Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thứ hai, nhóm các công trình nghiên cứu về việc áp dụng các chuẩn mực/ các trụ cột của Basel II tại các NHTM

Thứ hai, nhóm các công trình nghiên cứu về việc áp dụng các chuẩn mực/ các trụ cột của Basel II tại các NHTM

Tải bản đầy đủ - 0trang

tin cậy. Một số giải pháp, kiến nghị được đưa ra, tuy nhiên cần được nghiên cứu

cụ thể, chi tiết hơn bởi những giải pháp trong bài nghiên cứu này mang tính

định hướng là



chính. Phương pháp xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng (XHTD) hạn chế ở

phương pháp chuyên gia, nghĩa là việc lựa chọn, quyết định toàn bộ các yếu tố

cơ bản của hệ thống xếp hạng (bộ chỉ tiêu, trọng số của chỉ tiêu) hoàn toàn phụ

thuộc vào quan điểm chủ quan của các chuyên gia thay vì dựa trên dữ liệu thống

kê lịch sử và phân tích mơ hình kinh tế lượng. Kết quả XHTDNB boộ mang tính

chủ quan và chưa thực sự là căn cứ để làm cơ sở xây dựng các thước đo lượng

hoá rủi ro, hỗ trợ ngân hàng tính tốn chuẩn xác tổn thất dự tính và vốn yêu cầu

tối thiểu bù đắp rủi ro. Điều này dẫn đến hạn chế trong QTRR danh mục, đánh

giá tín dụng, xác định khẩu vị rủi ro… của ngân hàng.

Đinh Xuân Cường và cộng sự (2014), “Đòn bẩy để các Ngân hàng thương

mại Việt Nam tiếp cận Hiệp ước vốn Basel II”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Kinh tế

và Kinh doanh, tập số 30, số 3 [10]. Bài viết đã nhấn mạnh những khó khăn của

các TCTD Việt Nam khi áp dụng Basel do tình trạng thiếu thơng tin tín dụng tin

cậy, kịp thời, chính xác để xem xét, phân tích, đo lường RRTD. Theo nghiên cứu

này, hầu hết các ngân hàng thuộc top trên đã đáp ứng được tiêu chuẩn về tỷ lệ

an toàn vốn (>8%) nhưng cách tính vốn ở Việt Nam cũng còn khá nhiều vấn đề

như cách xác định tỷ lệ tài sản rủi ro hay tổng tài sản có nên tỷ lệ vốn này (CAR) có

thể chưa thật sự chính xác.

Nguyễn Đức Trung (2012), “Đảm bảo an toàn hệ thống Ngân hàng thương

mại Việt Nam trên cơ sở áp dụng Hiệp ước tiêu chuẩn vốn quốc tế Basel”, Luận án

Tiến sĩ kinh tế, Học viện Ngân hàng [81]. Luận án đã luận giải một cách có hệ

thống các vấn đề về đảm bảo an tồn ngân hàng trên góc độ vĩ mô và vi mô và

các nội dung cơ bản của các Hiệp ước Basel. Luận án đã khảo sát và đánh giá việc

đảm bảo an toàn hệ thống NHTM Việt Nam giai đoạn 2005 - 2011 và đề xuất các giải

pháp theo lộ trình để đảm bảo an tồn cho các NHTM Việt Nam theo Basel II giai

đoạn 2012 - 2021. Tác giả chủ yếu tập trung vào trụ cột 1 của Hiệp ước Basel II là tỷ

lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) và đưa ra hai (02) hệ thống giải pháp đảm bảo an

toàn vốn dựa trên 02 góc độ khác nhau: Góc độ quản trị từ chính các NHTM và

góc độ từ NHNNVN. Tuy nhiên, nội dung nghiên cứu mới chỉ đề cập tới thực

trạng đảm bảo mức CAR của hệ thống NHTM Việt Nam và đưa ra giải pháp.

Phương pháp sử dụng chủ yếu là phương pháp phân tích và tổng hợp số liệu,

nghiên cứu chưa đề cập chuyên sâu đến trụ cột 2 và 3.



Luận án của tác giả Nguyễn Anh Tuấn (2012): “Quản trị rủi ro trong kinh

doanh của Ngân hàng thương mại Việt Nam theo Hiệp ước Basel”, Luận án Tiến sĩ



kinh tế, Đại học Ngoại thương, Hà Nội [74], phạm vi nghiên cứu của luận án chỉ

giới hạn xung quanh những chuẩn mực QTRR được nêu trong Hiệp ước Basel, đi sâu

phân tích thực trạng hoạt động QTRR của các NHTM Việt Nam theo ba trụ cột của

Basel II từ khi Việt Nam chính thức có hệ thống ngân hàng hai cấp đến nay (từ 1988).

Luận án mới đề cập đến QTRR trong kinh doanh của các NHTM, chưa đề cập đến

KSRR nói chung trong các NHTM Việt Nam hiện nay. Luận án chưa chỉ ra được lộ

trình áp dụng các chuẩn mực QTRR trong kinh doanh theo Hiệp ước Basel đối với các

NHTM Việt Nam. Do vậy, đây vẫn là khoảng trống để tác giả tiếp tục nghiên cứu

KSRR tại các NHTM Việt Nam theo Hiệp ước Basel hiện nay. Bài viết sử dụng các

phương pháp nghiên cứu: phương pháp phân tích, tổng hợp, điều tra thống kê,

phương pháp chuyên gia, còn thiếu các mơ hình phân tích mang tính định lượng.

Nghiên cứu của tác giả Tô Thị Ánh Dương (2006)“Những giải pháp để hệ

thống Ngân hàng thương mại Việt Nam tiếp cận và áp dụng hệ thống chuẩn

mực đánh giá ngân hàng an toàn theo Hiệp ước Basel” [17] đã đề cập một cách

quy mơ nhất và hồn chỉnh nhất từ trước tới nay về nội dung Hiệp ước vốn

Basel và thực trạng áp dụng tại Việt Nam. Tuy nhiên, nghiên cứu trụ cột 2, tác

giả chỉ đặt trọng tâm vào công tác thanh tra, giám sát, đánh giá an toàn như là

một chức năng của NHNN Việt Nam đối với hệ thống NHTM, mà chưa làm rõ

được sự quan trọng của việc thanh tra, giám sát, đánh giá nội bộ của chính những

NHTM đó.

Một số bài viết như: “Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ và các ứng

dụng trong quản trị rủi ro tín dụng theo Basel II” [73] của tác giả Lê Thanh Tùng

(Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ số 15 - năm 2014, trang 18-21), trên cơ sở lý

luận và các khuyến nghị của Ủy ban Basel trong Hiệp ước Basel II về hệ thống

XHTDNB, tác giả đã đề xuất các giải pháp để xây dựng và ứng dụng hệ thống

XHTDNB theo phương pháp IRB của Hiệp ước Basel II. “Hệ thống kiểm soát nội

bộ gắn với quản lý rủi ro tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn

hiện nay” của Đào Minh Phúc và Lê Văn Hinh (Tạp chí Ngân hàng số 24 tháng

12/2012, trang 20-26), nội dung bài viết đưa ra các nhận định về tính chất mới

của rủi ro trong kinh doanh ngân hàng cũng như những bất cập của hệ thống kiểm

soát nội bộ của các NHTM Việt Nam. Trên cơ sở đó các tác giả đã có một số đề

xuất đối với cơng tác kiểm soát nội bộ tại các NHTM đáp ứng yêu cầu ngăn ngừa và

KSRR. “Hạn chế rủi ro cho hệ thống ngân hàng thơng qua áp dụng Basel II -



Nhìn từ kinh nghiệm quốc tế” của Nguyễn Thị Vân Anh (Tạp chí Thị trường Tài

chính Tiền tệ, số 20- tháng 10/2014 trang 36-39), trên cơ sở khảo sát và rút ra giá

trị tham khảo từ



việc áp dụng Basel tại Singapore, Malaysia, Philipines. Bài viết đề xuất các giải

pháp để áp dụng Basel II tại các NHTM Việt Nam.

Các cơng trình nghiên cứu nước ngoài

Nghiên cứu của Loriana Pelizzon và cộng sự (2005) [116] tập trung vào trụ

cột 2 của Basel II trong đó mở rộng các cơng cụ có sẵn để điều tiết khi cần can thiệp

vào các ngân hàng, đó là mức độ phù hợp về vốn và yêu cầu về vốn dựa trên rủi

ro. Đặc biệt bài viết này tập trung vào vai trò của các quy tắc khi chi phí cho việc

vốn hóa là khá cao. Ngân hàng có thể quản lý danh mục đầu tư một cách linh hoạt

và tự quyết định về việc vốn hóa và cấu trúc vốn của mình.

Về khía cạnh tính hiệu quả của tỷ lệ vốn bắt buộc trong Basel II sửa đổi

(2011), nghiên cứu của Gordon J. Alexander và cộng sự (2012) [109] đã chỉ ra rằng

tỷ lệ vốn bắt buộc đưa ra trong Basel II sửa đổi (2011) là đủ tốt, giúp ngân

hàng chống đỡ hiệu quả hơn đối với những tổn thất trong giao dịch (Trading Loss)

so với Hiệp ước Basel cũ (1996). Trong đó, Basel sửa đổi (2011) mang lại nhiều

lợi ích hơn so với Basel cũ (1996) đối với hoạt động quản trị RRTT.

Thứ ba, nhóm các cơng trình nghiên cứu về giám sát thị trường tài chính,

thanh tra, giám sát ngân hàng

Các cơng trình nghiên cứu trong nước

Lê Ngọc Lân và các cộng sự (2012), “Đánh giá hoạt động thanh tra giám sát

của Ngân hàng nhà nước Việt Nam hiện nay” [32] đã thực hiện đánh giá hoạt

động thanh tra giám sát của NHNNVN. Công tác thanh tra, giám sát hiện tại chủ yếu

nhằm đảm bảo việc chấp hành các quy định về an toàn trong hoạt động ngân hàng

của các TCTD (thanh tra tuân thủ). Tuy nhiên, phương pháp thanh tra tn thủ

khơng còn thích hợp để có thể đảm bảo mục tiêu hoạt động hiệu quả và an toàn

của hệ thống ngân hàng do không giúp các thanh tra ngân hàng đánh giá, đo

lường một cách đầy đủ và hiệu quả, cũng như đánh giá và đo lường các rủi ro như

rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và rủi ro thị trường của TCTD được giám sát.

Hiện nay, Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng đã tiến hành xây dựng và thực

hiện phương pháp đánh giá năng lực tài chính theo các tiêu chí CAMELS (C =

Capital (Vốn); A = Assets (Tài sản có); M = Management (Quản lý); E = Earnings

(Lợi nhuận); L= Liquidity (Khả năng thanh khoản); S = Sensitivity (Độ nhạy cảm với

các RRTT) như là một bước trung chuyển để tiến tới thực hiện phương pháp

thanh tra, giám sát dựa trên rủi ro. Tuy đã đạt được nhiều thành tựu đổi mới,



nhưng vẫn tồn tại nhiều hạn chế, trong đó nổi bật là những hạn chế về cơ cấu tổ

chức; phương pháp thanh tra, giám sát ngân



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thứ hai, nhóm các công trình nghiên cứu về việc áp dụng các chuẩn mực/ các trụ cột của Basel II tại các NHTM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×