Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Kỹ thuật điều chỉnh tổ thành loài:

Kỹ thuật điều chỉnh tổ thành loài:

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Ở những khu vực phòng hộ xung yếu và rất xung yếu chỉ xử lý một phần

tầng thảm tươi dưới tán rừng để tránh gây xói mòn mạnh.

- Ở những khu vực có địa hình khơng q dốc, đất tốt và ẩm có thể thực

hiện các biện pháp như xới đất để tạo điều kiện cho hạt giống nảy mầm, cũng có

thể gieo hạt bổ sung nếu như sự gieo giống của tầng cây cao là hạn chế.

- Kỹ thuật tác động với lớp cây tái sinh:

+ Kỹ thuật điều chỉnh mật độ: Do ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau

như sự phân bố của cây mẹ, điều kiện đất đai dưới tán rừng,… mà cây tái sinh có

phân bố khơng đồng đều, phần lớn có phân bố cụm, có những khu vực cây tái

sinh dày đặc nhưng nhiều khu vực q trình tái sinh rất khó khăn. Nếu cứ để như

vậy thì cả ở những nơi tái sinh dày và những nơi ít cây tái sinh đều ảnh hưởng bất

lợi tới sự phát triển của cây con và ảnh hưởng tới chất lượng rừng sau này. Do

vậy, ở những nơi mật độ cây tái sinh dày cần loại bỏ bớt những cây tái sinh phi

mục đích, giữ lại những cây tái sinh mục đích. Đồng thời, có thể áp dụng biện

pháp đánh tỉa những cây tái sinh mục đích ở những nơi dày đến trồng ở những nơi

có mật độ cây tái sinh mục đích thấp.

+ Điều chỉnh tổ thành cây tái sinh: Tổ thành cây tái sinh sau một thời gian

khoanh nuôi xuất hiện từ 13 - 23 lồi, trong đó có 7 - 12 lồi tham gia chính vào

cơng thức tổ thành cây tái sinh là khá cao, thể hiện năng lực tái sinh của rừng

sau khoanh nuôi tăng lên đáng kể. Tuy nhiên, phần lớn những cây tái sinh này là

cây tái sinh phi mục đích, ít có giá trị kinh tế. Do đó, cần loại bỏ bớt những cây tái

sinh phi mục đích của các loài Trâm, Cốc, Cầy,… để điều chỉnh tổ thành cây tái

sinh theo mục đích kinh doanh.

4.5.2.2. Kỹ thuật tác động đối với rừng khoanh ni có trồng bổ sung

a) Đối với cây trồng bổ sung

- Loài cây trồng bổ sung: Các loài Lim xanh, Sao đen tỏ ra phù hợp với việc

trồng bổ sung tại khu vực hơn so với Dầu rái. Nên khi trồng bổ sung nên ưu tiên

chọn 2 loài cây này. Tuy nhiên, số lượng loài cây trồng bổ sung trong phạm vi

nghiên cứu của đề tài là còn ít, để có thể đa dạng hố được các lồi cây bản địa





giá trị tại khu vực thì cần tiếp tục thử nghiệm đối với nhiều loài cây khác như Thanh

thất, Dẻ đỏ,…

- Phương thức trồng bổ sung: Ở những khu vực có khoảng trống nhỏ hơn

2



500m nên áp dụng phương thức trồng bổ sung theo rạch sẽ mang lại hiệu quả

cao hơn. Rạch phát có bề rộng 2m chỉ sau 1 thời gian sau khi trồng các cây ở băng

chừa đã phát triển mạnh và chèn ép sang cây trồng bổ sung ảnh hưởng tới sinh

trưởng của loài. Do vậy, khi phát nên phát rạch có bề rộng lớn hơn, khoảng 3m.

- Kỹ thuật chăm sóc cây trồng bổ sung: Chăm sóc hàng năm cho tới khi cây

trồng bổ sung tham gia vào tầng tán chính.

b) Đối với những cây trên băng chừa

Kỹ thuật tác động đối với cây trên các băng chừa áp dụng như đối với rừng

khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên.



KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ

1. Kết luận

Từ các kết quả nghiên cứu đã đạt được tại vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú

Yên, đề tài rút ra một số kết luận sau đây:

1.1. Tổng kết, đánh giá các mơ hình và biện pháp kỹ thuật xây dựng rừng

phòng hộ đã có ở vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên

- Việc xây dựng và phát triển hệ thống rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển

tỉnh Phú Yên được thực hiện từ năm 1992 đến nay. Trong giai đoạn 1992 - 1998

rừng được xây dựng theo chương trình 327, kết quả đã trồng và khoanh nuôi

được 6.572,01 ha rừng, tuy nhiên chỉ có 43,64% thành rừng. Giai đoạn tiếp theo

từ năm 1998 đến nay, thông qua dự án 661 đã trồng mới được 44.695 ha,

khoanh nuôi tái sinh tự nhiên 11.460 ha, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh trồng bổ

sung 12.810 ha, giao khoán bảo vệ rừng 67.666 ha; dự án JBIC đã thực hiện

trồng rừng phòng hộ, khoanh ni xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung, quản lý

bảo vệ rừng với tổng diện tích 4.243,60 ha.

- Thơng qua các chương trình, dự án trên, trong khu vực đã xây dựng 9

mơ hình rừng trồng phòng hộ chủ yếu với 8 loài cây trồng. Các loài cây trồng

trong chương trình 327 và dự án 661 nhìn chung đạt tỷ lệ sống thấp và sinh

trưởng kém, chỉ có Muồng đen, Dầu rái và Sao đen bước đầu là tỏ ra có triển

vọng. Dự án JBIC tuy có các biện pháp kỹ thuật tương đối tốt nhưng số loài bản địa

thử nghiệm lại chủ yếu chỉ có Dầu rái.

1.2. Biện pháp kỹ thuật trồng rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển

- Sao đen, Lim xanh, Thanh thất bước đầu tỏ ra thích nghi tốt hơn với điều

kiện lập địa của khu vực nghiên cứu hơn so với Muồng đen và Dầu rái, thể hiện ở tỷ

lệ sống cao, cây sinh trưởng nhanh. Ở tuổi 6, tỷ lệ sống của 3 loài cây này dao động

82,7 - 86,1%, sinh trưởng đường kính bình qn đạt 1,1 - 1,3 cm/năm, chiều cao

bình quân đạt 0,9 - 1,1 m/năm, cây phẩm chất xấu chỉ chiếm 7,6 - 18,5%.

- Xử lý thực bì theo băng cho tỷ lệ sống và sinh trưởng tốt hơn đối với xử lý



thực bì tồn diện đối với các cây bản địa thử nghiệm. Tại tuổi 6, Lim xanh và Dầu

rái trồng theo băng đạt tỷ lệ sống 79,2 - 85,3%, sinh trưởng đường kính bình

qn đạt 1,2 - 1,3 cm/năm, chiều cao bình quân đạt 0,8 m/năm, tỷ lệ cây phẩm

chất xấu chỉ chiếm 7,1 - 8,2%.

- Phương pháp trồng hỗn giao trong hàng cho tỷ lệ sống và sinh trưởng

tốt hơn hỗn giao theo hàng. Tại tuổi 6, tỷ lệ sống của các loài Sao đen, Dầu rái,

Thanh thất trồng hỗn giao trong hàng đạt 82,2 - 84,0%, sinh trưởng đường kính

bình qn đạt 1,1 - 1,4 cm/năm, chiều cao 0,8 - 1,1 m/năm, tỷ lệ cây phẩm chất

xấu chỉ chiếm 6,6 - 12,5%.

- Sao đen trồng trên dạng lập địa B cho tỷ lệ sống và sinh trưởng tốt

hơn dạng lập địa C, D2. Tại tuổi 6, tỷ lệ sống của Sao đen trên dạng lập địa B là

85,3% (lập địa C 83,0% và lập địa D2 là 80,7%) , sinh trưởng đường kính bình quân

đạt 1,3 cm/năm (lập địa C 1,3 cm/năm và lập địa D2 là 1,1 cm/năm), chiều cao

bình quân đạt 1,2 m/năm (dạng lập địa C là 1,1 m/năm và dạng lập địa D2 là 0,9

m/năm), cây phẩm chất xấu chỉ chiếm 7,6% (dạng lập địa C là 10,8%, dạng lập địa

D2 là 15,4%).

1.3. Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật khoanh nuôi xúc tiến tái sinh và khoanh

nuôi xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển

- Biện pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên đã có tác động tích cực

tới sự phục hồi của rừng tự nhiên ở khu vực nghiên cứu. Sau 7 năm khoanh ni

có tác động các biện pháp xúc tiến tái sinh tự nhiên, mật độ tầng cây cao dao

động 268 - 304 cây/ha; xuất hiện 19 - 23 lồi trong cơng thức tổ thành; rừng đã

hình thành 3 tầng tán; độ tàn che đạt 0,7; lượng tăng trưởng thường xuyên hàng

năm về đường kính của các loài cây ưu thế từ 0,5 - 0,9 cm/năm, lượng tăng

trưởng thường xuyên hàng năm về chiều cao 0,4 - 0,8 m/năm. Mật độ cây tái

sinh dao động từ 1.440 1.500 cây/ha; số lồi xuất hiện trong cơng thức tổ thành dao động 19 - 23 loài;

chiều cao cây tái sinh < 1m chỉ chiếm trung bình có 39,3%, chiều cao 1 - 2m chiếm

trung bình 47,8% và cây có chiều cao vượt trên 2m chiếm tới 13,0%; tỷ lệ cây có

phẩm chất xấu chỉ chiếm khoảng 8,6%; tỷ lệ cây tái sinh có triển vọng đạt 11,6%;

lượng tăng trưởng bình qn hàng năm về đường kính gốc của các loài cây ưu thế



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Kỹ thuật điều chỉnh tổ thành loài:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×