Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thứ ba, nhóm các công trình nghiên cứu về giám sát thị trường tài chính, thanh tra, giám sát ngân hàng

Thứ ba, nhóm các công trình nghiên cứu về giám sát thị trường tài chính, thanh tra, giám sát ngân hàng

Tải bản đầy đủ - 0trang

nhưng vẫn tồn tại nhiều hạn chế, trong đó nổi bật là những hạn chế về cơ cấu tổ

chức; phương pháp thanh tra, giám sát ngân



hàng; khung pháp lý đối với hoạt động của thanh tra ngân hàng và chất lượng đội

ngũ thanh tra, giám sát.

Lê Xuân Sang (2013),“Tái cơ cấu hệ thống giám sát thị trường tài chính Việt

Nam” [67] đã ra chỉ một trong những nguyên nhân dẫn tới bất ổn và khủng hoảng

tài chính - tiền tệ xuất phát từ sự giám sát tài chính yếu kém, các chuẩn mực,

thông lệ quốc tế về giám sát trong ngân hàng đã bị coi nhẹ, đặc biệt vẫn chưa

áp dụng các công cụ phục vụ cho giám sát an tồn vĩ mơ và giám sát an tồn vi mơ,

nhất là đối với giám sát dựa trên rủi ro. Các mơ hình phân tích định lượng, dự báo,

kiểm định (như Mơ hình cảnh báo sớm khủng hoảng - Early Warning System EWS;

Kiểm định khả năng chịu đựng rủi ro của các NHTM trước những cú sốc tài

chính, tiền tệ (Stress Test – ST); Giá trị có thể tổn thất (Varlue at Risk - VAR) cho cả

hệ thống tài chính và cho từng định chế tài chính / danh mục đầu tư hầu như chưa

được phát triển, áp dụng. Qua đánh giá, tác giả đã đưa ra giải pháp nhằm tái cơ cấu

hệ thống giám sát tài chính Việt Nam, trong đó cần áp dụng rộng rãi chuẩn mực

quốc tế và bảo đảm tính thực thi trong áp dụng chuẩn mực kế tốn, kiểm tốn quốc

tế.

Các cơng trình nghiên cứu nước ngoài

Nghiên cứu của Gayani Godellawatta (2007) cũng đưa ra những thách

thức đối với các ngân hàng thương mại và cơ quan giám sát trong việc thực hiện

Trụ cột 2 của Basel II. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc thực hiện trụ cột 2

của Basel II cần rất nhiều nỗ lực của tồn bộ hệ thống tài chính, cũng như đòi hỏi

sự cố gắng và quyết tâm của các cơ quan quản lý nhà nước liên quan. Chính sự

khác biệt về mơ hình quản lý đặc thù của từng quốc gia đã khiến cho việc áp

dụng các nguyên tắc trong thanh tra, giám sát ngân hàng theo trụ cột 2 trở nên

khó khăn. Các quốc gia mong muốn rằng việc áp dụng trụ cột 2 sẽ giúp mở rộng

và phát triển hệ thống giám sát, thanh tra ngân hàng hiện có chứ khơng phải là

xây dựng lại hồn toàn một hệ thống thanh tra, giám sát mới.

Nghiên cứu của Elizabeth Roberts (2008) đã chỉ ra những thách thức mà các

nền kinh tế mới nổi sẽ gặp phải khi tiến hành áp dụng những nguyên tắc của trụ

cột 2 trong Basel II vào hoạt động thanh tra, giám sát ngành ngân hàng đó là:

(1) sự khác biệt trong hệ thống các quy định, văn bản pháp luật; (2) chất

lượng nguồn nhân lực; (3) tạo lập “mơi trường bình đẳng” giữa các ngân hàng



thương mại; và (4) mức độ minh bạch của nền kinh tế và hoạt động của hệ thống

ngân hàng.

Nghiên cứu của Manuel Chavez (2007) [117] đã chỉ ra rằng, mặc dù trụ cột

2 của Basel II đã được xây dựng hoàn chỉnh, được quy định chi tiết trong nhiều

văn



bản, tài liệu khác nhau, nhưng việc áp dụng tại các quốc gia vẫn gặp nhiều khó

khăn do các quy định đặc thù cũng như cơ cấu tổ chức của từng quốc gia. Việc

áp dụng các nguyên tắc của trụ cột 2 này rất đa dạng ở từng khu vực khác nhau.

Ngoài ra, tác giả cũng chỉ rõ rằng quy trình đánh giá mức độ đủ vốn nội bộ

(ICAAP) theo nguyên tắc thứ nhất của trụ cột 2 đạt được hiệu quả khi mà có sự

chia sẻ thơng tin hoàn hảo giữa cơ quan giám sát và các tổ chức tín dụng trong

nước.

1.2. Đánh giá tình hình nghiên cứu

Tổng quan các cơng trình nghiên cứu phân theo 3 nhóm ở mục 1.1 cho thấy:

Thứ nhất, đa số các công trình nghiên cứu nhóm thứ nhất đi sâu nghiên

cứu về các loại hình rủi ro (rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro hoạt động…) trong

hoạt động của NHTM. Các cơng trình chỉ tập trung nghiên cứu vào việc QTRR tại

một ngân hàng riêng biệt (Agribank, Vietinbank…) mà chưa đề cập tới nội dung

KSRR của cả hệ thống. Do vậy, các giải pháp và gợi ý chính sách của nhóm các cơng

trình này cũng tập trung vào việc tăng cường QTRR hoặc nâng cao năng lực QTRR

đối với một hay một số loại hình rủi ro khác nhau trong hoạt động kinh doanh

của một NHTM cụ thể.

Thứ hai, các cơng trình nghiên cứu của nhóm thứ hai đã phân tích, đánh

giá việc áp dụng các chuẩn mực, các trụ cột của Basel II vào hoạt động kinh doanh

của các NHTM. Tuy nhiên, một số cơng trình chỉ đi sâu phân tích một trong ba trụ

cột của Basel II (chẳng hạn vấn đề an toàn vốn tối thiểu). Mặt khác, do thời

điểm nghiên cứu khác nhau, bối cảnh kinh tế - xã hội khác nhau, đặc biệt là

phương pháp và cách tiếp cận nghiên cứu khác nhau nên việc đánh giá, phân

tích việc KSRR trong hoạt động NHTM theo các trụ cột của Basel II cũng có những

điểm khác biệt. Đa số các cơng trình nghiên cứu QTRR dưới góc độ NHTM nên

phần lớn các giải pháp chủ yếu tập trung vào hoạt động QTRR của NHTM hơn là

hoạt động KSRR của NHTW đối với các NHTM hay toàn bộ hệ thống ngân hàng.

Thứ ba, nhóm các cơng trình nghiên cứu về hoạt động giám sát thị trường

tài chính, thanh tra giám sát ngân hàng có cách tiếp cận vĩ mô hơn và phạm vi tiếp

cận cũng rộng hơn. Nhóm các cơng trình này đi sâu phân tích việc áp dụng trụ cột

2 của Basel II, tuy nhiên, các cơng trình này được thực hiện khi chưa có Đề án của

NHNN và việc thực hiện thí điểm Basel II của 10 NHTM Việt Nam nên chưa có những



đánh giá ban đầu về tình hình thực hiện áp dụng Basel II tại các ngân hàng thương

mại này.



1.3. Những vấn đề đặt ra được tiếp tục nghiên cứu

1.3.1. Vấn đề tiếp tục nghiên cứu

Có thể nói, các nghiên cứu quốc tế về lĩnh vực Basel II là những tài liệu tham

khảo quan trọng cho các quốc gia đang phát triển để áp dụng Basel II vào hoạt

động QTRR trong ngân hàng, trong đó có Việt Nam. Mặc dù các nghiên cứu quốc

tế về lĩnh vực này tương đối đầy đủ và đồ sộ nhưng vẫn chưa thể đáp ứng hoàn

toàn các yêu cầu của từng quốc gia bởi mỗi hệ thống ngân hàng khác nhau lại có

những yêu cầu khác nhau trong cách thức áp dụng Basel II của riêng mình.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu đã chỉ ra một bức tranh tổng quan về hoạt

động QTRR trong ngân hàng với những gam màu sáng, tối khác nhau. Nếu đánh giá

theo cả 03 trụ cột của Basel II, có thể thấy hoạt động QTRR của các NHTM và

KSRR của NHNN vẫn nhiều hạn chế và bất cập, đặc biệt là hoạt động thanh tra, giám

sát ngân hàng và mức độ công khai, minh bạch thơng tin. Điều này đặt ra tính cấp

thiết và khoảng trống cho các cơng trình nghiên cứu trong thời gian tới, nhằm xây

dựng những giải pháp giải quyết những hạn chế và bất cập hiện tại cũng như nhằm

tăng cường hiện thực hóa tuân thủ Basel II, đảm bảo sự an toàn của cả hệ thống

ngân hàng Việt Nam.

Từ các kết quả nghiên cứu trên cho thấy ở Việt Nam vấn đề KSRR của NHNN

cũng như QTRR của NHTM đã và đang được quan tâm hơn trong nghiên cứu

cũng như trong thực tiễn. Tuy nhiên, mỗi công trình có phương pháp nghiên

cứu và phạm vi nghiên cứu khác nhau. Các phương pháp nghiên cứu của một số

công trình mới chỉ dừng lại ở phương pháp phân tích, tổng hợp, điều tra

thống kê, phương pháp chuyên gia, còn thiếu các mơ hình phân tích mang tính

định lượng. Lộ trình áp dụng gắn với điều kiện mơi trường, thực trạng sức

khỏe hệ thống ngân hàng, đặc biệt là gắn với điều kiện nền kinh tế mới nổi như

Việt Nam chưa được đề cập đến. Hơn nữa cho đến nay, có rất ít nghiên

cứu chun sâu về KSRR đối với các NHTM Việt Nam theo Hiệp ước Basel II

dưới góc độ cơ quan quản lý nhà nước. Do vậy, việc tiếp tục nghiên cứu để

làm rõ lý luận về KSRR của NHTW theo Basel II, đánh giá thực trạng KSRR của

NHNN đối với hoạt động của NHTM trong thời gian qua và đề xuất các giải

pháp tăng cường và hoàn thiện công tác KSRR đối với các NHTM Việt Nam hiện

nay là rất cần thiết về mặt lý luận và thực tiễn.

1.3.2. Câu hỏi nghiên cứu



Từ “khoảng trống” của các cơng trình nghiên cứu liên quan, nghiên cứu

sinh (NCS) xác định các câu hỏi nghiên cứu của luận án bao gồm:



(1) NHTW sử dụng các nguyên tắc và chuẩn mực của Basel II để KSRR đối với hoạt

động kinh doanh của các NHTM?

(2) Thực trạng KSRR của NHNN Việt Nam đối với hoạt động kinh doanh của các NHTM

Việt Nam trong giai đoạn 2010-2017 có thể được đánh giá như thế nào?

(3) Những giải pháp và kiến nghị nào cần được nghiên cứu và đề xuất để thực hiện

KSRR của NHNN đối với hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam theo những

nguyên tắc và chuẩn mực của Hiệp ước Basel II?

1.3.3. Giả thuyết nghiên cứu

Trên cơ sở nhận thức và các khảo sát, luận án sẽ thu thập, xử lý thông

tin nhằm kiểm chứng các giả thuyết sau:

Giả thuyết 1: Việc KSRR trong hoạt động của NHTW đối với NHTM Việt

Nam theo Hiệp ước Basel II sẽ đảm bảo cho các NHTM duy trì đủ nguồn vốn bù

đắp cho các khoản lỗ có thể phát sinh từ những rủi ro hiện hữu; giúp chuẩn hóa,

cải thiện và lành mạnh hóa lĩnh vực ngân hàng thơng qua việc áp dụng các

chuẩn mực toàn cầu, giảm thiểu rủi ro và ngăn chặn sự đổ vỡ của các NHTM,

đảm bảo hoạt động ổn định lâu dài, phát triển bền vững.

Giả thuyết 2: Cùng với hoạt động kinh doanh ngày càng phức tạp, sản

phẩm luôn đổi mới, các NHTM ngày càng phải đối mặt với hàng loạt loại rủi ro

khác nhau, từ RRTD đến RRTT, rủi ro chiến lược và cả rủi ro hoạt động. Do vậy,

nếu khơng có KSRR của NHTW đối với các NHTM sẽ dẫn đến việc các NHTM

gặp nhiều rủi ro, dẫn đến hoạt động của các NHTM không bền vững, gây bất ổn

định cho cả hệ thống tài chính nói riêng và tồn bộ nền kinh tế nói chung.

Tóm lại, vấn đề KSRR trong hoạt động của các NHTM đã và đang thu hút sự

quan tâm của các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý và kinh doanh ngân hàng,

các nhà xây dựng và vận hành chính sách ở trong nước và nước ngoài. Tuy nhiên,

cho đến nay, tại Việt Nam chưa có nhiều các cơng trình nghiên cứu một cách hệ

thống và toàn diện về vấn đề KSRR đối với các NHTMVN theo Hiệp ước Basel II

dưới góc độ của NHNN Việt Nam.

Đây là cơ sở để đề tài “Kiểm soát rủi ro trong hoạt động của các ngân hàng

thương mại theo Hiệp ước Basel II” được lựa chọn nghiên cứu với sự kế thừa và

phát triển một cách chọn lọc những kết quả nghiên cứu trước đây.

Tóm lại, việc KSRR của NHTW đối với các NHTM đã và đang trở thành

vấn đề cấp thiết, có ý nghĩa quan trọng nhằm duy trì sự an tồn, bền vững



trong hoạt động của các NHTM và của hệ thống tài chính. Tuy nhiên, cho đến nay

chưa



có nhiều cơng trình nghiên cứu tồn diện và hệ thống ở Việt Nam. Những kết

quả này là gợi ý quan trọng cho đề tài nghiên cứu “KSRR trong hoạt động của

các NHTM theo Hiệp ước Basel II” có thể kế thừa và phân tích một cách hệ

thống về KSRR đối với các NHTM Việt Nam theo Hiệp ước Basel II.

Basel II là “sản phẩm” của Ủy ban Basel về giám sát các ngân hàng với mục

tiêu chuẩn hóa các quy định về an toàn vốn trong hoạt động ngân hàng. Basel

được xây dựng trên nguyên tắc cơ bản đảm bảo các ngân hàng duy trì đủ nguồn

vốn bù đắp cho các khoản lỗ có thể phát sinh từ những rủi ro mà ngân hàng đang

nắm giữ. Việc triển khai Basel giúp chuẩn hóa, cải thiện và lành mạnh hóa lĩnh

vực ngân hàng thơng qua việc áp dụng các chuẩn mực tồn cầu.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trên cơ sở khái quát và tổng hợp nội các cơng trình nghiên cứu được

cơng bố trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề KSRR theo Basel II đối với

NHTM, tác giả đã hệ thống thành ba nhóm chính: (i) nhóm các cơng trình

nghiên cứu về QTRR tại các NHTM; (ii) nhóm các cơng trình nghiên cứu về việc

áp dụng các chuẩn mực/các trụ cột của Basel II tại các NHTM; (iii) nhóm các cơng

trình nghiên cứu về giám sát thị trường tài chính, thanh tra, giám sát ngân hàng.

Tổng quan tình hình nghiên cứu cho ta thấy, hiện nay đã có một số

cơng trình nghiên cứu liên quan đến Hiệp ước Basel II, tuy nhiên mỗi cơng trình

nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau như: QTRR tín dụng của các NHTM theo

Hiệp ước Basel II, đổi mới mơ hình QTRR của các NHTM Việt Nam tiếp cận Hiệp

ước Basel II, v.v... Để đảm bảo các NHTM Việt Nam hoạt động một cách an toàn

trong điều kiện tuân thủ các nguyên tắc và chuẩn mực Basel II, không chỉ hoạt

động QTRR của bản thân các NHTM Việt Nam phải được đổi mới và hoàn thiện

mà việc KSRR của NHNN Việt Nam đối với hoạt động của các NHTM cũng cần phải

tuân thủ theo Basel II. Tuy nhiên, đến nay chưa có cơng trình nào nghiên cứu một

cách đầy đủ và toàn diện về hoạt động KSRR của NHTW đối với hoạt động của

các NHTM theo Hiệp ước Basel II. Đề tài nghiên cứu của Luận án này được lựa

chọn nghiên cứu để góp phần bù đắp một trong những khoảng trống đó.



CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT RỦI RO THEO BASEL II CỦA NGÂN HÀNG

TRUNG ƯƠNG ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

2.1. Ngân hàng thương mại và rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại là một trong những tổ chức trung gian tài chính

quan trọng và có mức độ ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế thị trường. Hoạt động của

NHTM luôn luôn tiềm ẩn những nguy cơ, rủi ro và hậu quả của những rủi ro trong

hoạt động của NH không chỉ dừng lại ở sự thua lỗ hay phá sản của bản thân các

NH mà tác động tới cả nền kinh tế xã hội. Trước khi hệ thống hóa các vấn đề về rủi

ro trong hoạt động của NHTM, Luận án sẽ đề cập đến các hoạt động cơ bản của

NHTM.

2.1.1. Khái niệm và các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại

2.1.1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại

Q trình hình thành và hồn thiện hệ thống NH đã tạo ra các NHTM,

được biết đến với chức năng kinh doanh tiền tệ. Hơn bất cứ tổ chức tài chính

nào khác, NHTM ln được coi là bách hố tài chính, cung ứng rất nhiều các sản

phẩm, dịch vụ về tài chính. Để xây dựng khái niệm NHTM, có thể dựa vào tính

chất và mục đích hoạt động của nó trên thị trường tài chính, hoặc kết hợp tính

chất, mục đích và đối tượng hoạt động.

Theo luật pháp nước Mỹ:“bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản

tiền gửi cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu (như bằng cách viết séc hay

bằng việc rút tiền điện tử) và cho vay đối với tổ chức kinh doanh hay cho vay

thương mại sẽ được xem là một NH” [61].

Theo Luật Ngân hàng của Pháp năm 1941, “những xí nghiệp hay cơ sở hành

nghề thường xuyên nhận của cơng chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức

khác các số tiền mà họ dùng vào các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay tài

chính thì được coi là NH” [11, tr. 34].

Ở Việt Nam hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về NHTM, quan niệm

chung nhất: “NHTM là một tổ chức kinh tế chuyên thực hiện các hoạt động

trong ngân hàng về các lĩnh vực cung cấp tiền tệ, dịch vụ tài chính giữa khách

hàng và ngân hàng hoặc ngược lại” [24, tr. 23]. Các hoạt động trong ngân hàng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thứ ba, nhóm các công trình nghiên cứu về giám sát thị trường tài chính, thanh tra, giám sát ngân hàng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x