Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Những thay đổi cơ bản của Hiệp ước vốn Basel III so với Basel II

Những thay đổi cơ bản của Hiệp ước vốn Basel III so với Basel II

Tải bản đầy đủ - 0trang

rủi ro hệ thống và các biến cố đi kèm đã được tính đầy đủ vào các mơ hình đo

lường rủi ro và mơ hình đánh giá các ngân hàng.



2.2.3.2. Mục đích của KSRR của NHTW đối với hoạt động của các NHTM

theo Basel II

Hiệp ước vốn Basel đưa ra các nguyên tắc chung và các chuẩn mực về giám

sát rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các NHTM. Bằng việc đặt ra mức an toàn

vốn tối thiểu và hệ thống các tiêu chuẩn, theo đó, Hiệp ước vốn Basel được coi là

sự “lượng hóa một cách sáng tạo” làm giảm nhẹ những khó khăn trong việc

đánh giá và KSRR. Nói cách khác, Hiệp ước vốn đã tạo điều kiện thuận lợi với

những cơ sở vững chắc cho hoạt động thanh tra và giám sát ngân hàng một cách

khách quan và hiệu quả hơn.

Hiệp ước vốn Basel đã cung cấp cho các NHTM cơ hội để đạt được lợi thế

cạnh tranh bằng cách phân bổ vốn kinh doanh cho các khách hàng hoặc nhóm

khách hàng, cho các phân đoạn và các thị trường. Quan trọng hơn, áp dụng các

chuẩn mực vốn Basel, các NHTM sẽ xác định được mối quan hệ (tỷ lệ) tối ưu

giữa rủi ro và hiệu quả đối với mỗi hay mỗi nhóm khách hàng, mỗi phân đoạn thị

trường. Qua đó giúp các NHTM có thể xây dựng được chính sách đối với các đối

tượng khách hàng cụ thể, cũng như phát triển các loại sản phẩm và quy trình cung

cấp có thể mang lại những lợi ích kinh doanh tiềm năng nhất cho mỗi NHTM mà

vẫn đảm bảo sự an toàn. Hiệp ước vốn Basel luôn được cập nhật để phù hợp

với sự phát triển của hệ thống tài chính gắn với sự phát triển kinh tế - xã hội

của mỗi nước cũng như nền kinh tế tồn cầu.

Có thể thấy, các u cầu về quản lý rủi ro của Hiệp ước vốn Basel nhằm mục

đích mang tới những thay đổi đáng kể, đặc biệt là đảm bảo sự an toàn trong

hoạt động kinh doanh căn bản của mỗi NHTM riêng lẻ cũng như trong toàn bộ hệ

thống ngân hàng của một quốc gia và hệ thống ngân hàng toàn cầu. Hơn nữa,

Hiệp ước vốn Basel đặt ra trách nhiệm giám sát cụ thể của hội đồng quản trị và cơ

quan quản lý cấp cao của NHTM, do đó tăng cường nguyên tắc của KSNB và

quản trị doanh nghiệp khác theo yêu cầu của các cơ quan quản lý nhà nước ở các

nước khác nhau trên toàn thế giới.

Hiệp ước vốn Basel đặt ra yêu cầu và khuyến nghị công khai thông tin trong

một số lĩnh vực, bao gồm cả cách ngân hàng tính tốn an toàn vốn và phương

pháp đánh giá rủi ro của ngân hàng. Đồng thời, Ủy ban Basel cũng đảm bảo

rằng Hiệp ước vốn Basel tương ứng với các chuẩn mực kế tốn, khơng xung đột



với các tiêu chuẩn về cơng khai thơng tin kế tốn rộng hơn mà các NHTM phải

tuân thủ theo quy định của mỗi nước.



Tuy nhiên, trên thực tế, Hiệp ước vốn Basel cũng đặt ra những thách thức

về khả năng tuân thủ của các NHTM của nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở các

nước đang phát triển. Cụ thể là hàng loạt những hạn chế về quy mô, phạm vi

hoạt động kinh doanh và các thách thức về quản lý rủi ro (theo Basel I) của các

NHTM, trong khi có thể mang các cơ hội đến cho các đối thủ cạnh tranh phi

ngân hàng, khách hàng,... Để có thể triển khai Hiệp ước vốn Basel hiệu quả, tất

cả các NHTM cần phải xác định lại chiến lược kinh doanh của họ cũng như các rủi

ro tiềm ẩn.

2.2.4. Nội dung kiểm soát rủi ro của Ngân hàng Trung ương đối với ngân hàng

thương mại theo Basel II

Trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Basel II, hoạt động KSRR của NHTW

đối với NHTM được nghiên cứu trên 3 khía cạnh tương ứng với 3 trụ cột trong

Basel II [3, tr.17]. Đó là:

2.2.4.1. Yêu cầu vốn tối thiểu - Trụ cột thứ nhất của Basel II

Nội dung của Hiệp ước vốn Basel II với ý nghĩa là chuẩn mực QTRR trong

hoạt động kinh doanh của NHTM. Trụ cột thứ nhất-Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của

Hiệp ước Basel II yêu cầu NHTM phải duy trì một lượng vốn đủ lớn để đảm bảo cho

hoạt động rủi ro của mình, gồm RRTD, RRHĐ và RRTT. Tương tự Basel I, Basel II vẫn

quy định mức an toàn vốn (CAR) ≥ 8%.

Phương trình mức vốn yêu cầu tối thiểu theo Basel II là:



Trong đó: Tổng vốn tự có của ngân hàng được chia làm 02 loại:

Vốn cấp 1 - Vốn tự có cơ bản: gồm cổ phần thường; cổ phần ưu đãi dài

hạn; thặng dư vốn; lợi nhuận khơng chia; dự phòng chung các khoản dự trữ vốn

khác; các phương tiện ủy thác có thể chuyển đổi và dự phòng lỗ tín dụng. Đó chính

là vốn điều lệ và các quỹ dự trữ được công bố.

Vốn cấp 2 - Vốn tự có bổ sung: có chất lượng thấp hơn, gồm: dự trữ

không được công bố; dự trữ tài sản đánh giá lại; dữ phòng chung/dự phòng tổn

thất cho vay chung; các công cụ vốn lai (nợ/vốn chủ sở hữu); nợ thứ cấp. Tuy

nhiên, khoản nợ ngắn hạn không có bảo đảm khơng nằm trong định nghĩa về vốn

này.



Giới hạn về 02 loại vốn: Tổng vốn cấp 2 không được quá 100% vốn cấp 1; nợ

thứ cấp tối đa bằng 50% vốn cấp 1; dự phòng chung tối đa bằng 1,25% tài sản có rủi

ro (RwA); dự trữ tài sản đánh giá lại được chiết khấu 55%; thời gian đáo hạn còn lại

của nợ thứ cấp tối thiểu là 5 năm; vốn ngân hàng không bao gồm vốn vô hình.



RWA: Ngồi rủi ro tín dụng và rủi ro thị trường đã quy định tại Basel I,

Basel II bổ sung thêm RRHĐ. Ngồi ra, cách tính RWA trong Basel II cũng phức

tạp hơn. Để đo lường và tính tốn mức độ rủi ro đối với các khoản mục tài sản

có RRTD, có 03 phương pháp có thể lựa chọn: Phương pháp chuẩn



hóa



(Standardized); Phương pháp dựa trên hệ thống xếp hạng nội bộ cơ bản (F-IRB);

Phương pháp xếp hạng nội bộ nâng cao (A-IRB).

Phương pháp chuẩn

Phương trình đo lường RRTD với tài sản có rủi ro theo phương pháp chuẩn

So với Basel I, có một số điểm khác biệt sau:

Trong Basel II, kết quả đánh giá của tổ chức XHTD độc lập được sử dụng

khi xếp hạng cho tài sản có rủi ro. Tuy nhiên, không thực hiện việc áp đặt hệ số rủi

ro rõ ràng cho từng khoản mục mà tùy thuộc vào việc khoản mục đó được thực

hiện với chủ thể nào, uy tín và XHTD của chủ thể. Việc xếp trọng số bao nhiêu tùy

thuộc mức độ tín nhiệm của chủ nợ (từ AAA đến dưới B - và khơng xếp hạng) do

cơ quan xếp hạng tín nhiệm quy định. Trong trường hợp khơng có kết quả xếp

hạng của tổ chức xếp hạng độc lập thì một khoản mục tài sản có sẽ phải chịu hệ số

rủi ro 100%.

Nợ cho vay được chia thành 05 nhóm, có thêm hệ số 150%. Các trọng số

lần lượt là 0%, 20%, 50%, 100% và 150%. Đối với các khoản nợ quá hạn, phải đưa

vào nhóm có hệ số rủi ro 150%, trừ trường hợp ngân hàng đã lập dự phòng đầy

đủ.

Phương pháp xếp hạng nội bộ (IRB)

Basel II cho phép ngân hàng lựa chọn phương pháp XHTD nội bộ (IRB) của

mình để xác định dư nợ của khách, xác suất vỡ nợ, kỳ đáo hạn hiệu dụng, tỷ

trọng tổn thất tín dụng, từ đó tính tốn tài sản có RRTD.

Khác biệt lớn nhất của phương pháp IRB và phương pháp chuẩn hóa chính

là việc ngân hàng được sử dụng kết quả đánh giá nội bộ về các yếu tố rủi ro chủ

yếu trong hoạt động để tính tốn CAR. Tuy nhiên, ngân hàng muốn áp dụng

phương pháp IRB cần có sự chấp thuận của cơ quan giám sát ngân hàng (như

thanh tra ngân hàng hoặc NHNN). Phương pháp này phù hợp với ngân hàng với

nhiều quy mô khác nhau, nhiều cấu trúc doanh nghiệp khác nhau và danh mục rủi

ro khác nhau.



Phương trình đo lường RRTD của tài sản có rủi ro theo phương pháp IRB

Trong đó:

EAD: Tổng dư nợ của khách hàng khi khách hàng không trả được nợ;



K (Capital required): Tỷ lệ vốn cần thiết để dự phòng những trường hợp

RRTD không lường trước nhưng lại xảy ra, được xác định thông qua: (1) Xác suất

vỡ nợ (PD: Probability of Defaut); (2) Tổn thất khi xảy ra vỡ nợ (LGD: Loss Given

Defaut); (3) Đáo hạn hiệu dụng (Maturity).

RWA: Được xác định cụ thể cho từng hình thức cho vay. RWA khác biệt đối với

doanh nghiệp vừa và nhỏ, cũng như đối với các khoản cho vay đối với doanh nghiệp

lớn

Ủy ban Basel đưa ra 2 lựa chọn cho ngân hàng khi áp dụng IRB, một là IRB

cơ bản và hai là IRB nâng cao. Cụ thể:

Với IRB cơ bản, các ngân hàng phải tự ước tính PD và sử dụng các ước tính

của cơ quan giám sát về các thành tố rủi ro còn lại.

Với IRB nâng cao, ngân hàng sẽ tự đưa ra các ước tính cho tất cả các thành

tố rủi ro (gồm PD, LGD, EAD, M), nhưng phải tuân theo các chuẩn mực tối thiểu.

KSRR thị trường

Rủi ro thị trường xảy ra do giá cả biến động thất thường, gắn với 04 rủi ro

cơ bản là (1) rủi ro lãi suất; (2) rủi ro trạng thái vốn; (3) rủi ro tỷ giá; (4) rủi ro hàng

hóa.

Vốn u cầu đối với RRTT: Ngồi vốn tự có theo Basel I gồm vốn cấp 1 &

vốn cấp 2, khi đánh giá RRTT, ngân hàng được phép tính thêm phần vốn cấp 3 gồm

các khoản nợ phụ thuộc ngắn hạn với mục đích dự trữ.

Phương pháp chuẩn hóa

u cầu vốn đối với RRTT theo phương pháp chuẩn hóa được xem xét đối

với từng yếu tố rủi ro gồm: rủi ro lãi suất; rủi ro trạng thái vốn; rủi ro tỷ giá; và rủi

ro hàng hóa.

Việc tính tốn u cầu vốn đối với RRTT được thực hiện bằng cách lấy phần

ước tính RRTT nhân với 12,5 và cộng vào kết quả tổng tài sản có rủi ro tương ứng

với RRTD. Trong đó, RRTT được đo lường phổ biến bằng giá trị VaR.

Phương pháp mơ hình nội bộ

Để sử dụng mơ hình nội bộ để đánh giá RRTT, các NHTM cần sự đồng ý từ

phía cơ quan giám sát ngân hàng. Yêu cầu tối thiểu mà các NHTM phải đáp ứng là:

Có hệ thống QTRR tương thích, hiện đại và đầy đủ dữ liệu cần thiết;

Có đủ số lượng chuyên viên được trang bị kỹ năng sử dụng các mơ hình

phức tạp khơng chỉ trong giao dịch mà còn trong QTRR, kiểm tốn;



Mơ hình của ngân hàng được cơ quan giám sát đánh giá có chất lượng,

đã qua kiểm tra về tính hợp lý và chính xác khi đo lường rủi ro;



Khi đã được chấp thuận thực hiện phương pháp mơ hình nội bộ, ngân

hàng phải xây dựng mơ hình QTRR theo tiêu chuẩn sau: i) Đối với rủi ro lãi suất:

Xác định nhân tố ảnh hưởng tới lãi suất mỗi đồng tiền liên quan tới danh mục đầu

tư của ngân hàng trên cơ sở nhạy cảm rủi ro lãi suất, kể cả khoản mục trong và

ngồi bảng cân đối kế tốn; ii) Đối với rủi ro tỷ giá (bao gồm biến động giá

vàng): Hệ thống QTRR phải kết hợp các nhân tố rủi ro liên quan tới từng loại tiền

riêng lẻ; iii) Đối với rủi ro giá cả hàng hóa: Phải thiết kế được hệ thống theo dõi

biến động giá cả loại hàng hóa đó trên phạm vi thế giới, vị thế mua bán hoặc lời

lỗ đối với từng giao dịch liên quan tới sự biến động này.

Kiểm soát rủi ro hoạt động

Theo Basel II, có 03 phương pháp để ngân hàng lựa chọn tính tốn vốn

dự phòng cho QTRR hoạt động với mức độ phức tạp và nhạy cảm với rủi ro

tăng dần: (1) Phương pháp chỉ số cơ bản; (2) Phương pháp chuẩn hóa; (3)

Phương pháp nâng cao.

Việc lựa chọn phương pháp cần phụ thuộc vào mức độ phức tạp trong

hoạt động của ngân hàng. Cần lưu ý rằng, ngân hàng, khi đã được chấp thuận sử

dụng phương pháp nâng cao, sẽ không được phép chuyển ngược trở lại phương

pháp đơn giản.

Phương pháp chỉ số cơ bản BIA

Đối với phương pháp này thì cần duy trì mức vốn để dự phòng rủi ro

hoạt động bằng mức bình qn tổng thu nhập hàng năm (> 0) của thời kỳ 03

năm trước đó nhân với tỷ lệ phần trăm cố định (gọi là alpha - α).

Phương trình vốn dự phòng RRHĐ trong phương pháp chỉ số cơ bản



Trong đó: KBIA: Vốn yêu cầu phải dự phòng cho RRTN theo BIA GIn:

Tổng thu nhập có giá trị dương (> 0) của 03 năm trước đó

n: Số năm trong 03 năm có thu nhập hàng năm > 0

α: Trọng số rủi ro cố định theo BIA, bằng 15%

Phương pháp chuẩn hóa TSA

Theo phương pháp chuẩn hóa, các nội dung hoạt động của ngân hàng

được chia thành 08 lĩnh vực và mỗi lĩnh vực sẽ có một hệ số Beta - β tương ứng.



Bảng 2.2. Hệ số β trong phương pháp chuẩn đối với rủi ro hoạt động

Lĩnh vực



Hệ số Beta - β



Tài trợ doanh nghiệp (β1)



18%



Giao dịch và bán hàng (β2)



18%



Ngân hàng bán lẻ (β3)



12%



Nghiệp vụ NHTM (β4)



15%



Dịch vụ thanh toán (β5)



18%



Dịch vụ đại lý (β6)



15%



Quản trị tài sản (β7)



12%



Môi giới (β8)



12%

Nguồn: [104]



Trong mỗi lĩnh vực, tổng thu nhập GI là một chỉ số phổ biến, coi như một

thước đo cho hoạt động và cũng là căn cứ xác định mức độ rủi ro cho hoạt động

đó. Mức độ rủi ro hàng năm được đo cho từng loại nghiệp vụ.

Phương trình: Vốn dự phòng rủi ro hoạt động trong phương pháp chuẩn hóa



Trong đó: KTSA: Vốn u cầu dự phòng cho RRTN theo TSA GIi:

Thu nhập hàng năm đối với từng nhóm lĩnh vực

βi: Tỷ lệ cố định do Ủy ban quy định, thể hiện mối tương quan giữa mức vốn

cần có với mức thu nhập của từng lĩnh vực kinh doanh cụ thể.

Phương pháp nâng cao AMA

Phương pháp AMA là lựa chọn tốt nhất khi tính tốn nhu cầu vốn

cho RRTN. Theo phương pháp này, vốn cho RRTN được tính dựa trên hệ thống

đánh giá nội bộ RRTN cơ bản của ngân hàng. Hệ thống này không chỉ thống kê

thiệt hại bên trong và bên ngồi thực tế mà còn phân tích theo trình tự thời gian

các yếu tố liên quan đến mơi trường kinh doanh cũng như mơi trường kiểm sốt

nội bộ ngân hàng. Tuy nhiên, để sử dụng phương pháp này, ngân hàng phải được

sự đồng ý và giúp đỡ của cơ quan giám sát chủ quản. Do đó, AMA ít phổ biến hơn

so với TSA.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Những thay đổi cơ bản của Hiệp ước vốn Basel III so với Basel II

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×