Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
* Nhận xét chung:

* Nhận xét chung:

Tải bản đầy đủ - 0trang

cho cây bản địa phát triển. Tuy nhiên, việc xác định thời điểm tỉa thưa, cường độ tỉa

thưa, biện pháp giảm thiểu sự đổ gẫy khi tỉa thưa,... lại là một bài tốn khó

chưa được giải quyết một cách hợp lý, và kịp thời bởi các loài cây khác nhau thì

nhu cầu ánh sáng theo từng giai đoạn cũng khác nhau.

- Khu vực rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên có điều kiện

lập địa tương đối khắc nghiệt. Do vậy, công tác điều tra lập địa, lựa chọn loài cây

trồng phù hợp với từng dạng lập địa cần đặc biệt được chú ý. Kỹ thuật trồng

rừng phòng hộ cũng cần phải thực hiện theo hướng thâm canh, trong đó chú trọng

yếu tố nguồn giống tốt, kỹ thuật chăm sóc và sử dụng phân bón phù hợp. Tiêu

chuẩn cây con đem trồng cần phải được nâng lên 16 - 18 tháng tuổi để nâng cao

tỷ lệ sống và khả năng phát triển của cây con sau khi trồng.

- Suất đầu tư cho trồng rừng phòng hộ còn thấp, nguồn vốn giải ngân

chậm, các đơn vị thực hiện là đơn vị sự nghiệp khơng có vốn đầu tư, người dân

tham gia trồng rừng đều là những hộ nghèo nên việc trồng và chăm sóc rừng bỏ

qua nhiều cơng đoạn và không đúng tiến độ thời vụ nên chất lượng rừng đạt thấp.

4.2. Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trồng rừng phòng hộ vùng đồi núi ven

biển tỉnh Phú n

4.2.1. Chọn lồi cây trồng rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển

4.2.1.1. Cơ sở của việc lựa chọn lồi cây dự tuyển đưa vào thí nghiệm

Việc lựa chọn lồi cây dự tuyển đưa vào thí nghiệm chọn lồi được dựa

trên 3 căn cứ cơ bản sau:

- Có các kết quả bước đầu về gây trồng trên diện rộng theo các dự án

trồng rừng hoặc trồng thử nghiệm quy mơ nhỏ, phân tán trong khu vực nghiên

cứu.

- Có phân bố tự nhiên ở vùng nghiên cứu.

- Có các đặc điểm sinh thái phù hợp với điều kiện lập địa khu vực vùng đồi

núi ven biển tỉnh Phú Yên.

Các kết quả khảo sát thực địa và tổng kết, đánh giá các mơ hình rừng

trồng phòng hộ tại khu vực nghiên cứu (phần kết quả 4.1) cho thấy 3 loài cây

trồng bản địa có triển vọng nhất đã được rút ra là Dầu rái, Sao đen và Muồng



đen. Các loài



cây này có tỷ lệ sống cao, tình hình sinh trưởng tốt hơn các loài khác. Ngoài ra, Lim

xanh và Thanh thất là 2 loài đã từng được trồng thử nghiệm quy mô nhỏ, phân

tán trong khu vực và bước đầu tỏ ra có triển vọng. Cả 5 lồi cây này đều có phân

bố ở tỉnh Phú Yên.

Về đặc điểm sinh thái của các loài cây, đề tài đã tổng hợp nhu cầu một số

nhân tố sinh thái chủ yếu của các loài cây này tại bảng 4.4.

Bảng 4.4. Nhu cầu sinh thái của các loài cây dự tuyển

Độ cao Điều kiện khí hậu

so với

T



Lồi



mặt



T



cây



nước



Lượng

mưa

(mm/



biển



năm)



(m)



Điều kiện đất đai



Nhiệt độ (độ C)

Trun

g

bình

năm



Tối



Tối



cao



thấ



TB



p



Độ



Loại đất



TB



pH



Đất xám trên phù

sa cổ có sét pha



1



Dầu rái



100



- 1.800 - 25



600



2500



28



- 32 - 18

34



22



-



cát; đất feralit vàng

đỏ phát triển trên 4-5

phiến



thạch



sét,



phiến thạch mica,

tầng dầy, ẩm.

Đất feralit đỏ vàng

phát triển trên đá

mẹ granit, phiến

2



Lim

xanh



<700



1.500 - 20

3.500



25



- 32 - 11

34



25



- thạch

thạch



sét,



mica,



thạch,

poocphia; ưa

3



Muồng <1.200



600



- 20



- 32 - 13



phiến

sa



4-6



gnai,

đất



tơi xốp, nhiều mùn.

- Đất feralit đỏ vàng, 4-6



đen



3.500



27



33



22



nâu đỏ phát triển

trên



đá



Bazal,



poocphia,



phiến



thạch mica, đá vôi,

thành



phần







giới cát pha đến

Mọc tốt trên đất

xám phù sa cổ; sét



4



Sao

đen



<800



1.500 - 25

2.500



- 33 - 16



28



35



18



-



pha cát; đất feralit

vàng đỏ phát



4-5



triển trên

sét,



phiến thạch



mica, tầng dầy.



5



Thanh

thất



<1.000



1.000 - 18

2.500



25



-



-



-



Trồng



được trên



nhiều



loại



đất, 4-



thích hợp đất thịt 7,5

và ẩm



(Nguồn: Cẩm nang ngành lâm nghiệp - Chương chọn lồi cây ưu tiên cho các

chương trình trồng rừng ở Việt Nam [4])

Đối chiếu với các đặc điểm về địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng,… của khu vực

vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên cho thấy đặc điểm sinh thái của 5 loài cây dự

tuyển phù hợp với điều kiện tự nhiên vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên.

Từ các kết quả đánh giá và phân tích trên đây, đề tài đã lựa chọn 5 loài cây:

Dầu rái, Sao đen, Muồng đen, Lim xanh và Thanh thất làm các lồi cây dự tuyển

đưa vào thí nghiệm chọn lồi.

4.2.1.2. Đánh giá tỷ lệ sống của các loài cây

Kết quả theo dõi tỷ lệ sống của các loài cây bản địa trong 5 cơng thức thí

nghiệm sau 6 năm trồng được tổng hợp tại bảng 4.5.



Bảng 4.5. Diễn biến tỷ lệ sống của 5 loài cây sau 6 năm trồng



L

D

T

Số liệu tại bảng 4.5 cho thấy, tỷ lệ sống của các lồi có sự biến động khá lớn iu

o

ễổà

giữa các cơng thức thí nghiệm và sự biến động tỷ lệ sống theo thời gian đối với n

i

từng cơng thức thí nghiệm, cụ thể như sau:

b

2435c6

Sau 1 năm trồng, do được trồng dặm nên tỷ lệ sống của các loài đạt khá iâ

8ếy

cao, dao động từ 93,6 - 97,8%. Tuy nhiên, ở những năm tiếp theo, tỷ lệ sống của 8n

5643

,t

các lồi có sự giảm rõ rệt do ở khu vực nghiên cứu đất nghèo dinh dưỡng, độ 5t3r0

ỷồ

dốc khá lớn, tầng đất mỏng, gió biển, mùa khơ kéo dài trong năm, đã ảnh hưởng 98n

l1473g2

tới tỷ lệ sống của cây trồng. Đến tuổi 6, tỷ lệ sống của các loài chỉ còn dao động T

ệ,

u

73,0 - 86,1%, trong đó đạt cao nhất ở cơng thức thí nghiệm 5 (trồng thuần lồi 4786

ổs

Thanh thất) là 86,1% và thấp nhất ở cơng thức thí nghiệm 4 (trồng thuần lồi iố87

n

59376

Muồng đen) chỉ đạt 73,0%. Tuy nhiên, nếu so sánh với tỷ lệ sống của các loài cây 1g

,

bản địa trồng trong các chương trình, dự án trước đây (kết quả nghiên cứu phần 15(874

%

4.1) thì tỷ lệ sống chỉ dao động từ 55,7 - 74,8% (bảng 4.3), các thí nghiệm của đề .8)7

S

25843

tài cho thấy tỷ lệ sống đã được cải thiện rõ rệt. Kết quả này cho thấy, hệ thống các a,

t

o8h

05

biện pháp kỹ thuật lâm sinh của đề tài đã có những tác động tích cực tới việc

e

đ9o8

nâng cao tỷ lệ sống của cây bản địa trồng ở khu vực.

e30276

4.2.1.3. Đánh giá sinh trưởng đường kính D1.3 và chiều cao vút ngọn Hvn

n,c

5á13

Kết quả đánh giá sinh trưởng đường kính ngang ngực, chiều cao vút ngọn c

9

của các loài cây bản địa trong thí nghiệm chọn lồi tại tuổi 6 ở khu vực nghiên cứu 7

n



được tổng hợp tại bảng 4.6.

4m

2

.

L

i



x

a

n

h



Bảng 4.6. Sinh trưởng D1,3, Hvn của các loài cây trồng tại tuổi 6



9

3

,

6

D



u

r

á

i



3. Dầu rái



6,3



14,3



1,1



4,8



10,7



0,8



4. Muồng đen



8,5



17,2



1,4



7,0



15,0



1,2



5. Thanh thất



7,7



14,6



1,3



6,3



11,2



1,1



9

5

,

3



M

u

Trung bình

7,3

13,5

5,7

11,8 1,0

1,2

0

S

c(∆

0C

5H

Đ

ồ1L

5

â

h

i

,

ư

vH

n.ocD

Số liệu tại bảng 4.6 cho thấy:

ym

0gi

à



g1n0ề4v

i)n

- Tại tuổi 6, sinh trưởng đường kính ngang ngực của các lồi cây trong các S

.n

a3g(0u

1

cơng thức thí nghiệm dao động từ 6,8 - 8,5cm, trung bình là 7,3 cm, trong đto6m

0(

er,(c)m

%

đó Muồng đen cho sinh trưởng đường kính ngang ngực là nhanh nhất với nđồk

a

8c%

í0/)

en

)on

8,5cm và sinh trưởng thấp nhất đối với loài Dầu rái chỉ đạt 6,3cm. Lượng tăng nm



9g9/h

v

,m

trưởng bình qn hàng năm về đường kính ngang ngực của các lồi trong các 42,n

ú

9

,9ăD

t)

cơng thức thí nghiệm dao động từ 1,1 - 1,4 cm/năm, trung bình là 1,2 cm/năm, 5.m

15

)n

.1

,

trong đó đạt giá trị lớn nhất ở lồi Muồng đen là 1,4 cm/năm và thấp nhất đối với TL

3,g

i1 h

lồi Sao đen và Dầu rái đạt trung bình 1,1 cm/năm. Hệ số biến động về sinh m

1ọ

a

n

1

trưởng đường kính giữa các lồi trong các cơng thức thí nghiệm dao động từ 9,9 7 n

2Dh

x,H

- 17,2%, trung bình là 13,5% cho thấy các cây trong từng cơng thức thí nghiệm và a3v,1

.

n03t

giữa các cơng thức thí nghiệm sinh trưởng có sự chênh lệch khơng q lớn. Có

h1 h

thể thấy, lượng tăng trưởng bình qn hàng năm về đường kính của các lồi cây 10 ấ

,

,t

trong thí nghiệm dao động từ 1,1 - 1,4 cm/năm là lớn hơn hẳn so với các chương 9

7

trình, dự án trồng rừng trước đó, nơi mà lượng tăng trưởng bình qn về đường 9

17

kính của các loài cây bản địa chỉ dao động 0,4 - 0,8 cm/năm (bảng 4.3).

,,

8

- Sinh trưởng chiều cao vút ngọn của các loài dao động từ 4,8 - 7,0m, trung 2



80



bình là 5,7m, trong đó đạt sinh trưởng cao nhất là loài Muồng đen với Hvn=7,0m,

tiếp theo là loài Thanh thất đạt 6,3m và thấp nhất là loài Dầu rái chỉ đạt 4,8 m. Các

lồi cây trong các cơng thức thí nghiệm sinh trưởng khá đồng đều, thể hiện ở hệ

số biến động về sinh trưởng chiều cao khá thấp, dao động 10,0 - 15,0%, trung

bình là 11,8%. Lượng tăng trưởng bình quân hàng năm về chiều cao của các lồi

dao động từ 0,8 - 1,2 m/năm, trong đó đạt tốt nhất đối với loài Muồng đen và loài

Thanh thất là 1,1 - 1,2 m/năm, thấp nhất là loài Dầu rái đạt 0,8 m/năm. So sánh

với lượng tăng trưởng bình quân hàng năm về chiều cao của các loài Sao đen,

Muồng đen, Dầu rái trong các chương trình, dự án trước đó chỉ đạt 0,5 - 0,8

m/năm (bảng 4.3) thì các lồi cây trong thí nghiệm của đề tài thể hiện sự sinh

trưởng tốt hơn hẳn.

Kết quả phân tích phương sai một nhân tố ANOVA cho thấy, giá trị Sig tính

tốn đều đạt 0,000 < 0,05 đối với cả 2 chỉ tiêu sinh trưởng đường kính và chiều cao,

chứng tỏ giữa các cơng thức thí nghiệm có sự sai khác rõ rệt về sinh trưởng

đường kính, chiều cao của các loài cây trồng. Sử dụng tiêu chuẩn Ducan để so

sánh các cơng thức thí nghiệm với nhau, kết quả cho thấy lồi Muồng đen cho

sinh trưởng đường kính, chiều cao là tốt nhất, tiếp đến là loài Thanh thất, Sao đen,

Lim xanh và thấp nhất đối với lồi Dầu rái.



81



Hình 4.1. Biểu đồ so sánh sinh trưởng D1,3, Hvn của 5 lồi cây tại tuổi 6 trong

thí nghiệm chọn lồi



Hình 4.2. Muồng đen 6 năm tuổi trồng trong thí nghiệm chọn lồi



82



Hình 4.3. Thanh thất 6 năm tuổi trồng trong thí nghiệm chọn lồi



Hình 4.4. Dầu rái 6 năm tuổi trồng trong thí nghiệm chọn lồi



83



4.2.1.3. Đánh giá chất lượng sinh trưởng của các loài cây

Chất lượng sinh trưởng của loài cây phản ánh năng lực sinh trưởng và khả

năng thích nghi của lồi đó đối với điều kiện lập địa nơi trồng. Kết quả đánh giá

chất lượng của các loài cây tại tuổi 6 tại khu vực nghiên cứu được thể hiện tại bảng

4.7.

Bảng 4.7. Chất lượng cây trồng trong các cơng thức thí nghiệm chọn lồi



C

X

T

Số liệu tại bảng 4.7 cho thấy, sau 6 năm trồng các loài cây trong thí nghiệmốấ h

chọn lồi đều sinh trưởng rất tốt, trong đó tỷ lệ cây phẩm chất tốt dao động 36,7tu ấ

t

4

8

- 46,0% (trung bình là 40,5%); tỷ lệ cây phẩm chất trung bình dao động 40,5 3, l

55,7% (trung bình là 48,1%); cây phẩm chất xấu chiếm tỷ lệ khá thấp, dao,8 ư

4 ợ

động 7,6 - 18,5% (trung bình là 11,4%). Trong 5 lồi cây đem trồng thì chỉ có 7 n

4, g

Dầu rái và Muồng đen có tỷ lệ cây phẩm chất xấu trên 10%, trong đó Muồng đen16

có tỷ lệ cây phẩm chất xấu là lớn nhất lên tới 18,5%, cho thấy khả năng sinh trưởng,1 (

8 %

3 )

của loài cây này tại khu vực nghiên cứu là không đồng nhất.

4,

Nhận xét và đánh giá chung:

65 T

1, r

Từ những kết quả đánh giá về tỷ lệ sống, sinh trưởng đường kính ngang.08 u

, n

ngực, chiều cao vút ngọn, chất lượng của 5 loài cây trồng bản địa trong thí nghiệmS

36 g

a5

chọn lồi tại tuổi 6, có thể rút ra một số nhận xét sau:

1

o, b

- Tỷ lệ sống của các loài cây đều đạt mức khá cao, dao động 73,0 - 86,1%,78 ì

,

đ

trong đó đạt cao nhất đối với loài Thanh thất là 86,1% và thấp nhất đối với loài35 n

e h

5

n1

Muồng đen chỉ đạt 73,0%.

, 4

271 7

., ,

4

0 8



L

o

à

i

c

â

y

t

r



n

g



84



i 5

5

m0

,

6

x

a 4

n 0

h ,



- Muồng đen là lồi đạt sinh trưởng đường kính ngang ngực lớn nhấtD



đạt 8,5cm, tiếp đó là tới các lồi Thanh thất (D1.3 = 7,7cm), Lim xanh (D1.3 =

u

7,3cm), Sao đen (D1.3 = 6,8cm) và thấp nhất là loài Dầu rái đường kính D1.3 chỉ đạt

r

6,3cm sau 6 năm trồng. Muồng đen vẫn là lồi sinh trưởng ưu thế về chiều caố

vút ngọn trong các lồi cây thí nghiệm (Hvn = 7,3m), tiếp đến là Thanh thất (Hvn =i



5

5

5

,

7



4

5

M

6,3m), Sao đen (Hvn = 5,4m), Lim xanh (Hvn = 5,1m) và thấp nhất là loài Dầu rái chỉ ,

u 8

đạt Hvn là 4,8m sau 6 năm trồng. Tuy nhiên, hệ số biến động về sinh trưởng vềồ

n 4

đường kính và chiều cao của loài Muồng đen lại lớn hơn hẳn so với các lồi còng 8

lại đạt 17,2% về biến động sinh trưởng đường kính và 15,0% về biến động sinh ,

đ 1

trưởng chiều cao cho thấy khả năng sinh trưởng của loài là không đồng đều.

e

- Tỷ lệ cây phẩm chất xấu chiếm lớn nhất ở loài Muồng đen là 18,5%, tiếpn

đến là lồi Dầu rái với 13,5%, các lồi cây còn lại cho sinh trưởng khá tốt với tỷ lệT

h

a

cây phẩm chất xấu đều đạt dưới 10%.

n

- Tỷ lệ sống, khả năng sinh trưởng đường kính, chiều cao của các lồi câyh

bản địa trong thí nghiệm của đề tài đều thể hiện sự vượt trội hơn hẳn so với

t

các chương trình 327, dự án 661 trồng rừng trước đó. Điều này cho thấy, các biệnh



pháp kỹ thuật tác động của đề tài đã có tác động tích cực tới khả năng thích nghi

t

và sinh trưởng của cây bản địa tại khu vực.

Kết quả bước đầu đánh giá cho thấy, các loài cây Thanh thất, Sao đen, Lim

xanh tỏ ra có triển vọng nhất đối với trồng rừng phòng hộ tại khu vực nghiên cứu.

4.2.2. Ảnh hưởng của các biện pháp xử lý thực bì đến sinh trưởng của các

lồi cây trồng rừng phòng hộ

Biện pháp xử lý thực bì có tác động rất lớn tới tỷ lệ sống, sinh trưởng phát

triển của các lồi cây trồng rừng phòng hộ. Đối với các lồi cây mọc nhanh, ưa

sáng ngay từ khi còn nhỏ, biện pháp xử lý thực bì tồn diện mang lại hiệu quả

trong việc tạo sự thơng thống về khơng gian dinh dưỡng, hạn chế sự cạnh

tranh của các loài cây trồng khác đối với cây trồng chính. Tuy nhiên, đối với các

loài cây bản địa, đặc biệt là cây bản địa cần có sự che bóng ở giai đoạn mới

trồng thì thực bì lại có vai trò quan trọng trong việc che bóng, giảm sự thốt hơi

nước, tạo



T

r

u

n

g

b

ì

n

h



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

* Nhận xét chung:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×