Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
* Sinh trưởng chiều cao vút ngọn của các loài cây tái sinh

* Sinh trưởng chiều cao vút ngọn của các loài cây tái sinh

Tải bản đầy đủ - 0trang

T



B

l



2

124



+



C

T

thế dưới tán

1 rừng tự nhiên sau 4 năm khoanh nuôi được thể hiện tại bảng 4.26.

C Sinh trưởng chiều cao vút ngọn của 4 loài cây tái sinh sau 4 năm

Bảng 4.26.

T

khoanh ni

2



1

,

4

9

C

o

+



Lồi



Bằng

T

C

2lăng

ốrầơ0

câyn

01

m

g9012



H vn



Hvn



Zh



Hvn



Zh



Hvn



(m)



(m)



(m/năm)



(m)



(m/năm)



(m)



CT1



1,1



1,4



0,3



1,7



0,3



2,0



CT2



1,1



1,3



0,2



1,5



0,2



1,8



CT1



1,1



1,3



0,2



1,6



0,3



1,9



1

(m/năm ,

0

)

6

C

0,3

a

0,3

+

0,3



CT2



1,1



1,2



0,2



1,4



0,2



1,6



0,2



CT1



1,1



1,3



0,3



1,6



0,3



2,0



0,4



CT2



1,0



1,2



0,2



1,5



0,3



1,7



0,2



CT1



1,1



1,3



0,2



1,6



0,3



2,0



0,4



1

,

0

6

T

h



CT2



1,0



1,2



0,2



1,4



0,2



1,7



0,3



+



thức



2

Số liệu tại bảng 4.26 cho thấy, sinh trưởng chiều cao vút ngọn của cây tái ,

sinh ưu thế trong các lâm phần có thực hiện biện pháp xúc tiến tái sinh tự 7

8

nhiên (CT1) cũng sinh trưởng nhanh hơn hẳn so với các lâm phần đối chứng L

Z

K

(CT2). Lượng tăng trưởng thường xuyên hàng năm về chiều cao vút ngọn trong (

h

các lâm phần có tác động dao động từ 0,3 - 0,4 m/năm trong khi đó đại lượng 7

này ở trong các lâm phần không tác động chỉ dao động từ 0,2 - 0,3 m/năm. Điều l

o

này cho thấy hiệu quả của các biện pháp xúc tiến tái sinh là rõ ràng đối với quá à

i

trình phục hồi rừng tự nhiên tại vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên.

)

0

,

9

3

T

r

+

0

,



125



0

C

o

+

0

,

6

7

B

l

+

0

,

6

7

C

a

+



Hình 4.14. Đánh dấu định vị cây tái sinh để theo dõi sinh trưởng



0

,

5

3

C

n

+

0

,

5

3

G

o

+

0

,

5

3

T

t



Hình 4.15. Rừng khoanh nuôi không tác động biện pháp xúc tiến tái sinh tự

nhiên tại huyện Tuy An sau 4 năm khoanh ni



+

0

,

5

3



h

126



+

0

,

5

3

V

+

0

,

5

3

L

m

+



Hình 4.16. Rừng khoanh ni có tác động biện pháp xúc tiến tái sinh tự nhiên

tại huyện Tuy An sau 4 năm khoanh ni



0

,

5

3

K

+

2

,

6

9

L

K

(

1

0

l

o

à

i

)



1

,

Hình 4.17. Rừng khoanh ni có tác động biện pháp xúc tiến tái sinh tự nhiên tại 1

7

thị xã Sông Cầu sau 7 năm khoanh nuôi

T

r

+



,

1

7

C

a



127



4.3.2. Biện pháp kỹ thuật khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung



+



Việc thực hiện khoanh ni xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung đối

với rừng tự nhiên tại vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên được đề tài thực hiện 1

,

từ năm 2010 với 3 loài cây trồng bổ sung là Sao đen, Dầu rái và Lim xanh. Mật 0

4

độ trồng bổ sung là 500 cây/ha, theo 2 phương thức trồng bổ sung là theo rạch và C

o

theo đám.

4.3.2.1. Đánh giá tỷ lệ sống của các loài cây trồng bổ sung



+



Kết quả đánh giá tỷ lệ sống của các loài cây trồng bổ sung tại vùng đồi núi 1

ven biển tỉnh Phú Yên được thể hiện tại bảng 4.27.



,



Bảng 4.27. Diễn biến tỷ lệ sống của các loài cây trồng bổ sung tại khu vực



0

4



nghiên cứu sau 3 năm trồng



B



Dầu rái



Lim xanh



Sao đen



bổ sung



2010



2011



2012



Trồng theo đám



82,7



79,3



72,7



Trồng theo rạch



92,0



89,3



86,0



Trồng theo đám



90,7



86,7



84,7



Trồng theo rạch



96,7



96,0



96,0



Trồng theo đám



90,0



88,7



86,7



+



0

,

9



L

P

T

1

95,3

94,7

94,0

oh



àư

B



l

ệ ra một số kết luận sau:

l

Từ số liệu tại bảng 4.27 có thể rútn

g

Tỷ lệ sống của các lồi Dầu rái,s Lim xanh, Sao đen trồng theo rạch nhìn

tố

nvới phương thức trồng theo đám, cụ thể

chung đều đạt tỷ lệ sống cao hơn soh



g

+

đánh giá ở giai đoạn 3 tuổi như sau: c

t

+ Tỷ lệ sống của Dầu rái trồng theo

th rạch đạt 86% trong khi trồng theo đám

re

chỉ đạt 72,67%.

ồo

0

n

+ Tỷ lệ sống của Lim xanh trồng theo rạch đạt tới 96,0% trong khi trồng theo

gc

,

á

6

c

Trồng theo rạch



n

ă



5

D



(

%

) 128



+

0



đám chỉ đạt 84,67%.



,



+ Tương tự như Dầu rái và Lim xanh, tỷ lệ sống của Sao đen trồng theo rạch 6

5



đạt 94,0% trong khi trồng theo đám chỉ đạt 86,67%.



Tỷ lệ sống của các loài cây trồng bổ sung phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố T

khác nhau, trong đó sự chèn ép về khơng gian dinh dưỡng, ánh sáng,… của các loài t

cây xung quanh đặc biệt là cây bụi, dây leo và các cây tầng cây cao. Do vậy, để các

loài cây trồng bổ sung phát triển tốt thì việc chăm sóc hàng năm phải đặc biệt

được chú trọng.

Nhìn chung, tỷ lệ sống của các lồi đều đạt khá cao và có xu hướng giảm từ

tuổi 1 đến tuổi 3. Phương thức trồng theo rạch đạt tỷ lệ sống cao hơn trồng

theo đám ở cả 3 loài cây trồng bổ sung là Dầu rái, Lim xanh và Sao đen. Ở giai

đoạn 3 năm tuổi, tỷ lệ sống của các loài đã bắt đầu ổn định, trong 3 lồi cây trồng



+

3

,

3

7

L



bổ sung thì Lim xanh đạt tỷ lệ sống cao nhất, tiếp đến là Sao đen, Dầu rái đạt tỷ lệ K

sống thấp nhất.



(



4.3.2.2. Đánh giá sinh trưởng đường kính gốc các lồi cây trồng bổ sung



1



Kết quả đánh giá sinh trưởng đường kính gốc của các loài cây trồng bổ sung 2

ở khu vực nghiên cứu được tổng hợp tại bảng 4.28.

Bảng 4.28. Ảnh hưởng của phương thức trồng bổ sung tới sinh trưởng đường



l



kính gốc của từng loài cây giai đoạn 3 tuổi



o



Trồng theo đám



Trồng theo rạch



∆D00



∆D00



à



So sánh



i



(cm)



năm)



Dầu rái



1,9



0,6



11,4



2,0



0,7



12,2



137,0



97,5



)

0

Sig ,

9

7

T

0,00 r



Lim xanh



2,3



0,8



16,5



2,6



0,9



12,7



165,3



101,4



0,00



Sao đen



2,0



0,7



14,3



2,3



0,8



16,8



161,3



108,2



0,00



Loài



D00



(cm/



SD



D00



(cm/



(%)



(cm)



năm)



SD

(%)



Tổng



Tổng



hạng



hạng



(rạch)



(đám)



+

0

,

8

3

B



+

129



0

,

8

3

Số liệu tại bảng 4.28 cho thấy các loài Dầu rái, Lim xanh và Sao đen trồng C

o

theo rạch sau 3 năm trồng đạt đường kính dao động từ 2,0 - 2,6 cm là cao hơn

+

hẳn so với trồng theo đám chỉ đạt 1,9 - 2,3 cm. Lượng tăng trưởng bình quân về

đường kính gốc của trồng bổ sung theo rạch dao động từ 0,7 - 0,9 cm/năm, cao

hơn so với trồng theo đám chỉ đạt 0,6 - 0,8 cm/năm. Hệ số biến động sinh trưởng

đường kính gốc của các lồi cây khi trồng bổ sung theo đám và theo rạch là

không lớn, dao động từ 11,4 - 16,8%.

- So sánh sinh trưởng cùng 1 loài trồng ở 2 phương thức trồng bổ sung:

Để so sánh khả năng sinh trưởng về đường kính gốc của cùng một loài trồng

ở 2 phương thức trồng bổ sung, đề tài sử dụng tiêu chuẩn U của Man - whitney

để so sánh theo từng cặp (Dầu rái theo rạch - Dầu rái theo đám, Lim xanh theo

rạch - Lim xanh theo đám, Sao đen theo rạch - Sao đen theo đám), kết quả cho

thấy các giá trị Sig tính tốn đều đạt <0,05, kết luận có sự khác nhau rõ rệt về

sinh trưởng đường kính của các loài cây trồng bổ sung theo đám và theo rạch. Kết

quả tính tốn tổng hạng (R) cho thấy, tổng hạng của các loài trồng theo rạch dao

động từ 137,0 - 161,3 là cao hơn hẳn so với tổng hạng của trồng theo đám chỉ đạt

97,5 - 108,2 nên kết luận các loài Dầu rái, Sao đen, Lim xanh trồng bổ sung

theo rạch cho sinh trưởng đường kính gốc tốt hơn hẳn so với trồng theo đám về

mặt thống kê.

- So sánh sinh trưởng giữa các loài cây trồng bổ sung ở phương thức trồng

bổ sung tốt nhất:

Từ kết quả trên cho thấy, các loài Dầu rái, Sao đen, Lim xanh trồng bổ sung

theo rạch là tốt hơn so với trồng bổ sung theo đám. Để có cơ sở xác định loài cây

nào trong 3 loài cây trên trồng bổ sung theo rạch là tốt nhất, đề tài tiến hành

phân tích phương sai ANOVA để so sánh. Kết quả cho thấy, giá trị tính tốn Sig của

các phép so sánh đều đạt giá trị Sig<0,05 nên kết luận các loài Lim xanh, Dầu rái,

Sao đen trồng bổ sung theo rạch là có sự khác nhau rõ rệt về mặt thống kê. Sử

dụng tiêu chuẩn Ducan để so sánh, kết quả Lim xanh sinh trưởng nhanh nhất đạt

2,6 cm, tiếp đến là Sao đen 2,3 cm và chậm nhất là Dầu rái chỉ đạt 2,0 cm.

4.3.2.3. Đánh giá sinh trưởng chiều cao vút ngọn các loài cây trồng bổ sung



130



Kết quả so sánh sự khác biệt giữa các phương thức trồng bổ sung (theo

rạch, theo đám) tới sinh trưởng chiều cao vút ngọn của các loài cây trồng bổ sung

tại khu vực nghiên cứu được tổng hợp tại bảng 4.29.

Bảng 4.29. Ảnh hưởng của phương thức trồng bổ sung tới sinh trưởng chiều cao

vút ngọn của từng loài cây giai đoạn 3 tuổi

Trồng theo đám

∆Hvn



SH



(m/năm)



(%)



1,3



0,4



11,3



1,7



0,6



1,5



0,5



Hvn



Loài



(m)

Dầu rái

Lim

xanh

Sao đen



Trồng theo rạch

Tổng



Tổng



hạng



hạng



(rạch)



(đám)



13,1



158,8



77,4



0.00



0,6



6,6



178,2



86,7



0.00



0,6



10,2



162,8



106,5



0,00



∆Hvn



SH



(m/năm)



(%)



1,5



0,5



12,0



1,9



17,2



1,7



Hvn



(m)



So sánh

Sig



Số liệu tại bảng 4.29 cho thấy, chiều cao vút ngọn của các loài cây trồng bổ

sung theo rạch ở tuổi 3 dao động 1,5 - 1,9 m là cao hơn so với trồng theo đám

chỉ đạt 1,3 - 1,7m. Lượng tăng trưởng bình qn hàng năm về chiều cao vút

ngọn các lồi trồng theo rạch dao động 0,5 - 0,6 m/năm là cao hơn so với trồng

theo đám chỉ đạt 0,4 - 0,6 m/năm. Hệ số biến động về sinh trưởng chiều cao của

các loài trồng theo rạch dao động 6,6 - 13,1% thấp hơn so với trồng theo đám 11,3

- 17,2%.

- So sánh sinh trưởng cùng 1 loài trồng ở 2 phương thức trồng bổ sung:

Tương tự như sinh trưởng đường kính gốc, đề tài cũng tiến hành so sánh

theo cặp từng loài để so sánh khả năng sinh trưởng về chiều cao của loài theo

phương thức trồng bổ sung. Kết quả kiểm tra bằng tiêu chuẩn U của Man-whitney

cho thấy, giá trị Sig tính tốn đều đạt nhỏ hơn 0,05 nên kết luận phương thức

trồng bổ sung có ảnh hưởng rõ rệt tới sinh trưởng chiều cao vút ngọn của các

lồi cây trồng bổ sung. Kết quả tính tốn tổng hạng R cho thấy, tổng hạng của các

cây trồng theo rạch dao động 158,8 - 178,2% là lớn hơn hẳn so với trồng theo đám

chỉ đạt 77,4 - 106,5 nên kết luận các loài Dầu rái, Lim xanh, Sao đen trồng bổ sung

theo rạch cho sinh trưởng chiều cao là tốt hơn trồng theo đám ở cả 3 loài cây trồng



bổ sung.



131



132



- So sánh sinh trưởng giữa các loài cây trồng bổ sung ở phương thức trồng

bổ sung tốt nhất:

Để lựa chọn loài ưu tiên phục hồi rừng tại khu vực theo phương thức

trồng bổ sung theo rạch, đề tài đã tiến hành phân tich phương sai 1 nhân tố

ANOVA để so sánh giữa các loài Lim xanh, Dầu rái và Sao đen. Kết quả cho thấy,

giá trị Sig tính tốn đều nhỏ hơn 0,05 nên kết luận có sự sai khác rõ ràng sinh

trưởng chiều cao vút ngọn giữa các loài trồng bổ sung theo rạch về mặt thống

kê. Sử dụng tiêu chuẩn Ducan có thể xác định được Lim xanh sinh trưởng chiều

cao tốt nhất đạt 1,9m, tiếp đến là Sao đen 1,7m và thấp nhất là Dầu rái chỉ đạt

1,5m.

4.3.2.4. Đánh giá chất lượng sinh trưởng các loài cây trồng bổ sung

Kết quả theo dõi diễn biến chất lượng sinh trưởng của các loài cây trồng

bổ sung tại khu vực vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên được thể hiện tại bảng 4.30.

Bảng 4.30. Diễn biến chất lượng cây trồng bổ sung tại khu vực nghiên cứu sau

3 năm trồng



thức



Tốt



TB



Xấu



Tốt



TB



Xấu



Tốt



TB



Xấu



Dầu



Đám



25,0



58,2



16,8



34,5



51,2



14,3



47,7



41,3



11,0



rái



Rạch



26,1



63,8



10,1



39,7



52,2



8,2



47,5



46,4



6,1



Lim



Đám



25,8



62,5



11,8



45,3



46,2



8,5



54,4



39,3



6,3



xanh



Rạch



35,2



55,8



9,0



48,0



47,2



4,9



56,9



39,6



3,5



Sao



Đám



26,7



61,5



11,9



36,9



52,6



10,5



48,5



43,1



8,5



L

P

2D đen

Rạch

32,1 58,1 9,8 42,2 49,3 8,4 56,6 35,7 7,7

oh

0i

àư

1ể

Từ số liệu tại bảng 4.30 cho thấy, chất lượng sinh trưởng của các loài Dầu



0n

12

n

gbrái, Lim xanh, Sao đen đều có sự cải thiện tích cực sau 3 năm trồng, thể hiện ở tỷ lệ

icây có phẩm chất xấu có chiều hướng giảm đi và số cây phẩm chất tốt và phẩm

ế

nchất trung bình tăng lên ở cả 2 phương thức trồng theo đám và theo rạch.

tSang năm 2012, sau 3 năm trồng tỷ lệ cây phẩm chất xấu của 3 loài ở cả 2 phương



thức trồng

l





p

h



m



133



c

h



tchỉ còn dao động ở 3,5 - 11,0%, trong đó tỷ lệ cây phẩm chất xấu ở phương thức

qtrồng theo đám dao động 6,3 - 11,0% là cao hơn so với trồng theo rạch chỉ với 3,5 u

a7,7%. Do đó, trồng theo rạch các loài Lim xanh, Dầu rái, Sao đen cho chất lượng

csinh trưởng tốt hơn so với trồng theo đám.

á

c4.4. Bước đầu đánh giá tác dụng phòng hộ của các mơ hình rừng phòng hộ thí

nnghiệm đã xây dựng

ă 4.4.1. Hoàn trả vật rơi rụng cho đất

m

Vật rơi rụng có vai trò rất quan trọng đối với hệ sinh thái rừng, thể hiện một

(

%

phần của chu trình tuần hồn vật chất trong hệ sinh thái tự nhiên. Các loại

)

cành, nhánh, lá, hoa, quả rơi rụng sẽ được vi sinh vật phân huỷ tạo nên một lớp

thảm mục và cuối cùng là lượng mùn hữu cơ trả lại cho đất, giúp đất tăng độ

màu mỡ và cải thiện độ xốp của đất. Khơng chỉ vậy, vật rơi rụng còn có tác dụng

che phủ và bảo vệ mặt đất khỏi bị xói mòn, giữ ẩm cho đất, tạo điều kiện cho các

lồi vi sinh vật và sinh vật có lợi cho đất sinh sống.

Kết quả điều tra, đánh giá lượng vật rơi rụng của các loài cây bản địa gồm:

Sao đen, Thanh thất, Lim xanh, Muồng đen, Dầu rái, hoàn trả cho đất tại tuổi 6

được tổng hợp tại bảng 4.31.

Bảng 4.31. Sự hoàn trả vật rơi rụng cho đất của các lồi cây ở tuổi 6



3



Tươi



Khơ



Tươi



Khơ



(m /ha



1



Sao đen



0,16



0,09



1,63



0,90



0,73



2



Thanh thất



0,19



0,12



1,88



1,18



0,70



3



Lim xanh



0,14



0,08



1,35



0,78



0,58



4



Muồng đen



0,18



0,11



1,80



1,05



0,75



5



Dầu rái



0,21



0,10



2,08



1,00



1,08



Trung bình

TT

Lồi



0,17

0,10

Lượng vật rơi rụng



1,75

0,98

Lượng vật rơi rụng



0,77

Lượng nước



(kg/m2)



(tấn/ha)



giữ trong lá

)



134



Số liệu tại bảng 4.31 cho thấy, lượng vật rơi rụng hoàn trả cho đất của các

loài cây bản địa tại tuổi 6 ở khu vực nghiên cứu là khá lớn, dao động từ 1,35 - 2,08

tấn sinh khối tươi/ha, trong đó đạt lớn nhất là lồi Dầu rái với 2,08 tấn sinh

khối tươi/ha, tiếp đến là loài Thanh thất với 1,88 tấn sinh khối tươi/ha và thấp nhất

là loài Lim xanh cũng đạt 1,35 tấn sinh khối tươi/ha. Trung bình 1 ha trồng 5 lồi

cây trên có thể trả lại cho đất lượng vật rơi rụng là 1,75 tấn sinh khối tươi/ha.

0



Sau khi sấy khô ở nhiệt độ 105 c đến khối lượng không đổi, lượng vật rơi

rụng còn lại dao động 0,78 - 1,18 tấn sinh khối khơ/ha, trung bình là 0,98 tấn sinh

khối khơ/ha đối với cả 5 loài. Hai loài Sao đen và Dầu rái có lượng sinh khối vật rơi

rụng vượt hơn hẳn so với các lồi còn lại là nhờ có kích thước lá lớn hơn và cây

cũng rụng lá tương đối nhiều vào mùa Đông. Tuy nhiên, sau khi sấy mức độ giảm

về khối lượng của vật rơi rụng Dầu rái và Sao đen cũng lớn hơn so với các loài khác

do các lồi này có lá dày, chứa nhiều nước hơn so với 3 lồi còn lại. Lượng vật rơi

rụng này sau khi được phân huỷ sẽ đóng góp một lượng mùn rất lớn trả lại cho

đất, góp phần cải tạo và nâng cao độ phì của đất. Bên cạnh đó, vật rơi rụng ở điều

kiện bình thường còn tích trữ một lượng nước dao động từ 0,58 – 1,08 m



3



nước/ha. Đây là chức năng rất quan trọng của vật rơi rụng, góp phần làm giảm

lượng dòng chảy mặt trong mùa mưa, hạn chế bốc hơi nước và tăng độ ẩm đất vào

mùa khơ.

4.4.2. Cải thiện tính chất vật lý, hố học của đất

4.4.2.1. Cải thiện tính chất vật lý của đất

Kết quả đánh giá khả năng cải thiện tính chất vật lý của đất của các loài cây

bản địa tại khu vực nghiên cứu được thể hiện tại bảng 4.32.

Bảng 4.32. Khả năng cải thiện tính chất vật lý đất của các loài cây bản địa ở khu

vực nghiên cứu (tuổi 6)



Loài



Sao đen



Phẫu



Tầng



Độ ẩm



diện



đất (cm)



(%)



0 - 20



32,5



20 - 40



33,8



1



Độ

xốp



Thành phần cơ giới (%)

Sét



Limon



Cát



57,5



15,6



19,3



65,1



55,4



16,3



20,1



63,6



(%)



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

* Sinh trưởng chiều cao vút ngọn của các loài cây tái sinh

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×