Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 4: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Chương 4: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Tải bản đầy đủ - 0trang

4.2.



Độ cứng Shore D

Bảng 4.1: Độ cứng gạch có chất kết dính là Epoxy

E5

25,79

E5s

26,79

E5scs

29,07



E7.5

28,07

E7.5s

32,64

E7.5scs

30,93



E10

30

E10s

33,29

E10scs

35,86



E12.5

33,5

E12.5s

35,07

E12.5scs

38,36



E15

37,71

E15s

38,64

E15scs

40,79



Hình 4.2: đồ thị biểu diễn đơ cứng epoxy

Nhận xét:

Từ đồ thị, ta thấy độ cứng của mẫu gạch có chất kết dính với hàm lượng là 15%

có giá trị cao nhất ,sau đó lần lượt giảm dần và gạch có chất kết dính với hàm lượng là

5% có giá trị nhỏ nhất cả khi có sử dụng Silane với các hàm lượng khác nhau.

Độ cứng của mẫu gạch có chất kết dính và có sử dụng Silane tăng so với mẫu

gạch chỉ sử dụng Epoxy. Nếu tăng hàm lượng Silane thì độ cứng tăng so với các mẫu

sử dụng với hàm lượng Silane ít.

Giải thích:

Khi tăng tỷ lệ nhựa lên, tức là tăng hàm lượng chất kết dính lên, khi đó cao su

liên kết với nhau tốt hơn nên độ cứng tăng. Khi có chất tương hợp Silane sẽ tăng tính

kết dính giữa cao su và keo Epoxy nên sẽ tăng độ cứng.

95



Bảng 4.2: Độ cứng gạch có chất kết dính là Polyester

P10

20,93

P10s

20,14

P10scs

21,71



P12.5

19,93

P12.5s

21,14

P12.5scs

22,57



P15

22,36

P15s

22,21

P15scs

23,5



P17.5

23,57

P17.5s

23,93

P17.5scs

24,57



P20

23,93

P20s

24,21

P20scs

26,29



Hình 4.3: Đồ thị biểu diễn đô cứng polyester

Nhận xét:

Từ đồ thị, ta thấy độ cứng của mẫu gạch có chất kết dính với hàm lượng là 20%

có giá trị cao nhất ,sau đó lần lượt giảm dần và gạch có chất kết dính với hàm lượng là

10% có giá trị nhỏ nhất cả khi có sử dụng Silane với các hàm lượng khác nhau. Độ

cứng của mẫu gạch có chất kết dính và có sử dụng Silane tăng so với mẫu gạch chỉ sử

dụng Polyester trừ trường hợp 10%. Nếu tăng hàm lượng Silane thì độ cứng tăng lên.

Giải thích:

Khi tăng tỷ lệ nhựa lên, tức là tăng h àm lượng chất kết dính lên, khi đó cao su

liên kết với nhau tốt hơn nên độ cứng tăng. Khi có chất tương hợp Silane sẽ tăng tính

kết dính giữa cao su và Polyester nên sẽ tăng độ cứng.

96



Bảng 4.3: Độ cứng gạch có chất kết dính là PU

PU10

15,5

PU10s

20

PU10scs

22,43



PU12.5

15,86

PU12.5s

20,57

PU12.5s

22,93



PU15

16,71

PU15s

21

PU15scs

23,36



PU17.5

16,86

PU17.5s

21,43

PU17.5scs

24,79



PU20

17,5

PU20s

21,79

PU20scs

25,93



Hình 4.4: Đồ thị biểu diễn đô cứng PU

Nhận xét:

Từ đồ thị, ta thấy độ cứng của mẫu gạch có chất kết dính với hàm lượng là 20%

có giá trị cao nhất, sau đó lần lượt giảm dần và gạch có chất kết dính với hàm lượng là

10% có giá trị thấp nhất thay đổi đáng kể.

Khi có sử dụng Silane với các hàm lượng khác nhau thì độ cứng tăng dần theo

hàm lượng keo và chất tương hợp Silane.

Giải thích:

Khi tăng tỷ lệ nhựa lên, tức là tăng hàm lượng chất kết dính lên, khi đó cao su

liên kết với nhau tốt hơn nên độ cứng tăng. Khi có chất tương hợp Silane sẽ tăng tính

kết dính giữa cao su và PU nên sẽ tăng độ cứng.

97



Nhận xét chung:

Nhìn chung có sự gia tăng đáng kể về độ cứng của các mẫu gạch khi tỷ lệ nhựa

pha trộn đem ép tăng dần. Điều này có thể giải thích là do diện tích bề mặt của cả bột

cao su khá lớn, do vậy khi tăng hàm lượng kết dính thì mức độ thấm ướt bề mặt của

cao su sẽ tốt hơn nên độ cứng sản phẩm sẽ tăng cao.



98



Hình 4.5: Đồ thị biểu diễn đơ cứng khi so sánh các loại keo

Nhận xét chung:

Hầu như độ cứng tăng lên so với các mẫu khơng có tương hợp silane. Điều này

có thể giải thích dựa trên vai trò của chất tương hợp silane, có chức năng gắn kết nền

keo với nền cao su làm cho sản phẩm được liên kết bền chặt hơn do đó có đặc tính cơ

lý cao hơn. Silane được dùng với hàm lượng tương đối nhỏ (1% cao su và 1% nhựa)

nhưng kết quả cho thấy khi dùng chất tương hợp Silane thì hiệu quả mang lại cho tính

cơ lý của sản phẩm khá cao và kết quả khi càng dùng tỷ lệ Silane càng cao thì dặc tính

cơ lý sản phẩm càng cao. Do đó có thể dùng Silane với nồng độ 1% cao su cho các

mẫu ép sẽ có kết quả tốt hơn. Silane tương hợp tốt với các loại keo dùng trong đề tài,

Epoxy kết hợp với Silane cho độ cứng cao nhất so với các loại keo khác dùng trong thí

nghiệm.

Trong các loai keo cho thấy keo Epoxy cho sản phẩm có đặc tính cơ lý vượt trội

hơn so với các loại keo còn lại. Theo các nghiên cứu về ứng dụng cao su phế liệu của

các nước trên thế giới thì hệ chất kết dính được sử dụng là polyurethane, đóng rắn

bằng độ ẩm trong khơng khí, có tính năng kết dính tuyệt vời với rubber chip, trong cấu

99



trúc phân tử không chứa thành phần toluen isocyanat, cấu trúc có khả năng kháng sự

hydro hố…Nhưng trên thị trường của chúng ta hiện nay chưa có loại PU này. Vì vậy

ta chọn hệ keo PU có sẵn trên thị trường (loại keo dùng trong ngành giầy, giả da - để

làm chất kết dính), do đó mà có kết quả khơng đạt như mong đợi. Nhìn vào biểu đồ ta

thấy, độ cứng gia tăng ở các mẫu có tỷ lệ keo cao hơn so với tỷ lệ keo gần đó. Điều đó

cho thấy ta có thể khảo sát ở các tỷ lệ keo cao hơn để tì m được tỷ lệ keo tốt hơn hay

không? Do hạn chế của đề tài về kinh tế và điều kiện thí nghiệm đã không khảo sát

được nhiều tỉ lệ keo hơn. Tuy nhiên có thể kết luận loại keo Epoxy cho đặc tính cơ lý

tốt ở 15%.

4.3.



Độ bền uốn

Bảng 4.4: Độ bền uốn gạch có chất kết dính là Epoxy

E5

1,86

E5s

1,89

E5scs

2,17



E7.5

2,18

E7.5s

2,24

E7.5scs

2,42



E10

2,75

E10s

2,78

E10scs

2,8



E12.5

2,83

E12.5s

2,84

E12.5scs

2,99



Hình 4.6: Đồ thị biểu diễn độ bền uốn epoxy

Nhận xét:

100



E15

2,99

E15s

3

E15scs

3,43



Từ đồ thị, ta thấy độ uốn của mẫu gạch có chất kết dính với hàm lượng là 15%

có giá trị cao nhất ,sau đó lần lượt giảm dần và gạch có chất kết dính với hàm lượng là

5% có giá trị nhỏ nhất cả khi có sử dụng Silane với các hàm lượng khác nhau.

Độ uốn của mẫu gạch có chất kết dính và có sử dụng Silane tăng so với mẫu

gạch chỉ sử dụng Epoxy. Nếu tăng hàm lượng Silane thì độ uốn tăng đáng kể với các

mẫu có hàm lương keo lần lượt là 5%,7.5%,15%.

Giải thích:

Khi tăng tỷ lệ nhựa lên, tức là tăng hàm lượng chất kết dính lên, khi đó cao su

liên kết tốt với nhau hơn nênđộ cứng tăng. Khi có chất tương hợp Silane sẽ tăng tính

kết dính giữa cao su và Epoxy nên sẽ tăng độ cứng. đặc biệt ở hàm lượng keo 15%

hàm lượng Silane càng cao thì độ uốn càng cao.

Bảng 4.5: Độ uốn gạch có chất kết dính là Polyester

P10

0,31

P10s

0,43

P10scs

0,45



P12.5

0,37

P12.5s

0,58

P12.5scs

0,63



P15

0,54

P15s

0,71

P15scs

0,81



P17.5

0,72

P17.5s

0,93

P17.5scs

1,02



Hình 4.7: Đồ thị biểu diễn độ bền uốn Polyester

101



P20

1,14

P20s

1,17

P20scs

1,38



Nhận xét:

Từ đồ thị, ta thấy độ uốn của mẫu gạch có chất kết dính với hàm lượng là 20%

có giá trị cao nhất, sau đó lần lượt giảm dần nhưng khơng đáng kể và gạch có chất kết

dính với hàm lượng là 10% có giá trị nhỏ nhất cả khi có sử dụng Silane với các hàm

lượng khác nhau. Độ cứng của mẫu gạch có chất kết dính và có sử dụng Silane tăng so

với mẫu gạch chỉ sử dụng Polyester . Nếu tăng hàm lượng Silane thì độ cứng tăng lên.

Khi tăng hàm lượng keo thì độ uốn tăng đáng kể ở hàm lượng 20% gấp 3 -4 lần hàm

lượng 10%

Giải thích:

Khi tăng tỷ lệ nhựa lên, tức là tăng hàm lượng chất kết dính lên, khi đó cao su

liên kết tốt với nhau hơn nênđộ uốn tăng. Khi có chất tương hợp Silane sẽ tăng tính kết

dính giữa cao su và Polyester nên sẽ tăng độ uốn.

Bảng 4.6: Độ uốn gạch có chất kết dính là PU

PU10

0,25

PU10s

0,34

PU10scs

0,41



PU12.5

0,3

PU12.5s

0,44

PU12.5s

0,47



PU15

0,48

PU15s

0,74

PU15scs

0,8



PU17.5

0,69

PU17.5s

0,82

PU17.5scs

0,94



Hình 4.8: Đồ thị biểu diễn độ bền uốn PU

102



PU20

1,09

PU20s

1,14

PU20scs

1,32



Nhận xét:

Từ đồ thị, ta thấy độ uốn của mẫu gạch có chất kết dính với hàm lượng là 20%

có giá trị cao nhất,sau đó lần lượt giảm dần và gạch có chất kết dính với hàm lượng là

10% có giá trị thấp nhất thay đổi đáng kể.

Khi có sử dụng Silane với các hàm lượng khác nhau thì độ cứng tăng dần theo

hàm lượng keo và chất tương hợp Silane. Sự thay đổi độ cứng ở các tỷ lệ keo PU đáng

kể: khi ở 20% cao nhất, gấp 3-4 lần ở tỷ lệ 10%

Giải thích:

Khi tăng tỷ lệ nhựa lên, tức là tăng hàm lượng chất kết dính lên, khi đó c ao su

liên kết tốt với nhau hơn nên độ cứng tăng. Khi có chất tương hợp Silane sẽ tăng tính

kết dính giữa cao su và PU nên sẽ tăng độ cứng.

Nhận xét chung:

Ta thấy độ uốn của mẫu gạch có tỷ lệ chất kết dính tăng lên, tức là tăng hàm

lượng chất kết dính lên, thì độ uốn tăng dần. Điều này có thể giải thích là do diện tích

bề mặt của cao su khá lớn, do vậy khi tăng hàm lượng kết dính thì mức độ thấm ướt bề

mặt của cao su sẽ tốt hơn nên độ uốn của phẩm sẽ tăng cao.

Khi có sử dụng Silane với các hàm lượng khác nhau thì độ cứng tăng dần theo

hàm lượng keo và chất tương hợp Silane. Sự thay đổi độ cứng ở các tỷ lệ keo

Polyester, PU đáng kể nhất: khi ở 20% cao nhất, gấp 3 -4 lần ở tỷ lệ 10%, còn keo

Epoxy thay đổi khơng đáng kể.



103



104



Hình 4.9: Đồ thị biểu diễn đô bền uốn khi so sánh các loại keo

Nhận xét chung:

Hầu như độ uốn tăng lên so với các mẫu khơng có tương hợp silane. Điều này

có thể giải thích dựa trên vai trò của chất tương hợp silane, có chức năng gắn kết nền

keo với nền cao su làm cho sản phẩm được liên kết bền chặt hơn do đó có đặc tính cơ

lý cao hơn. Silane được dùng với hàm lượng tương đối nhỏ (1% cao su và 1% nhựa)

nhưng kết quả cho thấy khi dùng chất tương hợp Silane thì hiệu quả mang lại cho tính

cơ lý của sản phẩm khá cao và kết quả khi càng dùng tỷ lệ Silane càng cao thì dặc tính

cơ lý sản phẩm càng cao. Do đó có thể dùng Silane với nồng độ 1% cao su cho các

mẫu ép sẽ có kết quả tốt hơn. Silane tương hợp tốt với các loại keo dùng trong đề tài,

Epoxy kết hợp với Silane cho độ uốn cao nhất so với các loại keo khác dùng trong thí

nghiệm.

Trong các loai keo cho thấy keo Epoxy cho sản phẩm có đặc tính cơ lý vượt trội

hơn so với các loại keo còn lại: độ uốn gấp 2 -3 lần so với chất kết dính là Polyester

hay PU. Có thể kết luận loại keo Epoxy cho đặc tính cơ lý tốt ở 15%.



105



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 4: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×