Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nhận xét và đánh giá chung:

Nhận xét và đánh giá chung:

Tải bản đầy đủ - 0trang

84



i 5

5

m0

,

6

x

a 4

n 0

h ,



- Muồng đen là loài đạt sinh trưởng đường kính ngang ngực lớn nhấtD



đạt 8,5cm, tiếp đó là tới các lồi Thanh thất (D1.3 = 7,7cm), Lim xanh (D1.3 =

u

7,3cm), Sao đen (D1.3 = 6,8cm) và thấp nhất là lồi Dầu rái đường kính D1.3 chỉ đạt

r

6,3cm sau 6 năm trồng. Muồng đen vẫn là loài sinh trưởng ưu thế về chiều caoá

vút ngọn trong các lồi cây thí nghiệm (Hvn = 7,3m), tiếp đến là Thanh thất (Hvn =i



5

5

5

,

7



4

5

M

6,3m), Sao đen (Hvn = 5,4m), Lim xanh (Hvn = 5,1m) và thấp nhất là loài Dầu rái chỉ ,

u 8

đạt Hvn là 4,8m sau 6 năm trồng. Tuy nhiên, hệ số biến động về sinh trưởng vềồ

n 4

đường kính và chiều cao của lồi Muồng đen lại lớn hơn hẳn so với các lồi còng 8

lại đạt 17,2% về biến động sinh trưởng đường kính và 15,0% về biến động sinh ,

đ 1

trưởng chiều cao cho thấy khả năng sinh trưởng của lồi là khơng đồng đều.

e

- Tỷ lệ cây phẩm chất xấu chiếm lớn nhất ở loài Muồng đen là 18,5%, tiếpn

đến là loài Dầu rái với 13,5%, các lồi cây còn lại cho sinh trưởng khá tốt với tỷ lệT

h

a

cây phẩm chất xấu đều đạt dưới 10%.

n

- Tỷ lệ sống, khả năng sinh trưởng đường kính, chiều cao của các lồi câyh

bản địa trong thí nghiệm của đề tài đều thể hiện sự vượt trội hơn hẳn so với

t

các chương trình 327, dự án 661 trồng rừng trước đó. Điều này cho thấy, các biệnh



pháp kỹ thuật tác động của đề tài đã có tác động tích cực tới khả năng thích nghi

t

và sinh trưởng của cây bản địa tại khu vực.

Kết quả bước đầu đánh giá cho thấy, các loài cây Thanh thất, Sao đen, Lim

xanh tỏ ra có triển vọng nhất đối với trồng rừng phòng hộ tại khu vực nghiên cứu.

4.2.2. Ảnh hưởng của các biện pháp xử lý thực bì đến sinh trưởng của các

lồi cây trồng rừng phòng hộ

Biện pháp xử lý thực bì có tác động rất lớn tới tỷ lệ sống, sinh trưởng phát

triển của các loài cây trồng rừng phòng hộ. Đối với các lồi cây mọc nhanh, ưa

sáng ngay từ khi còn nhỏ, biện pháp xử lý thực bì tồn diện mang lại hiệu quả

trong việc tạo sự thơng thống về khơng gian dinh dưỡng, hạn chế sự cạnh

tranh của các loài cây trồng khác đối với cây trồng chính. Tuy nhiên, đối với các

lồi cây bản địa, đặc biệt là cây bản địa cần có sự che bóng ở giai đoạn mới

trồng thì thực bì lại có vai trò quan trọng trong việc che bóng, giảm sự thốt hơi

nước, tạo



T

r

u

n

g

b

ì

n

h



85



hồn cảnh rừng cho cây trồng phát triển.

4.2.2.1. Ảnh hưởng của biện pháp xử lý thực bì tới tỷ lệ sống của cây trồng

Kết quả theo dõi ảnh hưởng của các biện pháp xử lý thực bì tới tỷ lệ sống

của 2 lồi Dầu rái và Lim xanh tại khu vực nghiên cứu sau 6 năm trồng được tổng

hợp tại bảng 4.8.

Bảng 4.8. Diễn biến tỷ lệ sống của các loài cây sau 6 năm trồng theo các biện

pháp xử lý thực bì khác nhau



Lim xanh



thức



Tuổi 1



Tuổi 2



Tuổi 3



Tuổi 4



Tuổi 5



Tuổi 6



CT1



95,7



93,5



89,5



88,3



86,3



85,3



CT2



94,1



82,2



80,4



79,4



78,1



77,3



CT1



91,2



88,4



85,5



81,3



80,1



79,2



L

C

TDầu rái

CT2

86,5

81,4

78,5

76,7

75,4

74,0

oôỷ

àn

igl

CT1 - Xử lý thực bì theo băng; CT2 - xử lý thực bì tồn diện



Số liệu bảng 4.8 cho ta một số nhận xét sau:

s

- Biện pháp xử lý thực bì có ảnh hưởng rõ rệt tới tỷ lệ sống của 2 loài Lim



n

gxanh và Dầu rái, cụ thể ở tuổi 6 tỷ lệ sống của Lim xanh trong công thức xử lý thực

bì theo băng (CT1) đạt 85,3% là cao hơn hẳn Lim xanh trong cơng thức xử lý thực

(

%

bì tồn diện (CT2) chỉ đạt 77,3%; Dầu rái xử lý thực bì theo băng (CT1) đạt tỷ lệ

)

sống 79,2% là cao hơn hẳn so với Dầu rái trong công thức xử lý thực bì tồn diện

t

h(CT2) chỉ đạt 74,0%.

e

- Tỷ lệ sống của các loài Lim xanh, Dầu rái trong cả 2 biện pháp xử lý thực

o

cbì theo băng và tồn diện đều có sự biến động theo thời gian, cụ thể loài Lim xanh

áở năm thứ nhất sau khi trồng, tỷ lệ sống đạt rất cao, dao động 94,1 - 95,7% do

c

được trồng dặm. Từ năm thứ 2 trở đi, do chỉ tiến hành chăm sóc và bị ảnh hưởng

n

ăbởi điều kiện thời tiết khắc nghiệt vùng ven biển nên tỷ lệ sống của cả 2 loài Dầu

m

rái và Lim xanh đều giảm đi rõ rệt. Ở tuổi 6, tỷ lệ sống của Lim xanh ở công thức xử

lý thực bì theo băng đạt 85,3%, cao hơn so với xử lý thực bì tồn diện chỉ đạt

77,3%; Dầu rái



86



ở cơng thức xử lý thực bì theo băng đạt tỷ lệ sống là 79,2% là tốt hơn so với xử lý

thực bì tồn diện chỉ đạt 74,0%. Trong 2 lồi cây thí nghiệm thì Lim xanh đạt tỷ lệ

sống cao hơn Dầu rái ở cả biện pháp xử lý thực bì theo băng và toàn diện.

Nguyên nhân cả 2 loài Lim xanh và Dầu rái trồng ở công thức xử lý thực bì

theo băng đều đạt tỷ lệ sống cao hơn so với xử lý thực bì tồn diện là do: Cả 2 loài

cây trên đều là cây bản địa, giai đoạn mới trồng cần có thực bì che chắn bớt

một phần ánh sáng trực xạ để phát triển; khu vực bố trí thí nghiệm đất đai

nghèo dinh dưỡng, tầng đất mỏng, giáp biển nên gió biển làm đất bị khơ, độ ẩm

thấp, mùa khô kéo dài hơn 6 tháng, nên việc để lại một lớp thực bì sẽ có tác dụng

làm giảm lượng thoát hơi nước, giữ ẩm cho đất, tạo điều kiện để cây sống tốt hơn.

4.2.2.2. Ảnh hưởng của biện pháp xử lý thực bì tới sinh trưởng D1,3 và Hvn

của cây trồng

Kết quả đánh giá ảnh hưởng của biện pháp xử lý thực bì tới sinh

trưởng đường kính ngang ngực, chiều cao vút ngọn của 2 lồi Lim xanh và Dầu rái

trong 2 biện pháp xử lý thực bì theo băng và tồn diện được tổng hợp tại bảng 4.9.

Bảng 4.9. Sinh trưởng D1.3, Hvn của các lồi cây trồng tuổi 6 trong thí nghiệm

biện pháp xử lý thực bì



D1.3



SD1.3



∆D1.3



(cm)



(%)



(cm)



CT1



7,5



11,8



1,3



CT2



6,2



17,5



1,0



CT1



7,0



10,6



1,2



CT2



6,0



15,8



1,0



thức



Sig



0,00



0,00



Tổng



Hvn



SHvn



∆Hvn



hạng



(m)



(%)



(m)



159,7



4,8



13,6



0,8



80,1



4,2



16,5



0,7



146,7



4,6



13,4



0,8



85,5



4,0



18,5



0,7



Sig



0,00



0,00



Tổng

hạng

148,4

92,3

154,3

77,4



LCS S

D

ầi i i

àn n n Số liệu tại bảng 4.9 cho thấy, biện pháp xử lý thực bì có ảnh hưởng rõ rệt tới

um

ig h h

rxsinh trưởng

đường kính ngang ngực, chiều cao vút ngọn của 2 lồi Dầu rái và Lim

t t

áa r r

tại tuổi 6 trong 2 cơng thức xử lý thực bì, cụ thể:

inxanh

ư ư

hở ở

n

n g

g H

D



3



87



- Đường kính ngang ngực của Lim xanh và Dầu rái trong cơng thức xử lý

thực bì theo băng (CT1) đạt lần lượt là 7,5 cm và 7,0 cm là cao hơn hẳn so với công

thức xử lý thực bì tồn diện (CT2) chỉ đạt 6,2 cm đối với Lim xanh và 6,0 cm đối

với Dầu rái. Lượng tăng trưởng bình quân hàng năm của Lim xanh trong cơng thức

xử lý thực bì theo băng đạt 1,3 cm/năm, Dầu rái đạt 1,2 cm/năm, trong khi nó

chỉ đạt tương ứng ở cơng thức xử lý thực bì tồn diện là 1,0 cm/năm và 1,0

cm/năm. Hệ số biến động sinh trưởng đường kính của Lim xanh và Dầu rái trong

cơng thức xử lý thực bì theo băng cũng chỉ dao động từ 10,6 - 11,8% là thấp hơn

hẳn so với cơng thức xử lý thực bì tồn diện là 15,8 - 17,5%, điều này cho thấy các

loài Lim xanh và Dầu rái trong cơng thức xử lý thực bì theo băng cho sinh trưởng

đồng đều hơn xử lý thực bì toàn diện.

- Chiều cao vút ngọn của Lim xanh và Dầu rái trong cơng thức xử lý thực bì

theo băng (CT1) đạt lần lượt là 4,8 m và 4,6 m là cao hơn hẳn so với công thức xử

lý thực bì tồn diện (CT2) chỉ đạt 4,2 m đối với Lim xanh và 4,0 m đối với Dầu rái.

Lượng tăng trưởng bình qn hàng năm của Lim xanh trong cơng thức xử lý thực bì

theo băng đạt 0,8 m/năm, Dầu rái đạt 0,8 m/năm là cao hơn hẳn so với Lim xanh

và Dầu rái trong công thức xử lý thực bì tồn diện chỉ đạt tương ứng là 0,7

m/năm và 0,7 m/năm. Hệ số biến động sinh trưởng chiều cao vút ngọn của Lim

xanh và Dầu rái trong công thức xử lý thực bì theo băng chỉ dao động từ 13,4 13,6% là thấp hơn hẳn so với công thức xử lý thực bì tồn diện là 16,5 - 18,5%,

điều này cho thấy các loài Lim xanh và Dầu rái trong cơng thức xử lý thực bì theo

băng cho sinh trưởng đồng đều hơn xử lý thực bì tồn diện.

Sử dụng tiêu chuẩn U của Man-Whitney để so sánh sinh trưởng đường

kính, chiều cao vút ngọn của 2 lồi Lim xanh và Dầu rái trong 2 công thức xử lý

thực bì theo băng và tồn diện cho thấy, giá trị xác suất Sig <0,05, có thể kết luận

biện pháp xử lý thực bì có ảnh hưởng rõ rệt tới sinh trưởng đường kính, chiều

cao của 2 lồi cây tại khu vực nghiên cứu. Dựa vào việc xếp hạng trung bình để

tìm cơng thức tốt nhất cho thấy, cơng thức xử lý thực bì theo băng cho sinh

trưởng đường kính và chiều cao là tốt hơn hẳn so với xử lý thực bì tồn diện.



88



Ngun nhân các lồi Dầu rái, Lim xanh trồng trong cơng thức xử lý thực bì

theo băng đạt sinh trưởng đường kính D1.3, chiều cao vút ngọn lớn hơn so với

trồng trong công thức xử lý thực bì theo đám là do thực bì đã có vai trò tích

cực trong việc giữ độ ẩm đất, giảm cường độ chiếu sáng trực xạ nên cây sinh

trưởng tốt hơn so với khu vực xử lý thực bì tồn diện.

Kết quả so sánh về sinh trưởng đường kính, chiều cao của 2 lồi Lim xanh và

Dầu rái trong 2 cơng thức thí nghiệm được thể hiện rõ hơn thơng qua biểu đồ

hình 4.5.



Hình 4.5. Biểu đồ so sánh sinh trưởng D1,3, Hvn của Lim xanh và Dầu rái tuổi 6

trong các cơng thức xử lý thực bì



89



Hình 4.6. Lim xanh 6 năm tuổi trong cơng thức xử lý thực bì theo băng



Hình 4.7. Lim xanh 6 năm tuổi trong cơng thức xử lý thực bì tồn diện



90



4.2.2.3. Ảnh hưởng của biện pháp xử lý thực bì tới chất lượng cây trồng

Kết quả đánh giá ảnh hưởng của biện pháp xử lý thực bì tới chất lượng sinh

trưởng của 2 lồi Dầu rái và Lim xanh ở tuổi 6 được tổng hợp tại bảng 4.10.

Bảng 4.10. Ảnh hưởng của biện pháp xử lý thực bì tới chất lượng cây trồng



Lim xanh



lý thực bì



Tốt



Trung bình



Xấu



Theo băng



43,8



49,1



7,1



Tồn diện



30,9



51,7



17,4



Theo băng

41,0

50,8

8,2

Dầu

rái

L

C

33,9

49,6

16,5

Tồn diện

h

àn



Số liệu tại bảng 4.10 cho thấy, biện pháp xử lý thực bì có ảnh hưởng rõ rệt

igt

tltới chất lượng của các loài cây trồng, cụ thể: Tại tuổi 6, trong công thức xử lý thực

h

ư

bì theo băng tỷ lệ cây phẩm chất tốt của 2 loài Lim xanh và Dầu rái dao động từ





cn41,0 - 43,8%, cây phẩm chất trung bình 46,6 - 50,8%, cây phẩm chất xấu chỉ chiếm

g

xtỷ lệ rất thấp từ 7,1 - 8,2% trong khi đó ở cơng thức xử lý thực bì tồn diện, tỷ lệ



(

cây phẩm chất tốt chỉ chiếm 30,9 - 33,9%, cây phẩm chất trung bình 49,6 - 51,7%,

%

)

tỷ lệ cây phẩm chất xấu chiếm tỷ lệ rất cao, dao động 16,5 - 17,4%. Như vậy, biện

pháp xử lý thực bì theo băng cho chất lượng sinh trưởng của 2 loài Lim xanh và

Dầu rái là tốt hơn so với biện pháp xử lý thực bì tồn diện.

4.2.3. Ảnh hưởng của phương pháp hỗn giao tới sinh trưởng của các lồi cây

trồng rừng phòng hộ

Khi phối trí nhiều lồi cây bản địa với nhau thì phương pháp hỗn giao có

ảnh hưởng rất lớn tới khả năng sinh trưởng của các lồi cây trồng vì nếu bố trí

được phương thức hỗn giao thích hợp sẽ giảm tối thiểu sự cạnh tranh không

gian dinh dưỡng giữa các lồi cây mà lại tận dụng được tối đa khơng gian dinh

dưỡng của từng loài. Do vậy, cần thiết phải bố trí thí nghiệm để đánh giá ảnh

hưởng của phương thức hỗn giao đến sự thích nghi và sinh trưởng các các loài

cây bản địa, để lựa chọn ra phương thức hỗn giao phù hợp nhất.



91



4.2.3.1. Ảnh hưởng của phương pháp hỗn giao tới tỷ lệ sống của các loài

Kết quả theo dõi tỷ lệ sống của các loài cây bản địa theo phương pháp hỗn

giao trồng tại vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên được tổng hợp tại bảng 4.11.

Bảng 4.11. Diễn biến tỷ lệ sống của các loài cây bản địa theo phương pháp hỗn giao

tại vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên



LT

S

D

9T

8Tỷ

8T

8T

87T

87

T

CT

Số

1395u0284 liệu tại bảng 4.11 cho thấy, tỷ lệ sống của các loài cây bản địa có sự biến

ơhaầou513u57489lệu46378u2406u

aoổ, ổ,sốn

ổ, ổ,theo

ổ, ổ, phương pháp hỗn giao, tuổi cây và loài cây trồng, cụ thể:

nđộng

gni i7254i5462gi1763i213i3256i1460

hđr 12(%

3456

tteá ) - Ở năm đầu tiên sau khi trồng, do được trồng dặm nên tỷ lệ sống của 3

hloài

hni 98the

8Dầu

888 rái, Sao đen, Thanh thất trong 2 phương pháp hỗn giao trong hàng

ứấ 26o5432

t , ,các

c(CT1)

, ,và

, , theo hàng (CT2) đều đạt khá cao, dao động 91,2 - 95,7%. Tuy nhiên, ở các



675sau

742 đó, tỷ lệ sống của các lồi đều có xu hướng giảm do điều kiện khắc

năm

m

H

nghiệt của khu vực trồng và không được trồng dặm mà chỉ tiến hành chăm sóc.



Đến tuổi 6, nhìn chung tỷ lệ sống của các loài vẫn đạt khá cao, dao động 78,1 n

84,0%.

- Phương pháp hỗn giao trong hàng cho tỷ lệ sống các loài cây bản địa cao

g

ihơn so với phương pháp hỗn giao theo hàng. Tại tuổi 6, tỷ lệ sống của 3 loài cây

abản địa trong phương pháp hỗn giao trong hàng dao động 82,2 - 84,0% trong khi

otỷ lệ sống của các loài trong phương pháp hỗn giao theo hàng chỉ đạt 78,1 82,4%. Nguyên nhân dẫn tới hiện tượng này là do khi trồng hỗn giao trong hàng

tcác lồi cây có khả

r



n

g



92



h

à

năng tận dụng được tối đa không gian dinh dưỡng và giảm được sự cạnh tranh về

n

không gian sống nhưng khi trồng hỗn giao theo hàng, sự cạnh tranh này là lớn hơn.

g

- Tại tuổi 6, tỷ lệ sống của loài Sao đen đạt lớn nhất ở cả 2 phương pháp hỗn

H

giao, trong đó đạt 84,0% ở phương pháp hỗn giao trong hàng, 82,4% ở



phương pháp hỗn giao theo hàng; tiếp đó là loài Thanh thất đạt 82,6% ở phương

n

pháp hỗn giao trong hàng, 80,1% ở phương pháp hỗn giao theo hàng; loài Dầu

dái cho tỷ lệ sống là thấp nhất, chỉ đạt 82,2% ở phương pháp hỗn giao trong

g

hàng và 78,1% ở phương pháp hỗn giao theo hàng.

i

4.2.3.2. Ảnh hưởng của phương pháp hỗn giao tới sinh trưởng D1,3, Hvn của

a

các loài cây

o

Kết quả đánh giá ảnh hưởng của phương pháp hỗn giao tới khả năng

tsinh trưởng đường kính ngang ngực, chiều cao vút ngọn của 3 loài cây bản địa

htrồng tại khu vực nghiên cứu được tổng hợp tại bảng 4.12.

eBảng 4.12. Ảnh hưởng của phương pháp hỗn giao tới sinh trưởng D1,3, Hvn của các

o

h

à

Cơng

n

gthức



lồi cây bản địa tại tuổi 6

Sinh trưởng D1,3

Loài



D1.3



SD1.3



∆D1.3



(cm)



(%)



(cm)



Sinh trưởng Hvn

Sig05



Hvn



SHvn



∆Hvn



(m)



(%)



(m)



4,7



9,1



0,8



5,8



10,0



1,0



Hỗn



Dầu rái



7,7



12,3



1,3



giao



Sao đen



6,7



9,0



1,1



trong



Thanh



hàng



thất



8,4



10,6



1,4



6,5



8,5



1,1



Hỗn



Dầu rái



6,6



15,6



1,1



4,3



14,0



0,7



giao



Sao đen



5,8



14,3



1,0



4,9



11,4



0,8



theo



Thanh



hàng



thất



7,2



12,4



1,2



5,6



10,9



0,9



0,000



0,000



Từ số liệu tại bảng 4.12, có thể rút ra một số nhận xét sau:



Sig05



0,000



0,000



93



- Sinh trưởng đường kính ngang ngực của các lồi Dầu rái, Sao đen, Thanh

thất trong cơng thức trồng hỗn giao trong hàng dao động 6,7 - 8,4 cm là tốt hơn

so với công thức trồng hỗn giao theo hàng đường kính ngang ngực của các lồi chỉ

dao động 5,8 - 7,2 cm. Lượng tăng trưởng bình qn hàng năm về đường kính

của các lồi trong cơng thức hỗn giao trong hàng dao động 1,1 - 1,4 cm/năm là

cao hơn so với công thức hỗn giao theo hàng chỉ đạt 1,0 - 1,2 cm/năm. Hệ số

biến động sinh trưởng đường kính ngang ngực của các lồi trong công thức hỗn

giao trong hàng dao động 9,0 - 12,3% là thấp hơn 3,3 - 3,4% so với công thức

hỗn giao theo hàng đạt 12,4 - 15,6%.

- Tương tự, sinh trưởng chiều cao vút ngọn của các loài Dầu rái, Sao đen,

Thanh thất trong công thức hỗn giao trong hàng dao động 4,7 - 6,5m là tốt hơn

so với công thức hỗn giao theo hàng chỉ đạt 4,3 - 5,6m. Lượng tăng trưởng bình

quân năm về chiều cao vút ngọn trong công thức trồng hỗn giao theo hàng chỉ

đạt 0,8 - 0,9 m/năm là thấp hơn so với công thức hỗn giao trong hàng đạt 0,8 1,1 m/năm. Hệ số biến động sinh trưởng chiều cao vút ngọn của các lồi trong

cơng thức hỗn giao trong hàng dao động 8,5 - 10,0% là thấp hơn khoảng 2,4 4,0% so với công thức hỗn giao theo hàng đạt 10,9 - 14%.

Nguyên nhân các lồi cây trong thí nghiệm trồng hỗn giao trong hàng sinh

trưởng nhanh hơn so với trồng hỗn giao theo hàng là do cây trồng hỗn giao

trong hàng tận dụng được không gian dinh dưỡng tốt hơn so với trồng hỗn giao

theo hàng. Trong thí nghiệm trồng hỗn giao theo hàng, sự cạnh tranh về không

gian dinh dưỡng trong cùng 1 lồi là lớn hơn.

Kết quả phân tích phương sai 1 nhân tố ANOVA để so sánh sinh trưởng

đường kính, chiều cao giữa các cây trong cùng một cơng thức thí nghiệm cho thấy,

các giá trị tính tốn Sig đều nhỏ hơn 0,05, kết luận các loài Dầu rái, Sao đen, Lim

xanh, Thanh thất trồng hỗn giao theo hàng hoặc trong hàng đều có sự sai khác rõ

rệt về mặt thống kê. Sử dụng tiêu chuẩn Ducan để tìm lồi cây sinh trưởng tốt nhất

cho kết quả:

- Ở cơng thức hỗn giao trong hàng: Thanh thất đạt sinh trưởng nhanh nhất về



94



đường kính là 8,4 cm và chiều cao là 6,5m; Sao đen đứng thứ 2 về sinh trưởng

chiều cao là 5,8m và thấp nhất về đường kính chỉ đạt 6,7cm; Dầu rái đạt sinh

trưởng thấp nhất về chiều cao chỉ đạt 4,7m và đứng thứ 2 về sinh trưởng đường

kính đạt 7,7cm.

- Ở cơng thức hỗn giao theo hàng: Tương tự như đối với trồng hỗn giao

trong hàng, Thanh thất đạt sinh trưởng nhanh nhất cả về đường kính là 7,2 cm,

và chiều cao là 5,6m; Sao đen đứng thứ 2 về sinh trưởng chiều cao là 4,9m và

thấp nhất về đường kính chỉ đạt 5,8cm; Dầu rái đạt sinh trưởng thấp nhất về

chiều cao chỉ đạt 4,3m và đứng thứ 2 về sinh trưởng đường kính đạt 6,6cm.

Đề tài đã sử dụng tiêu chuẩn U của Mann-Whitney để so sánh từng cặp

lồi cây trong 2 thí nghiệm hỗn giao trong hàng và hỗn giao theo hàng (Dầu rái

trong hàng - Dầu rái theo hàng; Sao đen trong hàng - Sao đen theo hàng; Thanh

thất trong hàng - Thanh thất theo hàng), kết quả tính tốn thống kê cho thấy, giá

trị Sig tính tốn ở các cặp so sánh đều đạt giá trị nhỏ hơn 0,05, chứng tỏ có sự sai

khác về sinh trưởng đường kính, chiều cao của các loài cây theo phương thức

trồng hỗn giao. Dựa vào việc xếp tổng hạng cho kết luận, cả 3 loài cây trồng theo

phương pháp hỗn giao trong hàng cho sinh trưởng đường kính, chiều cao là tốt

hơn so với trồng hỗn giao theo hàng.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nhận xét và đánh giá chung:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×