Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

Tải bản đầy đủ - 0trang

CHƯƠNG 4

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG ÁP DỤNG KIỂM SOÁT RỦI RO THEO

BASEL II CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM ĐỐI VỚI HỆ

THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

4.1. Lộ trình áp dụng kiểm soát rủi ro trong hoạt động của các ngân hàng thương

mại Việt Nam theo Hiệp ước Basel II

4.1.1. Điều kiện áp dụng kiểm soát rủi ro hoạt động của các ngân hàng thương mại

theo Basel II

Hiệp ước Basel II chủ yếu áp dụng cho các ngân hàng hoạt động quốc tế, tuy

nhiên trên thực tế rất nhiều các ngân hàng có mức độ hoạt động quốc tế hạn

chế cũng đã chủ động áp dụng các chuẩn mực quốc tế theo Basel II để nâng cao

mức độ an toàn và khả năng cạnh tranh. Trên bình diện quốc tế, các hệ thống

ngân hàng có xu hướng áp dụng các chuẩn mực của Basel II để tiện cho việc so

sánh, đối chiếu về mức độ lành mạnh. Tuy nhiên để áp dụng Hiệp ước Basel II

có hiệu quả cần bảo đảm các điều kiện dưới đây:

4.1.1.1. Điều kiện cho ngân hàng trung ương

Mục tiêu hoạt động của NHTƯ cần phải được xác định rõ ràng, chủ yếu

nhắm duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính và lòng tin của cơng chúng vào

hệ thống ngân hàng, nhờ đó giảm thiểu tổn thất xảy ra đối với người gửi tiền và

các chủ nợ. Các cơ quan giám sát phải đảm bảo kỷ luật thị trường bằng cách tạo

động lực cho các ngân hàng áp dụng các thông lệ tốt về QTRR. Để thực thi nhiệm

vụ của NHTƯ một cách hữu hiệu, NHTƯ phải có sự độc lập về hoạt động, phương

tiện và quyền lực thu thập thông tin từ xa, thơng tin tại chỗ và có thẩm quyền

thực hiện các quyết định của mình

Quy định của ngân hàng trung ương về hoạt động ngân hàng phù hợp với

lộ trình triển khai Basel II. Việc ban hành các quy tắc tính tốn vốn theo phương

pháp tiêu chuẩn của Basel II khơng phức tạp mà cái khó là ở các hệ số rủi ro cần

được thiết lập ở mức nào là phù hợp. Vì vậy, ngân hàng trung ương cần ban hành

các văn bản theo đúng thời hạn để các NHTM áp dụng; Ngân hàng trung ương cần

thiết lập các tỷ lệ an toàn ở mức độ phù hợp với mặt bằng các NHTM trong

nước và đánh giá đúng mức độ ảnh hưởng đến hệ thống khi áp dụng các tiêu

chuẩn trên.



Các cơ quan giám sát ngân hàng phải hiểu bản chất kinh doanh của các

ngân hàng và bảo đảm trong chừng mực có thể là các rủi ro mà các ngân hàng

phải gánh chịu được quản lý một cách thoả đáng. Toàn bộ rủi ro của từng

ngân hàng phải



được đánh giá, theo dõi một cách chặt chẽ và các nguồn lực giám sát phải

được phân bổ hợp lý. Tất cả các rủi ro của ngân hàng phải được nhận biết, đo

lường, giám sát và kiểm soát được trước hết từ bản thân ngân hàng thông qua

các công cụ quản trị rủi ro và từ các cơ quan giám sát ngân hàng thông qua các

nghiệp vụ giám sát từ xa, thanh tra tại chỗ dựa trên cơ sở rủi ro một cách liên

tục. Vì vậy, cơ quan giám sát ngân hàng phải có thẩm quyền quy định và sử dụng

các quy chế an tồn (định tính và định lượng) để kiểm sốt các rủi ro đó, chẳng

hạn mức độ đủ vốn, dự phòng rủi ro, phân loại nợ, khả năng thanh khoản, kiểm

soát nội bộ, quy định quản trị rủi ro nhằm hạn chế việc chấp nhận rủi ro quá mức

của các ngân hàng. Các quy định an tồn này khơng phải thay thế cho các quyết

định quản lý của ngân hàng mà đúng hơn là các chuẩn mực thận trọng tối thiểu để

bảo đảm các ngân hàng tiến hành các hoạt động một cách hợp lý.

Cơ quan giám sát ngân hàng cần phải đảm bảo các NHTM có đủ nguồn lực

để bù đắp các rủi ro, bao gồm vốn, kỹ năng quản trị, hệ thống kiểm soát hữu hiệu

và các hồ sơ kế toán. Cơ quan giám sát ngân hàng đồng thời phải có sự phối

hợp tốt với các cơ quan giám sát tài chính ở trong nước và ngồi nước để giám

sát các hoạt động tài chính phi ngân hàng và các hoạt động ngân hàng quốc tế do

các ngân hàng tiến hành.

4.1.1.2. Điều kiện cho ngân hàng thương mại

Năng lực QTRR

Các ngân hàng đạt được trình độ quản lý rủi ro nhất định và phát triển

được hạ tầng công nghệ, đặc biệt cơng nghệ thơng tin thích hợp để ứng dụng các

thông lệ tốt về quản trị doanh nghiệp và các nguyên tắc thiết lập, vận hành

các hệ thống kiểm sốt nội bộ và QTRR (tín dụng, thị trường, thanh khoản và

vận hành). Các ngân hàng phải thiết lập được hệ thống QTRR nội bộ chuyên

nghiệp phù hợp với thông lệ tốt và đáp ứng các yêu cầu tối thiểu của cơ quan

giám sát ngân hàng để phát hiện, đo lường, quản lý và giám sát thoả đáng các

loại rủi ro trong hoạt động của ngân hàng. Các ngân hàng phải có nguồn nhân lực

đủ về số lượng và chất lượng để vận hành hệ thống QTRR, đặc biệt đối với hệ

thống quản lý rủi ro thị trường, tín dụng và rủi ro hoạt động dưới dạng mơ hình

hố rủi ro

Hệ thống dữ liệu tin cậy và chính xác cao



Thu thập và lưu trữ dữ liệu là việc rất quan trọng trong bất kỳ dự án

triển khai Basel II nào. Phân tích chênh lệch về dữ liệu, bao gồm việc so sánh

mức độ sẵn có và chất lượng của dữ liệu hiện có với các yêu cầu về dữ liệu của

Basel II,



phải được tiến hành ngay trong giai đoạn đầu của dự án. Từ đó, các ngân hàng

xác định được các yêu cầu dữ liệu bổ sung và bố trí nhân sự phù hợp để thu thập

và làm sạch dữ liệu. Nếu khơng thực hiện phân tích chênh lệch dữ liệu và có các

phương án bổ sung, làm giàu dữ liệu, thì chi phí và thời gian thực hiện triển khai

dự án Basel II sẽ cao hơn nhiều kế hoạch ban đầu.

Việc kiểm tra chất lượng của dữ liệu và đối chiếu với sổ cái cũng là một

thách thức trong quá trình triển khai Basel II nhằm đảm bảo tính đầy đủ và

chính xác của dữ liệu. Các ngân hàng phải trả lời được câu hỏi: liệu dữ liệu đã đầy

đủ và “khớp” với số liệu đã kiểm toán hay chưa, cũng như đáp ứng được các

tiêu chuẩn về chất lượng dữ liệu của Basel II chưa?

Yêu cầu về chi phí, tài chính

Một yêu cầu nữa là chi phí triển khai Basel II. Các yêu cầu về tuân thủ

Basel II dự kiến là một khó khăn cho các ngân hàng, đòi hỏi chi phí triển khai lớn.

Trong tương lai, chi phí tuân thủ trong lĩnh vực ngân hàng sẽ tăng cao, và chỉ những

ngân hàng có khả năng tài chính mới có thể thực hiện. Chi phí cho triển khai dự

án tập trung vào chi phí đầu tư hệ thống cơng nghệ thơng tin, chi phí th tư vấn

và chi phí nguồn nhân lực.

4.1.2. Lộ trình áp dụng chuẩn mực Basel II về kiểm soát rủi ro đối với

hệ thống ngân hàng thương mại

Để triển khai có hiệu quả việc KSRR trong hoạt động của các NHTM theo

Hiệp ước Basel II, NHNN Việt Nam đã vạch ra một lộ trình áp dụng Basel II đối

với hệ thống NHTM một cách cẩn trọng. Cụ thể, lộ trình triển khai thực hiện Basel II

trong toàn hệ thống TCTD được NHNN đưa ra theo 2 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Thí điểm áp dụng Basel II tại 10 ngân hàng (Vietcombank,

VietinBank, BIDV, MB, Sacombank, Techcombank, ACB, VPBank, VIB và Maritime

Bank). Chương trình thí điểm bắt đầu từ tháng 2/2016, mục tiêu là đến cuối

năm 2018 các ngân hàng này phải cơ bản đáp ứng các yêu cầu của Basel II.

Giai đoạn 2: Đến năm 2020 cơ bản các NHTM có mức vốn tự có theo chuẩn

mực của Basel II, trong đó có ít nhất 12-15 NHTM áp dụng thành công Basel II [125].

Theo đánh giá về tính khả thi khi yêu cầu các NHTM tuân thủ theo chuẩn

Basel II, EY Việt Nam cho rằng, mục tiêu hướng tới chuẩn Basel II vào năm 2018

không phải quá xa vời. Việc ban hành các quy tắc tính tốn vốn theo phương

pháp tiêu chuẩn của Basel II khơng phức tạp mà cái khó là ở các hệ số rủi ro cần



được thiết lập ở Việt Nam ở mức nào là phù hợp. Hơn nữa, các NHTM đều đã

thực hiện



phân tích hiện trạng và đưa ra lộ trình triển khai Basel II. Thách thức lớn nhất

hiện nay là việc NHNN có kịp ban hành các văn bản theo đúng thời hạn để các

NHTM áp dụng hay không; NHNN sẽ thiết lập các tỷ lệ an toàn ở mức độ như

thế nào để phù hợp với mặt bằng các NHTM trong nước và đánh giá đúng mức

độ ảnh hưởng đến hệ thống khi áp dụng các tiêu chuẩn trên.

Thực tế quá trình triển khai Basel của các NHTM tại Việt Nam hiện nay cho

thấy, hầu hết các NHTM đều thực hiện lộ trình triển khai theo kiến nghị của tư

vấn riêng của mỗi NHTM tùy theo điều kiện, đặc điểm của từng ngân hàng. Quá

trình triển khai gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, tuy nhiên, hầu như các NHTM

thông qua tư vấn đều tự định hướng, xử lý, không qua báo cáo và thông qua ý

kiến của NHNN, nguyên nhân có thể do (i) việc triển khai Basel là nội dung mới,

chưa có tiền lệ, vì vậy, có những khó khăn nhất định đối với cơ quan quản lý nói

chung và các NHTM nói riêng và (ii) triển khai Basel đã có lộ trình, việc báo cáo,

xin ý kiến cơ quan quản lý có thể sẽ ảnh hưởng đến quá trình triển khai cụ thể

cũng như lộ trình do NHNN quy định. Như vậy có thể thấy, trong triển khai Basel

tại Việt Nam, sự gắn kết giữa cơ quan quản lý và các NHTM chưa thực sự chặt

chẽ, phần nào có thể ảnh hưởng đến kết quả áp dụng thực tế Basel về sau.

Theo kinh nghiệm trực tiếp tham gia các dự án triển khai Basel của nhóm

tác giả tại 2 trong số 10 NHTM được lựa chọn thí điểm thực hiện, q trình triển

khai Basel hiện nay NHNN khơng đưa ra nội dung và lộ trình cụ thể, khơng có

khung chuẩn về lộ trình triển khai Basel để định hướng cho các ngân hàng để các

NHTM thực hiện, trong khi việc áp dụng các quy định của Basel về vốn, về quản lý

rủi ro là những quy định mới, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh

cũng như an toàn của các NHTM, điều này dẫn đến việc các NHTM tự thực hiện

triển khai theo kinh nghiệm, khả năng của mỗi NHTM cũng như các công ty được

thuê để tư vấn trong quá trình thực hiện. Việc các NHTM vừa làm, vừa hồn

thiện, khơng có tổng thể trong triển khai sẽ dẫn đến các khó khăn như (i) lộ

trình triển khai sẽ khó đáp ứng tiến độ và (ii) NHNN khó rà sốt, kiểm định và

chấm đạt chuẩn về sau do khơng có khung chuẩn các nội dung cần triển khai.

Việc triển khai Basel II tại các NHTM đòi hỏi phải có sự điều hành, chỉ đạo

đồng bộ gắn với lộ trình hợp lý bám sát theo mơ hình của Basel II từ phía NHNN,

như: triển khai quyết liệt, giám sát chặt chẽ và thường xuyên kết quả của 10

ngân hàng thí điểm, chủ động chỉ đạo NHTM thực hiện biện pháp cụ thể, điều



chỉnh kế hoạch, tăng cường các nguồn lực cần thiết; sớm hoàn thiện khung pháp

lý về kiểm



soát nội bộ trong NHTM; xây dựng và giám sát chặt chẽ chế độ công khai thông tin

của các NHTM; xem xét nới “room” cho khối ngoại trong các ngân hàng; tăng

cường hợp tác quốc tế để đẩy nhanh lộ trình triển khai Basel II...

4.2. Giải pháp áp dụng và hồn thiện kiểm sốt rủi ro theo Basel II của Ngân hàng

Nhà nước đối với hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam

4.2.1. Xây dựng lộ trình và khn khổ chính sách chung cho kiểm sốt rủi ro các ngân

hàng thương mại Việt Nam theo các chuẩn mực Basel II

Áp dụng chuẩn mực Basel vào hoạt động QTRR là xu thế tất yếu của các

NHTM Việt Nam trong tiến trình hội nhập. Nhận thức được điều này, NHNN đã

ban hành Thông tư 41/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 về quy định tỷ lệ an toàn

vốn đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được đánh giá là chặt

chẽ và tiếp cận với các quy định của chuẩn mực Basel II. Tuy nhiên, hiện nay

chưa có một văn bản pháp luật cụ thể ban hành về lộ trình thực hiện Basel II như

thế nào. Bởi vậy, NHNN cần phối hợp với các ban, ngành có liên quan, nghiên cứu

toàn diện thực trạng của hệ thống NHTM để đưa ra lộ trình cụ thể cho việc áp

dụng chuẩn mực Basel II tại Việt Nam. Mặc dù việc áp dụng chuẩn mực Basel ở

mức độ nào là phụ thuộc vào điều kiện, trình độ phát triển của thị trường tài

chính cũng như của hệ thống ngân hàng của mỗi quốc gia, tuy nhiên, việc

nghiên cứu và học hỏi kinh nghiệm thành công cũng như thất bại của các quốc gia

trên thế giới là rất cần thiết.

Ngân hàng Nhà nước cần xây dựng khung khổ pháp lý toàn diện và thống

nhất về hệ thống quản lý rủi ro trong NHTM Việt Nam thơng qua việc nhanh chóng

hồn thiện Thơng tư quy định về Hệ thống KSRR trong hoạt động ngân hàng của

NHNN Việt Nam, làm cơ sở để các NHTM xây dựng hệ thống KSRR của riêng mình.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần thiết phải có lộ trình cụ thể về thời gian

áp dụng Basel II trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của các nước đã triển khai,

trong đó nhấn mạnh tới việc phân loại ngân hàng trong triển khai Basel II. Mặc dù

áp dụng Basel II là cần thiết và được xác định trong Chiến lược phát triển ngành

ngân hàng 2011 - 2020, nhưng đối với một số ngân hàng có quy mơ nhỏ, trong

khoảng thời gian từ nay đến năm 2020 việc áp dụng ngay Basel II là quá sức. Do

đó, có thể áp dụng kinh nghiệm của Mỹ và Trung Quốc trong việc phân loại ngân

hàng thành 3 nhóm. Trong đó, các NH quy mơ lớn là bắt buộc thực hiện, các NH

quy mô nhỏ thực hiện khuyến khích nhưng khơng bắt buộc Basel II mà vẫn duy



trì Basel II, sau đó tiến hành hợp nhất và sáp nhập với NHTM khác để tiến tới áp

dụng Basel II.



4.2.2. Xây dựng khung pháp lý cho hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ; phân loại

nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động

ngân hàng theo chuẩn mực của Basel II

Ngân hàng nhà nước cần tiếp tục xây dựng, ban hành các văn bản hướng

dẫn triển khai Basel II; trong đó, sớm ban hành thơng tư quy định về hệ thống

kiểm soát nội bộ của ngân hàng, chi nhánh NHNN và tiếp tục dự thảo thơng tư

tính tốn vốn theo phương pháp nâng cao (FIRB) đảm bảo đúng lộ trình triển khai

Basel II đã nêu tại Đề án 1058, ban hành kèm theo Quyết định 1058/QĐ-TTg ngày

19/7/2017 của Thủ tướng Chính phủ về cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử

lý nợ xấu giai đoạn 2016 - 2020.

Mục tiêu của Đề án 1058 là: 1) Tiếp tục cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín

dụng gắn với trọng tâm là xử lý căn bản, triệt để nợ xấu và các tổ chức tín dụng

yếu kém bằng các hình thức phù hợp với cơ chế thị trường trên nguyên tắc thận

trọng, bảo đảm quyền lợi của người gửi tiền và giữ vững sự ổn định, an toàn hệ

thống; 2) Đến năm 2020, các NHTM cơ bản có mức vốn tự có theo chuẩn mực của

Basel II, trong đó ít nhất 12-15 NHTM áp dụng thành cơng Basel II (phương pháp

tiêu chuẩn trở lên); có ít nhất từ 1 đến 2 NHTM năm trong tốp 100 ngân hàng lớn

nhất trong khu vực châu Á; 3) Phấn đấu đến năm 2020 tăng gấp 2 lần tỷ trọng thu

nhập từ hoạt động dịch vụ phi tín dụng trong tổng thu nhập của các NHTM; hoàn

thành việc niêm yết cổ phiếu của các NHTM cổ phần trên thị trường chứng khoán

Việt Nam; các quỹ tín dụng nhân dân đạt mức vốn điều lệ tối thiểu 01 tỷ đồng và

4) Phấn đấu xử lý và kiểm soát nợ xấu để đến năm 2020 đưa tỷ lệ nợ xấu nội bảng

của các tổ chức tín dụng, nợ xấu đã bán cho Cơng ty quản lý tài sản của các tổ

chức tín dụng Việt Nam (VAMC) và nợ đã thực hiện các biện pháp phân loại nợ

xuống dưới 3%.

Về khuôn khổ pháp lý, mặc dù Basel II có nêu đầy đủ các chuẩn mực, yêu

cầu, nguyên tắc áp dụng, nhưng các nước vẫn cần phải đưa ra các quy định,

hướng dẫn cụ thể phù hợp với trình độ phát triển, thể chế pháp lý và đặc thù của

hệ thống ngân hàng từng nước. Do đó, NHNN cần có kế hoạch ban hành các

văn bản quy định, hướng dẫn cho các NHTM theo từng giai đoạn phù hợp với lộ

trình thực hiện Basel II do Thống đốc NHNN phê duyệt, đảm bảo các ngân hàng

triển khai thực hiện thống nhất, đồng thời làm cơ sở để NHNN thực hiện việc

giám sát, kiểm tra quá trình thực hiện Basel II.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×