Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 1.1: Sơ đồ quá trình phục hồi rừng (David Lamb, 2003)

Hình 1.1: Sơ đồ quá trình phục hồi rừng (David Lamb, 2003)

Tải bản đầy đủ - 0trang

15



chú ý (Mibbread, 1930; Richards, 1933, 1939, 1965; Aubrerille, 1938; Beard, 1946;

Lebrun và Gibert,1954 ; Jones, 1955,1956; Schultz, 1960; Baur, 1964; Rollet, 1969)

[1], [36], [59]. Thực tế cho thấy, dưới tán rừng tự nhiên, đặc biệt là những khu rừng

mưa nhiệt đới, sự tái sinh của nhóm những lồi cây phi mục đích thường chiếm

ưu thế so với nhóm lồi cây tái sinh mục đích, chính điều này đã đe doạ tới khả

năng tái sinh và phát triển của nhóm cây tái sinh mục đích. Do đó, vấn đề nghiên

cứu các biện pháp kỹ thuật điều chỉnh tổ thành cây tái sinh mục đích dưới tán

rừng, tạo điều kiện cho chúng nhanh chóng phát triển tham gia vào tầng cây

cao được đặc biệt quan tâm, trong đó có thể kể tới các tác giả tiêu biểu như:

Kennedy (1935); Lancaster (1953); Taylor (1954); Jones (1960); Foggie (1960);

Rosevear (1974). Phương thức lâm sinh để tác động vào rừng nhằm xúc tiến quá

trình gieo giống và tái sinh của các loài cây mục đích trong lâm phần cũng rất đa

dạng và được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu và đề xuất như: phương thức

chặt dần tái sinh ở dưới tán (Schultz, 1960); phương thức chặt dần nhiệt đới

(Brooks, 1941; Ayoliffe, 1952); phương thức chặt dần nâng cao vòm lá ở

Andamann (Griffith, 1947; Barnerji, 1959); phương thức chặt rừng đều tuổi ở

Malaysia (Bernard, 1950-1954); Wyatt Smith,1961, 1963), phương thức đồng hoá

tầng trên (Nichalson, 1958; Maudova, 1951, 1954). Đây là những nghiên cứu có

hệ thống nhằm điều tiết tổ thành cây tái sinh tạo nên những lâm phần rừng có

cấu trúc hỗn lồi, nhiều tầng, khác tuổi và bền vững [1].

Nghiên cứu phân bố cây tái sinh dưới tán rừng nhằm xác định lượng cây tái

sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt và đề xuất biện pháp phải bổ sung bằng

cách trồng rừng ở Châu Phi (Taylor, 1954; Bennard, 1955), các biện pháp lâm sinh

đề ra là cần thiết để bảo vệ cây tái sinh sẵn có dưới tán rừng nhiệt đới Châu Á

(Budowski, 1956; Bara, 1954; Catinot, 1965),... [1].

Ngồi ra, rất nhiều cơng trình nghiên cứu phân tích ảnh hưởng của các

nhân tố sinh thái đến tái sinh rừng như: Ánh sáng, độ ẩm của đất, kết cấu quần

thụ, cây bụi, dây leo và thảm tươi đã ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tái sinh

rừng. Các kết quả này là cơ sở quan trọng trong việc đề xuất các giải pháp kỹ

thuật lâm sinh tác



16



động phù hợp nhằm tăng hiệu quả phục hồi rừng. Trong các yếu tố ảnh hưởng

đến khả năng sinh trưởng và tái sinh thì ánh sáng được xác nhận là quan trọng.

Balanford (1929) khi nghiên cứu tại vùng rừng thường xanh ở Malaysia nhận thấy

tái sinh tốt nhất là tại những nơi có lỗ trống, ở đấy bề ngang khơng rộng q 6 m;

ở nơi có lỗ trống lớn hơn không thấy xuất hiện cây tái sinh ở giữa lỗ trống (dẫn

theo [49]). Catinot R. (1978) [11] khi nghiên cứu về tái sinh cây họ Dầu

(Dipterocarpaceae), trong các khu rừng ở vùng Đông Nam châu Á, thấy rằng tái

sinh cây họ Dầu hình thành từng vệt sau khai thác. Tuomela K. và các cộng sự

2



(1995) [46] nghiên cứu tái sinh ở các ơ trống có diện tích từ 406 đến 1.242 m trong

các khu rừng đã qua khai thác ở Kalimantan - Indonesia nhận thấy phân bố tần

suất đường kính cây con ở các ơ trống khác hẳn so với cây con ở vùng rừng xung

quanh. Điều đó cho thấy cây con họ Dầu bắt đầu phát triển mạnh sau khi áp dụng

biện pháp kỹ thuật mở tán, tốc độ sinh trưởng tỷ lệ nghịch với diện tích ô trống và

2



đã xác định diện tích ô trống thích hợp là khoảng 500 m , như vậy cây họ Dầu

chịu ảnh hưởng hưởng lớn của nhân tố ánh sáng.

Vấn đề xử lý các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động vào rừng sau một thời

gian khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên cũng rất được các nhà khoa học trên

thế giới quan tâm nghiên cứu. Ở các nước châu Á như: Trung Quốc, Malaysia,

Indonesia rừng sau khoanh nuôi được phân chia thành các đối tượng kèm theo

các giải pháp tác động dưới đây (dẫn theo [9]):

+ Rừng cây lá rộng gỗ mềm dưới 10 tuổi, rừng cây lá rộng gỗ cứng dưới 20

tuổi, rừng sào, rừng trung niên có tương đối nhiều cây ưu việt mà độ tàn che

dưới 0,7 đều phân chia vào loại hình ni dưỡng.

+ Đối với những lâm phần sau khi khoanh nuôi, nếu số lượng cây lưu giữ lại

đạt đến hoặc vượt quá tiêu chuẩn số lượng cây cần lưu giữ trong chặt trung

gian (chặt ni dưỡng) rừng thứ sinh, thì phân chia vào loại hình chăm sóc ni

dưỡng.

+ Những lâm phần mà cây lưu giữ lại được từ 300 cây/ha trở lên có đường

kính ngang ngực 6 - 8 cm, hoặc từ 225 cây/ha trở lên có đường kính ngang ngực 10

- 14 cm, hoặc từ 150 cây/ha trở lên có đường kính ngang ngực lớn hơn 16 cm, thì



17



phân chia vào loại hình cải tạo chặt chọn.

Như vậy, có thể thấy, các cơng trình nghiên cứu về phục hồi rừng tự nhiên

nói chung và phục hồi rừng phòng hộ nói riêng được thực hiện khá toàn diện,

từ việc nghiên cứu xác định các biện pháp xúc tiến tái sinh tự nhiên, trồng bổ sung,

các yếu tố ảnh hưởng tới tái sinh của rừng,… đến việc xác định các biện pháp lâm

sinh tác động sau thời gian khoanh nuôi. Tuy nhiên, vẫn còn rất ít các cơng trình

nghiên cứu kết hợp giữa các giải pháp lâm sinh với các giải pháp kinh tế - xã hội

để đạt được một hệ sinh thái bền vững.

1.2.4. Nghiên cứu về phân chia lập địa

Vấn đề phân chia lập địa gắn với loài cây trồng đã được quan tâm thực hiện

tại nhiều quốc gia trên thế giới như Liên Xô (cũ), Đức, Mỹ,... Hệ thống phân chia

lập địa của mỗi quốc gia có những yếu tố và mức độ phân chia khác nhau. Tuy

nhiên, phần lớn các tác giả đều xem xét các yếu tố chủ đạo như: đất đai (loại đất,

đá mẹ), khí hậu, địa hình, sinh vật, để sử dụng trong các cấp phân chia lập địa của

họ. Một số nhà nghiên cứu tiên phong trong lĩnh vực này có thể kể tới như:

Suchaev (1958), W.Schwanecker (1971), D.M Smith (1996),… (dẫn theo [26]).

Tuỳ theo từng điều kiện về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội, điều kiện về

khoa học kỹ thuật, mục đích kinh doanh, phạm vi phân chia mà lập địa có thể

phân chia thành nhiều cấp phân vị lập địa khác nhau. Tuy nhiên, tổng kết lại thì có

một số phương pháp phân chia lập địa sau đã được sử dụng:

- Áp dụng chỉ tiêu sinh trưởng của cây rừng để đánh giá và phân loại lập địa:

Các chỉ tiêu sinh trưởng được áp dụng chủ yếu là cấp lập địa, chỉ số lập địa và sai số

sinh trưởng, trong đó: (1) Cấp lập địa là một chỉ tiêu đo lường tương đối, phản

ánh sức sản xuất của đất rừng, thường được xác định bởi tương quan giữa

chiều cao bình qn và cấp tuổi, để từ đó chia ra các loại lập địa. Phương pháp

này được áp dụng ở Liên Xô cũ từ năm 1950. (2) Chỉ số lập địa, người ta cho rằng

độ cao ưu thế của một lồi cây ở một tuổi chuẩn có quan hệ với sức sản xuất của

lập địa mật thiết hơn so với độ cao bình quân. Đồng thời cũng chịu ảnh hưởng

của mật độ và tổ thành loài cây nhỏ nhất. Phương pháp này được Trung Quốc,

Mỹ, Anh ứng dụng từ



18



năm 1970. Sajjaduzzaman và cộng sự (2005) áp dụng tại Bangladesh để phân loại

lập địa cho rừng Tếch. (3) Sai số sinh trưởng được lựa chọn để nghiên cứu chất

lượng lập địa ở thời kỳ sinh trưởng của rừng non. Phương pháp này thường được

áp dụng tạm thời (dẫn theo [26]).

- Ứng dụng đặc trưng của tổ thành, cấu trúc thực vật rừng: tổ thành, cấu

trúc, sinh trưởng của cây rừng có quan hệ mật thiết với điều kiện lập địa. Ở Đức

(1946) và ở Mỹ (1952) đã dùng nhóm lồi sinh thái để biểu thị đặc trưng lập địa

và đưa ra hệ thống phân loại lập địa. Một số tác giả cho rằng ở nhưng nơi sự tác

động của con người tương đối ít nên dùng thực bì để biểu thị đặc điểm lập địa thì

hiệu quả hơn. Ở Đài Loan, Chyi-Ty L và cộng sự (2004) đã phân loại lập địa cho

một vùng đồi núi rộng dựa trên bản đồ sinh thái và dữ liệu địa mạo sẵn có [60].

- Áp dụng nhân tố hoàn cảnh: Phương pháp này thường sử dụng những

nhân tố hồn cảnh vật lý có tính ổn định, có quan hệ mật thiết với sinh trưởng

của cây rừng để phân chia lập địa, như: (1) Khí hậu là căn cứ để chia ra các vùng lập

địa, đai lập địa và khu lập địa để làm đơn vị phân chia trong hệ thống phân loại

lập địa. Cùng một vùng khí hậu thì điều kiện đại khí hậu giống nhau, sự khác

nhau về tiểu khí hậu là do địa hình và đất khác nhau. (2) Địa hình là một trong

những căn cứ để phân loại lập địa. Trong điều kiện khí hậu và đất tương đối

đồng nhất và địa hình phức tạp thì địa hình chiếm một địa vị rất quan trọng trong

phân loại lập địa. Smalle (1979) đã căn cứ vào địa mạo để phân chia đơn vị lập

địa tại vùng cao nguyên Comberland của Mỹ. Tuy nhiên, mỗi đơn ngun còn phải

mơ tả độ phì của đất, cây chỉ thị và chỉ số lập địa của một số lồi cây chủ yếu.

Phương pháp này khơng phù hợp với những nơi có điều kiện địa hình đơn giản

và bằng phẳng. (3) Trong điều kiện khí hậu tương đối đồng đều thì nhân tố đất là

căn cứ quan trọng để phân chia lập địa. Các học giả Nhật bản đã áp dụng hệ

thống phân loại đất của Mỹ, của UNESCO và phương pháp nghiên cứu mối qua

hệ giữa đất và lập địa để tiến hành phân loại đất và lập địa ở các bờ sông của

Philippines (dẫn theo [29]).

- Áp dụng phương pháp tổng hợp đa nhân tố: Phương pháp này được

áp

dụng rộng rãi bằng cách lấy chỉ số lập địa là một hàm số và các nhân tố lập địa làm



19



biến số và xây dựng một hàm hồi quy đa nhân tố để tiến hành đánh giá và phân

loại lập địa. Ở các nước Đức, Canada và Trung Quốc đã vận dụng phương pháp

này để phân loại lập địa (dẫn theo [29]).

Lập địa có thể được phân chia thành nhiều cấp khác nhau, trong đó đơn

vị phân cấp nhỏ nhất thường được sử dụng là kiểu lập địa hay dạng lập địa, nơi mà

các yếu tố về đất đai, khí hậu, địa hình,… là tương đối đồng nhất và đây cũng là

đơn vị được sử dụng phổ biến trong việc đề xuất phân loại lập địa gắn với loài cây

trồng cụ thể. Ở Mỹ, phương pháp phân chia cấp đất đã được Williams (1986) áp

dụng tại bang Maine đối với cây Vân sam (Picea abies) và cây Linh sam

(Pseudotsuga menziesii), theo đó lập địa của những lâm phần này được phân

thành 5 cấp [61]. Ơ Bangladesh phương pháp phân chia cấp đất cũng đã được

Sajjaduzzaman (2005) áp dụng đối với rừng Tếch dưới 40 tuổi, theo đó lập địa

được phân thành 02 cấp [62].

1.3. Ở Việt Nam

1.3.1. Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật trồng rừng phòng hộ

* Chọn lồi cây trồng rừng phòng hộ:

Việc lựa chọn lồi cây trồng vừa có khả năng sống và phát triển tốt trên

những vị trí lập địa khó khăn đó vừa có tác dụng phòng hộ mơi trường có ý nghĩa

quyết định tới sự thành công hay thất bại của công tác xây dựng rừng phòng hộ

nói chung. Do vậy, cơng tác chọn lồi cây trồng rừng phòng hộ rất được quan tâm:

Lần đầu tiên ở nước ta, vấn đề chọn lồi cây trồng rừng phòng hộ được

đề cập đến trong giáo trình Trồng rừng phòng hộ (Trường Đại học Lâm nghiêp 1966) [44], sau đó là Bài giảng trồng rừng phòng hộ (1993) [45]. Trong đó, lồi cây

được lựa chọn cho mục đích trồng rừng phòng hộ phải là những loài phù hợp

với điều kiện sinh thái của địa phương, có chiều cao nhất định để phát huy tốt

khả năng phòng hộ, dễ gây trồng chăm sóc,...

Trong Chương trình 327, theo Trần Xuân Thiệp và Vũ Văn Cần (1996)

[41], có khoảng 23 loài cây gỗ bản địa như: Bồ đề, Lát hoa, Lim xanh, cây Hồi,

Kháo mít,... được lựa chọn để trồng rừng phòng hộ. Hầu hết những lồi cây này

đều là cây đa tác dụng, thích hợp với trồng hỗn giao tập trung theo phương

thức



20



nông lâm, lâm nông kết hợp, lấy các sản phẩm gỗ, tre, nứa,... Tuy nhiên, tùy

từng đối tượng lập địa cụ thể mà có sự lựa chọn loài cây trồng và kỹ thuật

trồng cho phù hợp.

Theo Võ Đại Hải, Nguyễn Xuân Quát và Vũ Đức Năng (1996) [17], tiêu

chuẩn để lựa chọn các loài cây bản địa có chất lượng cao để trồng rừng ở Việt Nam

là những lồi cây bản địa có nguồn gốc ở địa phương hay nói cách khác là những

lồi cây vốn có trong rừng tự nhiên ở các vùng sinh thái của Việt Nam; khả năng

sinh trưởng tốt; phù hợp với điều kiện sinh thái của từng địa phương; dễ gây

trồng,... Tác giả đã tổng kết được 210 loài cây bản địa có chất lượng cao dùng để

làm nhà cửa, đồ mộc cho 9 vùng sinh thái trong cả nước, trong đó có khoảng hơn

30 lồi hiện nay đang được gây trồng rộng rãi như: Giổi xanh, Lim xanh,...

Cẩm nang ngành lâm nghiệp, chương “Chọn loài cây ưu tiên cho các chương

trình trồng rừng ở Việt Nam” ra đời năm 2004 được đánh giá là một tài liệu rất hữu

ích cho việc phát triển rừng trồng ở Việt Nam, trong đó đề cập đầy đủ tới các

tiêu chí lựa chọn lồi cây trồng rừng sản xuất, trồng rừng phòng hộ và trồng

rừng đặc dụng. Đi kèm với cuốn tài liệu là một tập đoàn loài cây trồng rừng được

ưu tiên đề xuất, trong đó riêng với cây trồng rừng phòng hộ đã đề xuất được 26

loài cây cho trồng rừng phòng hộ đầu nguồn (Giổi xanh, Bời lời, Lim, Thơng,…); 6

lồi cây cho trồng rừng phòng hộ chống cát bay và chống sa mạc hoá (Xoan chịu

hạn, Keo lá tràm, Phi lao,…); 6 lồi cây cho trồng rừng chắn gió, bảo vệ đồng ruộng

và cây che bóng (Phi lao, Bạch đàn trắng, Keo dậu,…); 10 loài cây ưu tiên cho

trồng rừng phòng hộ chắn sóng, bảo vệ mơi trường ngập nước (Bần chua, Đước

đơi, Sú,…); 23 lồi cây cho trồng rừng cảnh quan, đô thị và khu công nghiệp (Bằng

lăng, Dái ngựa, Dầu rái,…) [6]. Các loài cây này đã được sử dụng rộng rãi trong

các chương trình trồng rừng ở nước ta, đặc biệt là Dự án 661. Theo Hồng Liên

Sơn và các cộng sự (2005) [39] có khoảng 50 lồi cây chia làm 4 nhóm chính được

sử dụng cho trồng rừng phòng hộ trong Dự án 661 trên phạm vi tồn quốc.

Cơng tác lựa chọn lồi cây trồng rừng phòng hộ phù hợp với từng dạng lập

địa, phát huy tốt vai trò phòng hộ khơng chỉ được quan tâm bởi các chương

trình,



20



dự án ở trong nước mà còn rất được quan tâm bởi các dự án nước ngoài. Dự

án “Đánh giá sử dụng cây bản địa trong trồng rừng ở Việt Nam” được thực

hiện trong giai đoạn 2000 - 2003 do Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) tài

trợ với mục tiêu của dự án là đánh giá hiện trạng một số loài cây bản địa trong

trồng rừng, tiềm năng sử dụng cây bản địa vào trồng rừng và xây dựng rừng

trồng mơ hình cho một số lồi có tiềm năng, kết quả của dự án đã lựa chọn được

khoảng 31 lồi cây bản địa có triển vọng trong trồng rừng ở Việt Nam như: Mỡ,

Lát hoa, Giổi xanh, Hông, Huỷnh,...[50]. Dự án “Khôi phục rừng và quản lý rừng

bền vững ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên - Dự án

KFW6” được tài trợ bởi chính phủ Đức đã lựa chọn được 10 loài cây trồng phục

vụ cho việc thiết kế các thí nghiệm trồng rừng phòng hộ tại tỉnh Phú n, trong đó

có khoảng 5 lồi được đánh giá là có triển vọng cao cho phục hồi rừng tại khu vực

[2].

Bên cạnh đó, cơng tác lựa chọn lồi cây trồng rừng phòng hộ vùng cát ven

biển cũng rất được chú ý. Theo Võ Đại Hải (2006) [18] thì chất lượng lồi cây

trồng rừng phòng hộ trên đất cát ben biển phụ thuộc khá lớn vào loài cây trồng,

lập địa và biện pháp kỹ thuật trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng,... đối với khu vực

rừng phòng hộ ven biển tỉnh Quảng Bình thì các lồi cây trồng rừng phòng hộ

ven biển có triển vọng là các lồi Phi lao, Keo lá tràm, Keo lưỡi liềm và một số loài

cây khác như Keo chịu hạn, Xoan chịu hạn, Mù u,... Đối với vùng đất cát bán

ngập nước vùng nội đồng việc gây trồng rừng hỗn loài bằng các loài Keo lá

tràm, Keo lưỡi liềm, Keo chịu hạn là khơng phù hợp vì mỗi lồi Keo chỉ thích

hợp với một vùng sinh thái nhất định. Trên vùng đất này chỉ nên gây trồng

thuần loài bằng loài Keo lưỡi liềm (Acacia crassicarpa) là phù hợp nhất

(Đặng Thái Dương, 2002) [13]. Ngoài ra, cũng theo Đặng Thái Dương (2004)

[14] thì cây Sở cũng là một lồi rất có triển vọng trong việc trồng rừng phòng hộ

kết hợp lấy dầu ở vùng đất cát ven biển Bình - Trị - Thiên.

Như vậy, có thể thấy cơng tác lựa chọn lồi cây trồng rừng phòng hộ ở

nước ta được đặc biệt quan tâm trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, việc lựa

chọn lồi cây trồng rừng phòng hộ chủ yếu được thực hiện ở trên tầm vĩ mô



ở mức



21



22



vùng sinh thái, chưa có nhiều các nghiên cứu thử nghiệm và lựa chọn trên

từng dạng lập địa cụ thể, đặc biệt là những dạng lập địa khó, khu vực phòng

hộ xung yếu. Do đó, cần tiếp tục thử nghiệm để có những đề xuất về lồi cây

trồng cho từng dạng lập địa cụ thể.

* Phương thức và kỹ thuật trồng rừng phòng hộ:

Cũng như ở trên thế giới, ở Việt Nam, 2 phương thức trồng rừng phổ

biến được sử dụng là trồng rừng hỗn loài và trồng thuần loài với 2 nhóm lồi cây

trồng chủ yếu là cây trồng chính và cây phù trợ. Tuỳ theo từng điều kiện lập địa,

đặc điểm sinh học của loài, điều kiện kinh tế và mức độ xung yếu mà lựa chọn

phương thức cũng như kỹ thuật phối trí cây trồng cho phù hợp.

Trong các chương trình, dự án trồng rừng lớn ở nước ta đã được triển

khai như: Chương trình 327, dự án 661, đã xây dựng được rất nhiều mơ hình rừng

trồng phòng hộ theo 2 phương thức trồng rừng thuần lồi và hỗn giao nêu trên. Kết

quả đã góp phần quan trọng trong việc phục hồi và phát triển hệ thống rừng

phòng hộ của nước ta. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đã đạt được, vẫn còn

những tồn tại, hạn chế cần phải khắc phục như: Trồng rừng thuần loài bằng các

loài cây mọc nhanh như Keo lá tràm, Keo tai tượng,… có chu kỳ kinh doanh ngắn,

dễ đổ gẫy nên khả năng phòng hộ thấp; số lượng lồi trồng hỗn giao còn hạn

chế, trong đó mới chủ yếu bố trí một lồi cây trồng chính với một lồi cây phù

trợ nên chưa tạo lập được đai rừng phòng hộ hỗn giao nhiều loài, đa tầng, bền

vững. Mặt khác, chưa có cơ chế quản lý rõ ràng nên người dân tham gia trồng

rừng phòng hộ chỉ quan tâm tới cây phù trợ mà ít quan tâm tới cây trồng chính,

điều này dẫn tới trồng khơng theo đúng tỷ lệ, ít chăm sóc cây trồng chính,… Cơng

tác điều tra đánh giá lập địa chưa được thực hiện sâu, đánh giá chủ yếu dựa trên

quy mô lớn chưa theo từng dạng lập địa; tiêu chuẩn cây giống đem trồng còn

thấp, nguồn giống chưa được cải thiện,… kỹ thuật xử lý thực bì chủ yếu phát trắng

rồi đốt.

Võ Đại Hải và Nguyễn Hoàng Tiệp (2009) [20] đã tổng kết các kinh nghiệm

và công trình nghiên cứu có liên quan tới xây dựng rừng phòng hộ trong cơng trình

nghiên cứu “Kỹ thuật xây dựng rừng phòng hộ - những bài học và kinh nghiệm thực



23



tiễn”, trong đó đã tiến hành tổng kết các nghiên cứu về kỹ thuật trồng rừng và

các mơ hình trồng rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát ven biển. Đây là tài liệu quan

trọng trong thực tiễn sản xuất xây dựng rừng phòng hộ chắn sóng, chắn cát và

bão ven biển nước ta hiện nay. Kỹ thuật trồng rừng phòng hộ đầu nguồn có

một số điểm đáng chú ý sau đây [7]:

+ Kỹ thuật xử lý thực bì: Khơng phát dọn toàn diện mà thường chỉ xử lý cục

bộ ở những khu vực đào hố trồng cây hay xử lý theo rạch. Thực bì phát dọn khơng

đốt mà tập trung thành đống nhỏ xếp ngang theo đường đồng mức. Cây bụi, cây

tái sinh có trên đất rừng cần phải giữ lại để ni dưỡng, tạo rừng hỗn lồi, đa tầng.

+ Làm đất chỉ tiến hành cục bộ bằng phương pháp đào hố. Những nơi áp

dụng cơ giới cần chú ý làm đất theo đường đồng mức.

+ Tiêu chuẩn cây con đem trồng, đặc biệt là cây bản địa phải lớn hơn so với

trồng rừng bình thường để nhanh chóng tạo lập hồn cảnh rừng và phát huy

chức năng phòng hộ.

+ Phương thức trồng rừng: hỗn giao theo hàng, theo đám, theo băng

(thuần lồi trên diện hẹp), có thể hỗn giao giữa cây phòng hộ chính với cây phù

trợ hoặc giữa các cây phòng hộ với nhau. ở những nơi đất đã bị thối hố lâu

ngày, tầng đất mỏng có thể áp dụng trồng rừng theo 2 bước:

Bước 1: Gieo cây cải tạo và che phủ đất như Cốt khí, Đậu triều, Muồng hoa

pháo,… Thời gian kéo dài khoảng 1-3 năm tuỳ tình hình cụ thể;

Bước 2: Trồng rừng như đã mô tả ở trên.

+ Mật độ trồng rừng: thường dày hơn so với trồng rừng kinh tế để

rừng nhanh khép tán và phát huy chức năng phòng hộ.

+ Kỹ thuật trồng: Khi trồng cần chú ý tạo mặt bằng cục bộ ở hố trồng cây,

phần phía dưới dốc nên đắp gờ cao hơn phía trên dốc một chút để giữ nước cho cây.

+ Chăm sóc và ni dưỡng rừng trồng phòng hộ: Những năm đầu chỉ làm cỏ

và xới đất cục bộ quanh gốc cây, không phát luỗng cây bụi kể cả những cây khơng

có giá trị kinh tế. Làm vệ sinh rừng bằng cách loại bỏ những cây sâu bệnh, dây leo.

Đối với rừng phòng hộ ven biển, các nghiên cứu về phương thức cũng như



24



kỹ thuật xây dựng cũng được quan tâm thực hiện. Phi lao là loài cây phòng hộ chủ

yếu được sử dụng rất rộng rãi trong việc xây dựng các dải rừng phòng hộ vùng ven

biển. Đối với việc xây dựng các dải rừng phòng hộ xung yếu sát bờ biển, trên đất

cát mới bồi ven biển thì mật độ Phi lao nên trồng khoảng 5000 cây/ha (cây trong

hàng cách nhau 1m, hàng cách hàng 2m chạy song song với bờ biển). Lập địa ở

vùng có cồn cát di động hoặc bán di động là khu vực hết sức khó khăn vì chúng có

độ phì thấp nhất trong các loại đất cát ven biển. Mặt khác, cát bay theo gió với

tốc độ khá mạnh, làm trốc rễ, dập nát lá, vỏ cây và vùi lấp cây trồng,... Vì những lý

do trên mà rừng Phi lao trồng trên các cồn cát di động và bán di động có mật độ rất

cao

10.000 cây/ha [7]. Để giảm bớt giá thành trồng rừng Phi lao ở vùng đất cát khơ hạn,

có thể trồng với mật độ 4.000 cây/ha ở chân cồn, giảm dần tới 3.500 cây/ha ở

sườn cồn, lên tới đỉnh cồn mật độ còn 3.000 cây/ha [12]. Đối với các loài Keo lá

tràm, Keo lưỡi liềm và Phi lao nên trồng thuần lồi, khơng nên trồng hỗn giao Phi

lao với Keo theo hàng. Nếu trồng hỗn giao thì cự ly giữa hàng Keo lá tràm và Phi lao

cần phải nới rộng hơn cự ly giữa các cây cùng lồi hoặc có thể hỗn giao theo băng

[18].

1.3.2. Nghiên cứu về trồng cây bản địa

Trong những năm 1960 - 1970, do ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân khác

nhau nên vấn đề trồng cây bản địa ở nước ta rất hạn chế, ngoài 4 cây ưa sáng

mọc nhanh như: Mỡ, Bồ đề, Thơng nhựa và Luồng được trồng tập trung còn một

số cây trồng phân tán như: Xoan ta, Tre và một số cây đặc sản truyền thống như:

Hồi, Quế, cây chủ cánh kiến. Một số loài cây bản địa dùng để làm giàu rừng hoặc

trồng thay thế trên đất còn tính chất đất rừng mới chỉ được nghiên cứu thử

nghiệm như: Dẻ đỏ, Kháo vàng, Xoan đào,.... [35].

Việc phát triển trồng cây bản địa chỉ thực sự được chú trọng trong

khoảng thời gian hơn chục năm trở lại đây, khi mà vai trò phòng hộ mơi trường

của rừng được đề cập và chú trọng nhiều hơn và đi cùng với nó nhiều cơng trình

nghiên cứu liên quan tới trồng cây bản địa cũng được thực hiện.

Đỗ Đình Sâm (2001), đã tiến hành tổng kết kết quả nghiên cứu về trồng rừng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 1.1: Sơ đồ quá trình phục hồi rừng (David Lamb, 2003)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×