kỹ thuật HPLC. Tác

giả tìm ra điều kiện tối ưu cho quy trình chiết xuất là: áp suất khí đẩy dòng CO2 là 15

mPa, nhiệt độ chiết 50°C, chất cho thêm là methanol với nồng độ 3%, thời gian chiết

là 20 phút, tốc độ dòng CO2 là 2ml/phút. Ưu điểm của phương pháp là thân thiện với

mơi trường, có thể áp dụng cho dược chất không bền, khả năng hòa tan tốt một số chất

và có thể tái sử dụng. Nhược điểm là yêu cầu phải có thiết bị chuyên dụng, giá thành

đắt; điều kiện tối ưu để chiết thành công [14].

1.3.4. Chiết bằng dung dịch ion lỏng

Nhiều nghiên cứu liên quan đến việc sử dụng dung dịch ion lỏng để chiết xuất

artemisinin trong mục đích thay thế dung dịch ion lỏng với các dung môi đang sử



8



dụng. Artemisinin tan tốt trong nhiều dung dịch ion lỏng, đặc biệt độ tan của

artemisinin trong 2 dung dịch ion lỏng N, N – dimethylethanolammonium octanoate

(DMEA oct) và bis 2-methoxyethylammonium bis (trifluoromethysulfonylimide)

(BMOEA bst) cao hơn độ tan của artemisinin trong n-hexan và ethanol [14].

Bảng 1.1: Độ tan của artemisinin trong 2 dung dịch ion lỏng N, N –

dimethylethanolammonium octanoate và bis 2-methoxyethylammonium bis

(trifluoromethysulfonylimide)

Độ tan của artemisinin g/l



Dung dịch ion lỏng

DMEA oct



82



BMOEA bst



110



Qua nhiều thực nghiệm, người ta chứng minh được rằng hiệu suất chiết artemisinin

bằng 2 dung dịch trên cao hơn hiệu suất chiết bằng n-hexan và ethanol, thời gian chiết

xuất ngắn hơn, chi phí đầu tư cũng thấp hơn so với chiết bằng nhiều dung môi khác

(bảng 1.2).

Dựa trên dữ liệu đã nghiên cứu được, nhà nghiên cứu có thể so sánh về hiệu

suất chiết xuất, thời gian chiết, chi phí trong q trình chiết… giữa các dung mơi như

bảng 1.2:

Bảng 1.2: So sánh dung môi chiết artemisinin về hiệu suất chiết xuất,

thời gian chiết, chi phí vận hành, chi phí đầu tư [14]:



n-hexan

Ethanol

Ion lỏng

scCO2

Trong đó:



Hiệu suất

chiết suất

(%)

69

73

79

82



Thời gian

chiết (giờ)

8 – 10

7

2,5 – 6

3–6



Chi phí vận

hành (€/Kg của

artemisinin)

28

47

22

42



Chi phí đầu tư cho

2,5.106Kg dược

liệu/năm (m€)

0,7

1,0

0,3 – 1,0

4,1



- Hiệu suất chiết xuất: Là tỷ lệ giữa khối lượng artmisinin thu được so với artemisinin

có trong dược liệu.

- Thời gian chiết: Là thời gian để chiết kiệt artmisinin từ trong dược liệu.

- Chi phí vận hành: bao gồm các chi phí điện và chi phí cho q trình chiết khác.



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi

9



- Chi phí đầu tư: bao gồm chi phí trang thiết bị, chi phí chiết xuất, hàng tồn kho và

dung mơi.

Nhận thấy IPA là một alcol có khả năng hòa tan và một số tính chất như

ethanol, IPA rẻ hơn ethanol. Hơn nữa IPA có loại khan nước nên có thể artemisinin sẽ

ổn định trong IPA hơn trong ethanol 96%. Vì vậy, chúng tơi sẽ tiến hành nghiên cứu

chiết xuất artemisinin từ lá thanh cao hoa vàng bằng dung môi IPA với mong muốn

tìm được dung mơi chiết an tồn và có hiệu suất cao.



10



CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1.



Nguyên vật liệu, hóa chất và thiết bị



2.1.1. Nguyên liệu:

Lá thanh cao hoa vàng được trồng ở vùng Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc, lá được thu

hái vào tháng 4 năm 2012.

2.1.2. Hóa chất :

Bảng 2.1: Tên và nguồn gốc của các hóa chất dùng trong thí nghiệm:

STT



Tên hóa chất



Nguồn gốc



1



Artemisinin chuẩn 99%



2



Cloroform



3



Ethanol 96%



Việt Nam



4



Ethyl acetat



Trung Quốc



5



Isopropanol 99%



Trung Quốc



6



n-hexan



Trung Quốc



7



Xăng cơng nghiệp



2.1.3. Máy móc, thiết bị

- Máy cất quay Buchi B480 (Thụy Sỹ)

- Máy khuấy từ IKA RH basic KT/C

- Máy đo quang phổ UV-VIS Hitachi (Mỹ)

- Máy siêu âm Ultrasonic LC 60H (Đức)

- Máy HPLC Shimadzu SPD-M10 Avp với detetor UV (Nhật)

- Tủ sấy Mermert (Đức)

- Các trang thiết bị thí nghiệm khác.



Việt Nam

Trung Quốc



Việt Nam



Ket-noi.com

Ket-noi.com kho

kho tai

tai lieu

lieu mien

mien phi

phi

11



2.2.



Phương pháp nghiên cứu



2.2.1. Phương pháp định lượng

a) Định lượng artemisinin trong lá thanh cao hoa vàng:

Định lượng theo DĐVN IV, sử dụng phương pháp quang phổ tử ngoại kết hợp với

phương pháp sắc ký lớp mỏng [1]. Cách tiến hành như sau:

- Bản mỏng: silica gel G.

- Hệ dung môi: n-hexan : ethyel acetat (70:30)

- Dung dịch thử: Cân chính xác 1g dược liệu, chiết với ether dầu hỏa (30 - 60°C) trong

bình soxhlet dung tích 50ml trên cách thủy trong 6 giờ, cất thu hồi dung môi lấy cắn.

Hòa tan cắn trong 1ml cloroform và cho vào bình định mức 10ml, tráng cốc đựng cắn

bằng ethanol 96% rồi thêm cùng dung môi cho đến vạch. Lọc qua giấy lọc, bỏ 0,5 đến

1ml dịch lọc đầu, lấy khoảng 2ml dịch lọc tiếp theo.

- Dung dịch đối chiếu: Cân chính xác 0,010g artemisinin chuẩn, hòa tan trong 10ml

ethanol 96% (pha dùng trong ngày).

- Bản silica gel G (20cm×20cm) đã được hoạt hóa ở 110°C trong 2 giờ được chia vạch

thành 5 băng, chấm lần lượt mỗi băng 0,1ml các dung dịch thử



(băng 1 và 2) và dung



dịch đối chiếu (băng 3 và 4) chấm thành vạch dài 2cm, rộng 0,3cm ; băng 5: chấm

0,1ml ethanol 96% làm mẫu trắng.

- Tiến hành sắc ký, sau khi triển khai sắc ký đến khi dung môi đi được 18cm , lấy bản

mỏng ra, để khơ dung mơi ngồi khơng khí trong 1 giờ. Phun nước cất làm ướt bản

mỏng để xác định các vùng có artemisinin. Các vết artemisinin chuẩn sẽ xuất hiện màu

trắng đục trên sắc ký đồ. Vạch đường ngay ở phía trên và phía dưới vết artemisinin đã

được xác định sao cho cách đều hai mép của vết 0,5cm đến 0,7cm. Cạo riêng biệt các

vùng có artemisinin của vết 1, 2, 3 và 4. Cạo vùng không chứa artemisinin của vết 5

làm mẫu trắng, cho vào mỗi mẫu bột silica gel cạo được nói trên 1ml ethanol 96%, lắc

kỹ. Thêm 9ml dung dich NaOH 0,05N, lắc kỹ, cho vào tủ ấm 50°C trong 30 phút. Lấy

ra để nguội 15 phút, lọc lấy dịch lọc trong và đo độ hấp thụ của các dung dịch so với



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cây thanh cao hoa vàng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×