Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Các loại phép thử: phân theo danh mục rủi ro, cụ thể:

Các loại phép thử: phân theo danh mục rủi ro, cụ thể:

Tải bản đầy đủ - 0trang

Hai là, rủi ro lãi suất: ST đối với rủi ro lãi suất thường được xem xét đến tác

động trực tiếp và gián tiếp của lãi suất đối với hoạt động của ngân hàng.

Tác động trực tiếp của lãi suất là tác động gây ra sự biến động trực tiếp

đối với tài sản, nguồn vốn và khoản mục ngoại bảng nhạy cảm với lãi suất. Ngoài

ra, tác động trực tiếp của lãi suất cũng là việc thay đổi giá trị tài sản của ngân

hàng do sự thay đổi của dòng tiền trong tương lai tại các mức lãi suất khác nhau.

Xác định khe hở lãi suất tại các kỳ hạn khác nhau và tính tốn khe hở cộng dồn.

Tác động gián tiếp của lãi suất là sự ảnh hưởng của lãi suất đến khả năng

trả nợ của khách hàng. Rủi ro này xảy ra khi lãi suất danh nghĩa của khoản vay tăng

lên làm tăng nghĩa vụ trả nợ của khách hàng và làm giảm khả năng trả nợ, từ đó

có thể ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của khoản vay.

Ba là, rủi ro tỷ giá: Rủi ro tỷ giá là rủi ro mà những thay đổi về tỷ giá có thể

tác động tới giá trị về tài sản và nguồn vốn trong bảng cân đối kế toán của

ngân hàng cũng như ảnh hưởng đến các khoản mục ngoại bảng. Có 3 loại rủi ro tỷ

giá: (i) rủi ro tỷ giá trực tiếp (xuất hiện khi ngân hàng có trạng thái ngoại tệ mở

ròng; (ii) rủi ro tỷ giá gián tiếp (khi khách hàng vay hoặc đối tác của ngân hàng có

trạng thái ngoại tệ mở ròng); (iii) rủi ro thanh toán ngoại tệ (khi xuất hiện khe hở

thanh khoản về ngoại tệ). Trong phạm vi khuyến nghị của IMF, nhóm nghiên cứu

xem xét ST theo phương pháp rủi ro tỷ giá trực tiếp và gián tiếp:

Rủi ro tỷ giá trực tiếp xảy ra khi TCTD có trạng thái ngoại tệ ròng. Trạng

thái ngoại tệ ròng xuất hiện khi các khoản mục tài sản có/dòng tiền vào bằng

ngoại tệ mất cân bằng với tài sản nợ/dòng tiền ra theo ngoại tệ đó. Trạng thái

ngoại tệ ròng có thể là trạng thái đoản (khi tài sản nợ/dòng tiền ra ngoại tệ lớn

hơn tài sản có/dòng tiền vào ngoại tệ) hoặc trạng thái trường (khi tài sản có/dòng

tiền vào ngoại tệ lớn hơn tài sản nợ/dòng tiền ra ngoại tệ). Như vậy, rủi ro tỷ giá

xảy ra khi ngoại tệ tăng giá đối với TCTD có trạng thái ngoại tệ đoản và khi ngoại

tệ giảm giá đối với ngân hàng có trạng thái ngoại tệ trường.

Bốn là, rủi ro thanh khoản: ST đối với thanh khoản thường tập trung chủ yếu

vào rủi ro thanh khoản thị trường và sử dụng dữ liệu cơ sở chủ yếu trên báo cáo

tài chính của ngân hàng và các dữ liệu giá trị thị trường tài sản làm dữ liệu thứ cấp.

Năm là, rủi ro lan truyền: Rủi ro lan truyền là rủi ro xảy ra cho hệ thống

ngân hàng khi một tổ chức tài chính ảnh hưởng lớn trên thị trường bị mất khả

năng thanh tốn và có thể gây hiệu ứng đổ vỡ sang các ngân hàng khác. Rủi ro lan



truyền liên ngân hàng được chia thành hai loại: rủi ro lan truyền liên ngân hàng

thuần (Pure



interbank contagion risk) và rủi ro lan truyền liên ngân hàng vĩ mô ("Macro"

interbank contagion risk).

Rủi ro lan truyền liên ngân hàng thuần đánh giá mức độ ảnh hưởng đến

hệ thống khi một ngân hàng bị đổ vỡ và khơng có khả năng thanh tốn các

khoản nợ trên liên ngân hàng, ảnh hưởng lan truyền đến các ngân hàng khác.

Rủi ro lan truyền liên ngân hàng vĩ mô đánh giá mức độ ảnh hưởng đến

hệ thống ngân hàng khi có một số ngân hàng đồng thời bị ảnh hưởng nghiêm

trọng từ các cú sốc vĩ mô dẫn đến đổ vỡ và khơng có khả năng thanh tốn các

khoản nợ trên liên ngân hàng, từ đó ảnh hưởng lan truyền đến các ngân hàng

khác.

2.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến kiểm soát rủi ro theo Basel II của Ngân hàng

Trung ương đối với ngân hàng thương mại

Để hệ thống QTRR trong hoạt động kinh doanh của các NHTM có thể vận

hành hiệu quả, thơng suốt cần đảm bảo các yếu tố từ phía ngân hàng trung ương

và các yếu tố từ nội tại các ngân hàng thương mại. Một số nhân tố cần được xem

xét để QTRR trong ngân hàng theo Basel II có khả năng thực hiện và đạt kết quả cao

như sau:

2.3.1. Nhân tố tư phía Ngân hàng Trung ương

Kế hoạch triển khai KSRR theo Basel II

Việc triển khai và giám sát theo Basel II là một quá trình liên tục, thường

xuyên, đầy đủ và thống nhất trên cơ sở phù hợp với đặc điểm của từng quốc gia

và hệ thống tài chính ngân hàng của quốc gia đó. Áp dụng Basel II khơng thể là

cơng việc “một sớm một chiều”, hay công việc của chỉ riêng một cá nhân, một

bộ phận mà cần sự tham gia của toàn hệ thống từ cấp NHTW tới các cấp NHTM

trong một khoảng thời gian dài và liên tục.

Thời điểm triển khai cũng như lộ trình áp dụng có tác động không nhỏ tới

hiệu quả áp dụng Basel II. Cần phải có lộ trình khả thi, áp dụng tùy điều kiện kinh tế

từng giai đoạn, thực hiện báo cáo đánh giá tác động của Basel II tới vốn, kiểm tra

sức chịu đựng của các tổ chức tín dụng để ước lượng nhu cầu vốn trong từng hoàn

cảnh [81].

Khung thể chế về kiểm soát ngân hàng

Khung thể chế và pháp luật về kiểm soát ngân hàng đầy đủ và phù hợp

sẽ xác định được mục tiêu giám sát của cơ quan giám sát NHTW một cách rõ



ràng; một chính sách lành mạnh bền vững sẽ không gây ảnh hưởng bất lợi cũng

như gia tăng rủi ro và cản trở hoạt động kinh doanh của NHTM trong tiến trình áp

dụng các chuẩn mực quốc tế theo Basel II.



Khuôn khổ pháp lý các thị trường liên quan chưa đồng bộ thì việc áp

dụng Basel II sẽ gặp rất nhiều khó khăn, thách thức. Bản thân những yêu cầu trong

Basel II được xây dựng và thiết kế dựa trên kinh nghiệm của các thị trường phát

triển vì vậy sẽ có những nội dung khơng phù hợp với thị trường đang phát triển.

Do đó khi áp dụng vào các quốc gia có nền kinh tế chưa phát triển cần phải có sự

điều chỉnh [117].

Kỷ luật thị trường và mức độ độc lập của cơ quan giám sát ngân hàng

Kỷ luật thị trường và mức độ độc lập có hiệu quả xác định rõ ràng trách

nhiệm của cơ quan giám sát và ngân hàng, đảm bảo tính minh bạch cho hoạt

động ngân hàng và cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động ngân hàng.

2.3.2. Môi trường kinh tế xã hội

Các yếu tố khách quan từ môi trường kinh tế vĩ mơ làm thị trường tài

chính ngân hàng thay đổi nhanh, chịu tác động lớn từ bên ngồi do q trình

hội nhập khiến việc dự báo các diễn biến liên quan đến RRTD trở nên khó

khăn và kém chính xác hơn, ví dụ như tỷ giá, lãi suất, các cú sốc khiến dự báo

càng khó khăn và phức tạp [67. tr. 69].

Vấn đề khủng hoảng kinh tế khơng chỉ kéo dài nhiều năm mà có tác động

to lớn, thậm chí khơng thể tính tốn được. Đó chính là sự sụp đổ của các trung

gian tài chính, những ngân hàng đầu tư lớn đã hoạt động hàng trăm năm và có tác

động đến nền tài chính tồn cầu.

Triển khai Basel II trong giai đoạn khó khăn của nền kinh tế với nhiều biến

động trong hệ thống tài chính ngân hàng, nợ xấu tăng cao sẽ khó khăn hơn do

yêu cầu về vốn tăng cao. Trong bối cảnh này, để có thể áp dụng Basel II hiệu quả

cần phải có lộ trình khả thi, áp dụng tuỳ điều kiện kinh tế từng giai đoạn, thực

hiện báo cáo đánh giá tác động của Basel II tới vốn, kiểm tra sức chịu đựng của

các tổ chức tín dụng để ước lượng nhu cầu của vốn trong từng hoàn cảnh.

2.3.3. Nhân tố tư hoạt động của ngân hàng thương mại

Hệ thống dữ liệu thơng tin về hoạt động của tồn bộ hệ thống ngân hàng

Việc thu thập và lưu trữ dữ liệu là rất quan trọng và có ý nghĩa quyết

định trong triển khai thực hiện Basel II của tất cả các NHTM. Các NHTM phải đáp

ứng cơ sở liệu dữ liệu đã được kiểm toán một cách đầy đủ và phù hợp với các

nguyên tắc và chuẩn mực tiêu chuẩn chất lượng dữ liệu của Basel II. Thực tế được

quan sát ở hầu hết các nước khi triển khai áp dụng Basel II, dữ liệu hiện có của



các NHTM thường khơng đáp ứng được yêu cầu về dữ liệu của Basel II và các

NHTM đều phải chấp nhận chi phí tài chính và thời gian thực khơng nhỏ để

chuẩn hóa hệ thống dữ



liệu và các thông tin theo yêu cầu của Basel II. Đối với các NHTM ở các nước đang

phát triển, do sự khác biệt về môi trường pháp lý và môi trường kinh doanh,

hệ thống thông tin dữ liệu thường không đầy đủ, chưa thống nhất và đặc biệt

chưa phù hợp với thông lệ quốc tế. Do vậy, đây là chính một thách thức lớn đầu

tiên của các NHTM ở các nước này trước yêu cầu triển khai áp dụng Basel II.

Hệ thống phần mềm xử lý dữ liệu và định lượng rủi ro

Tiếp theo những thách thức về sự chuẩn hóa hệ thống thơng tin dữ liệu là

khả năng xử lý thông tin phục vụ cho việc giám sát và quản lý theo Basel II: các

NHTM cần phải có được những điều kiện cơ sở vật chất, đặc biệt về hạ tầng

công nghệ phù hợp. Đây cũng là một thách thức không nhỏ đối với các NHTM,

đặc biệt ở các nước đang phát triển. Khi các NHTM chưa có các điều kiện đầy đủ

về trang thiết bị kỹ thuật và hệ thống phần mềm để xử lý dữ liệu để có thể lượng

hóa mức độ rủi ro trong hoạt động kinh doanh thì khơng thể áp dụng Basel II để

kiểm soát ngân hàng. Những hạn chế về trang thiết bị cần thiết và các phần mềm

tương ứng sẽ khơng thể áp dụng các mơ hình định lượng để xác định các chỉ số

tài chính, và khơng thể ra quyết định kinh doanh đúng đắn trên cơ sở đó. Hơn

nữa, sự đáp ứng về cơ sở vật chất và cơng nghệ của các NHTM còn là điều kiện

để cho cán bộ ngân hàng có thể có thu thập và xử lý hệ thống thông tin, dữ liệu

cập nhật cho phép thực hiện theo dõi thường xuyên, dự báo chính xác và đầy đủ

về xu hướng vận động của nền kinh tế. Từ đó có thể đo lường về mức độ rủi ro

và xây dựng các biện pháp để chủ động và kịp thời xử lý. Ngồi ra, cơng nghệ hiện

đại còn góp phần làm tăng tính thơng suốt của hệ thống thông tin trong nội bộ

ngân hàng và kết nối ngân hàng với thị trường tài chính trong nước và quốc tế,

cho phép thực hiện các nghiệp vụ giao dịch kinh doanh và phòng chống rủi ro

một cách hiệu quả nhất.

Chất lượng nguồn nhân lực để áp dụng Basel II

Chất lượng nguồn nhân lực, bao gồm cả nguồn nhân lực làm việc tại

các NHTM và nguồn nhân lực làm việc tại NHTW và các cơ quan giám sát ngân

hàng (CQGSNH), cũng là một trong những nhân tố quan trọng quyết định tới sự

thành công của việc triển khai áp dụng Basel II đồng thời cũng là một thách thức

không nhỏ.

Chất lượng nguồn nhân lực làm việc tại NHTW và các CQGSNH trước hết

ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng KSRR của các NHTM theo Basel II trên giác độ



thu thập và xử lý hệ thống dữ liệu từ các NHTM, xử lý hệ thống dữ liệu, diễn giải

các chỉ tiêu tài chính định lượng giúp cho việc ra các quyết định giám sát của

NHTW cũng như các CQGSNH theo các quy định của Basel II. Nguồn nhân lực



làm việc tại các cơ quan này cần đáp ứng các yêu cầu khơng chỉ nhận thức đầy

đủ mục đích, ý nghĩa và nội dung của Basel II mà còn phải có đủ năng lực và

phẩm chất để thực hiện chức năng giám sát hoạt động của các NHTM theo các

nguyên tắc và chuẩn mực của Basel II. Đây là một thách thức không nhỏ, đặc biệt

ở các nước mà cơ chế giám sát ngân hàng được xây dựng trên cơ sở các quy

định mang tính hành chính, chủ yếu dựa vào các báo cáo của các NHTM, các

tiêu chí định tính hoặc định lượng.

Chất lượng của nguồn nhân lực làm việc tại các NHTM lại có được coi là

nhân tố quan trọng nhất quyết định đến năng lực QTRR của mỗi NHTM và toàn bộ

thị trường ngân hàng. Nguồn nhân lực tại các NHTM là yếu tố quyết định đến năng

lực kinh doanh và QTRR của các NHTM theo các chuẩn mực của Basel II. Nguồn

lực này bao gồm cả ban lãnh đạo, đội ngũ cán bộ QTRR và toàn bộ cán bộ công

nhân viên tham gia vào hoạt động kinh doanh của NHTM. Thứ nhất, QTRR, nhất là

QTRR theo Basel II, chỉ có thể được thực hiện tốt xuất phát từ quan điểm, sự

ưu tiên và được quyết định bởi ban lãnh đạo ngân hàng. Thứ hai, là chất lượng

chuyên mơn, tính chun nghiệp và ý thức nghề nghiệp của cán bộ nhân viên

trực tiếp vận hành các nghiệp vụ kinh doanh và QTRR luôn là những người quyết

định đến chất lượng và hiệu quả kinh doanh, các tác nghiệp cụ thể trong các hoạt

động kinh doanh nói chung và quy trình QTRR nói riêng. Từ sàng lọc lựa chọn

khách hàng, nghiên cứu phát triển sản phẩm và kênh phân phối đến nhận biết, đo

lường, kiểm soát và xử lý rủi ro theo quy định của Basel II đều do đội ngũ cán bộ

nhân viên ngân hàng thực hiện. Để các NHTM có thể tự quản trị theo Basel II, đội

ngũ cán bộ nhân viên của các NHTM cần phải có đủ năng lực vận hành tác

nghiệp, sử dụng cơng nghệ hiện đại để thu thập và xử lý thông tin, lượng hóa các

chỉ tiêu tài chính và rủi ro phục vụ lãnh đạo ra quyết định. Một cách ngắn gọn,

việc áp dụng các nguyên tắc và chuẩn mực Basel II trong hoạt động kinh doanh và

QTRR, chất lượng nguồn nhân lực của các NHTM cần phải được tiêu chuẩn hóa và

để thực hiện điều này, các NHTM cần phải chi phí những khoản đầu tư khơng nhỏ để

đào tạo lại và chuẩn hóa nguồn nhân lực.

Nguồn lực tài chính cho việc áp dụng Basel II

Để triển khai áp dụng thành công Basel II, các NHTM phải vượt qua tất cả

những khó khăn và thách thức nêu trên đây, do đó phải chấp nhận những khoản

chi phí tài chính rất lớn và đây là thách thức hết sức quan trọng. Khơng có nguồn



lực tài chính đủ lớn, NHTW, các CQGSNH và các NHTM không thể đầu tư trang

thiết bị công nghệ, không thể đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để

đảm bảo việc



xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đầy đủ, thống nhất, công khai minh bạch, phù

hợp với các yêu cầu của Basel II. Các NHTM không thể thực hiện QTRR theo Basel

II, trong khi NHTW và các CQGSNH khơng có đủ các điều kiện để giám sát rủi ro

của các NHTM theo các quy định của Hiệp ước này.

Khi triển khai áp dụng Basel II, chi phí thực hiện các chuẩn mực tài chính và

phi tài chính đối với các NHTM, NHTW và các CQGSNH là rất lớn. Đối với

NHTW và các cơ quan CQGSNH, ngồi nhứng khoản chi phí hành chính (ban hành

các quy định, cơ sở pháp lý cho việc giám sát, quy trình tác nghiệp...) sẽ còn bao

gồm những khoản chi phí đào tạo, tập huấn nâng cao trình độ nghiệp vụ của các

cán bộ thanh tra giám sát, chi phí vận hành các nghiệp vụ giám sát theo phương

thức và các tiêu chuẩn mới. Đối với các NHTM, việc triển khai áp dụng QTRR theo

Basel II thực sự là một dự án rất lớn và chi phí cần có để trang trải cho tất cả quá

trình, bao gồm từ việc đánh giá thực trạng về khả năng áp dụng, xây dựng các

phương án áp dụng đến chi phí thực hiện sau khi đã đánh giá và lựa chọn phương

án áp dụng. Khơng chỉ phải chi phí để thiết lập lại cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin

phù hợp, nhiều NHTM còn phải đổi mới mơ hình tổ chức, tiêu chuẩn hóa nguồn

nhân lực, tăng vốn điều lệ và chấp nhận chi phí cao hơn rất nhiều khi tuân thủ các

quy định QTRR theo Basel II.

Như vậy, có thể nói rằng chi phí tài chính cho việc triển khai áp dụng Basel

II đối với cả phía thực hiện giám sát (NHTW và các CQGSNH) cũng như đối với

thực hiện QTRR của các NHTM là rất lớn. Điều này sẽ làm cho chi phí hoạt động

trong lĩnh vực ngân hàng sẽ tăng cao và đây là một thách thức rất lớn đối với

nhiều nước, làm giảm động lực triển khai áp dụng Basel II. Trên thực tế ở một số

nước, chỉ những NHTM lớn, có tiềm lực tài chính mạnh mới có thể triển khai và

tuân thủ áp dụng Basel II.

2.4. Kinh nghiệm kiểm soát rủi ro theo Basel II tại một số quốc gia trên thế giới và

bài học cho Việt Nam

2.4.1. Kinh nghiệm kiểm soát rui ro theo Basel II của một số quốc gia trên

thế giới

2.4.1.1. Kinh nghiệm của Mỹ

Kết quả đạt được

Ở Mỹ, các ngân hàng hoạt động trong một hệ thống quản lý ngân hàng

kép, nghĩa là cả chính quyền liên bang và tiểu bang đều có quyền kiểm soát đối với



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Các loại phép thử: phân theo danh mục rủi ro, cụ thể:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×