Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
* Phương thức và kỹ thuật trồng rừng phòng hộ:

* Phương thức và kỹ thuật trồng rừng phòng hộ:

Tải bản đầy đủ - 0trang

23



tiễn”, trong đó đã tiến hành tổng kết các nghiên cứu về kỹ thuật trồng rừng và

các mơ hình trồng rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát ven biển. Đây là tài liệu quan

trọng trong thực tiễn sản xuất xây dựng rừng phòng hộ chắn sóng, chắn cát và

bão ven biển nước ta hiện nay. Kỹ thuật trồng rừng phòng hộ đầu nguồn có

một số điểm đáng chú ý sau đây [7]:

+ Kỹ thuật xử lý thực bì: Khơng phát dọn toàn diện mà thường chỉ xử lý cục

bộ ở những khu vực đào hố trồng cây hay xử lý theo rạch. Thực bì phát dọn khơng

đốt mà tập trung thành đống nhỏ xếp ngang theo đường đồng mức. Cây bụi, cây

tái sinh có trên đất rừng cần phải giữ lại để ni dưỡng, tạo rừng hỗn lồi, đa tầng.

+ Làm đất chỉ tiến hành cục bộ bằng phương pháp đào hố. Những nơi áp

dụng cơ giới cần chú ý làm đất theo đường đồng mức.

+ Tiêu chuẩn cây con đem trồng, đặc biệt là cây bản địa phải lớn hơn so với

trồng rừng bình thường để nhanh chóng tạo lập hồn cảnh rừng và phát huy

chức năng phòng hộ.

+ Phương thức trồng rừng: hỗn giao theo hàng, theo đám, theo băng

(thuần lồi trên diện hẹp), có thể hỗn giao giữa cây phòng hộ chính với cây phù

trợ hoặc giữa các cây phòng hộ với nhau. ở những nơi đất đã bị thối hố lâu

ngày, tầng đất mỏng có thể áp dụng trồng rừng theo 2 bước:

Bước 1: Gieo cây cải tạo và che phủ đất như Cốt khí, Đậu triều, Muồng hoa

pháo,… Thời gian kéo dài khoảng 1-3 năm tuỳ tình hình cụ thể;

Bước 2: Trồng rừng như đã mô tả ở trên.

+ Mật độ trồng rừng: thường dày hơn so với trồng rừng kinh tế để

rừng nhanh khép tán và phát huy chức năng phòng hộ.

+ Kỹ thuật trồng: Khi trồng cần chú ý tạo mặt bằng cục bộ ở hố trồng cây,

phần phía dưới dốc nên đắp gờ cao hơn phía trên dốc một chút để giữ nước cho cây.

+ Chăm sóc và ni dưỡng rừng trồng phòng hộ: Những năm đầu chỉ làm cỏ

và xới đất cục bộ quanh gốc cây, không phát luỗng cây bụi kể cả những cây khơng

có giá trị kinh tế. Làm vệ sinh rừng bằng cách loại bỏ những cây sâu bệnh, dây leo.

Đối với rừng phòng hộ ven biển, các nghiên cứu về phương thức cũng như



24



kỹ thuật xây dựng cũng được quan tâm thực hiện. Phi lao là loài cây phòng hộ chủ

yếu được sử dụng rất rộng rãi trong việc xây dựng các dải rừng phòng hộ vùng ven

biển. Đối với việc xây dựng các dải rừng phòng hộ xung yếu sát bờ biển, trên đất

cát mới bồi ven biển thì mật độ Phi lao nên trồng khoảng 5000 cây/ha (cây trong

hàng cách nhau 1m, hàng cách hàng 2m chạy song song với bờ biển). Lập địa ở

vùng có cồn cát di động hoặc bán di động là khu vực hết sức khó khăn vì chúng có

độ phì thấp nhất trong các loại đất cát ven biển. Mặt khác, cát bay theo gió với

tốc độ khá mạnh, làm trốc rễ, dập nát lá, vỏ cây và vùi lấp cây trồng,... Vì những lý

do trên mà rừng Phi lao trồng trên các cồn cát di động và bán di động có mật độ rất

cao

10.000 cây/ha [7]. Để giảm bớt giá thành trồng rừng Phi lao ở vùng đất cát khơ hạn,

có thể trồng với mật độ 4.000 cây/ha ở chân cồn, giảm dần tới 3.500 cây/ha ở

sườn cồn, lên tới đỉnh cồn mật độ còn 3.000 cây/ha [12]. Đối với các loài Keo lá

tràm, Keo lưỡi liềm và Phi lao nên trồng thuần lồi, khơng nên trồng hỗn giao Phi

lao với Keo theo hàng. Nếu trồng hỗn giao thì cự ly giữa hàng Keo lá tràm và Phi lao

cần phải nới rộng hơn cự ly giữa các cây cùng lồi hoặc có thể hỗn giao theo băng

[18].

1.3.2. Nghiên cứu về trồng cây bản địa

Trong những năm 1960 - 1970, do ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân khác

nhau nên vấn đề trồng cây bản địa ở nước ta rất hạn chế, ngoài 4 cây ưa sáng

mọc nhanh như: Mỡ, Bồ đề, Thơng nhựa và Luồng được trồng tập trung còn một

số cây trồng phân tán như: Xoan ta, Tre và một số cây đặc sản truyền thống như:

Hồi, Quế, cây chủ cánh kiến. Một số loài cây bản địa dùng để làm giàu rừng hoặc

trồng thay thế trên đất còn tính chất đất rừng mới chỉ được nghiên cứu thử

nghiệm như: Dẻ đỏ, Kháo vàng, Xoan đào,.... [35].

Việc phát triển trồng cây bản địa chỉ thực sự được chú trọng trong

khoảng thời gian hơn chục năm trở lại đây, khi mà vai trò phòng hộ mơi trường

của rừng được đề cập và chú trọng nhiều hơn và đi cùng với nó nhiều cơng trình

nghiên cứu liên quan tới trồng cây bản địa cũng được thực hiện.

Đỗ Đình Sâm (2001), đã tiến hành tổng kết kết quả nghiên cứu về trồng rừng



25



và phục hồi rừng tự nhiên tại khu vực rừng phòng hộ ven hồ sơng Đà tỉnh Hồ



26



Bình, kết quả nghiên cứu đã cho thấy: Tại khu vực phòng hộ xung yếu việc thử

nghiệm trồng Keo tai tượng đã không mang lại hiệu quả. Năm 1998 tác giả đã đưa

các loài Lát hoa, Sấu, Re gừng, Trám vào trồng theo hướng làm đất cục bộ, phát

theo băng để phát huy vai trò phòng hộ của cỏ tranh, chè vè. Tuy nhiên, do sự lấn

át rất mạnh của lớp thực bì nên các loài bản địa đều sinh trưởng rất chậm, tỷ lệ

sống thấp. Năm 1999 tác giả tiếp tục thử nghiệm các biện pháp trồng bổ sung,

các loài Trám trắng, Re gừng nhưng các loài này đều sinh trưởng chậm. Điều này

cho thấy, việc phục hồi rừng ở khu vực này là rất khó khăn, đòi hỏi cần phải lựa

chọn được những lồi cây trồng có khả năng thích nghi tốt hơn. Ở vùng ít xung yếu,

tác giả cho thiết lập các mơ hình nơng lâm kết hợp với các loài cây trồng như Trám

trắng, Sấu, kết quả cho thấy các loài này sinh trưởng tốt hơn hẳn so với cây trồng

ở vùng xung yếu. Nguyên nhân là do cây trồng được chăm sóc tốt, khơng bị cạnh

tranh bởi thảm thực bì (dẫn theo [15]).

Tiếp tục nghiên cứu phục hồi rừng ở vùng xung yếu ven hồ thuỷ điện Hồ

Bình, Dự án phục hồi rừng tự nhiên vùng phòng hộ đầu nguồn bị suy thoái tại miền

Bắc Việt Nam (RENFODA) đã tiến hành xây dựng mơ hình thử nghiệm trồng Tràm

vùng đất bán ngập bằng 2 giống Tràm úc và Tràm ta, kết quả nghiên cứu cho thấy,

Tràm úc tỏ ra ưu thế hơn hẳn đối với loài Tràm ta trong mơ hình thí nghiệm, thể

hiện ở cả sự ưu trội về tỷ lệ sống, tình hình sinh trưởng ở các độ sâu ngập

nước khác nhau,... ở cả 2 công thức mật độ 7.500 cây/ha và 15.000 cây/ha [16].

Cũng tại khu vực rừng phòng hộ ven hồ thuỷ điện Hồ Bình, Nguyễn Anh

Dũng (2011) trong cơng trình nghiên cứu “Nghiên cứu bổ sung một số giải pháp kỹ

thuật và kinh tế - xã hội phục hồi rừng phòng hộ xung yếu ven hồ sơng Đà tỉnh Hòa

Bình” đã thử nghiệm hàng loạt các biện pháp kỹ thuật phục hồi rừng bằng cây bản

địa như: Trồng rừng hỗn giao các loài cây bản địa Lim xanh, Lim xẹt, Dẻ đỏ, Re

gừng, Sao đen với cây phù trợ là Keo lai, trồng cây bản địa xen cốt khí, trồng cây

bản địa khơng có cây phù trợ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các loài Lim xẹt và Lim

xanh là 2 loài cây bản địa có tiềm năng cao trong phục hồi rừng ở khu vực thể hiện

ở tỷ lệ sống và khả năng sinh trưởng ưu thế hơn so với các loài khác [16].



27



Gieo hạt thẳng trên đất trống bằng các loài cây bản địa cũng là một

trong những thử nghiệm ở nước ta hiện nay trong khôi phục và phát triển rừng

phòng hộ. Thí nghiệm gieo hạt thẳng trên đất trống được thử nghiệm tại xã Thung

Nai, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình. Kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy, cả 3

loài cây thử nghiệm gồm Lim xanh, Ràng ràng mít, Xoan ta, đều cho tỷ lệ sống và

khả năng sinh trưởng khá thấp, cây trồng chính bị lớp thực bì lấn át. Điều này cho

thấy, biện pháp phục hồi rừng bằng gieo hạt thẳng khó có triển vọng trong phục hồi

rừng, đặc biệt là rừng phòng hộ đầu nguồn, nơi mà ít có điều kiện để thường

xun chăm sóc cây con sau khi nảy mầm [27].

Hoàng Văn Thắng (2007) [40], trong cơng trình “Nghiên cứu một số biện

pháp kỹ thuật trồng rừng hỗn loài cây lá rộng bản địa cung cấp gỗ lớn ở Ngọc Lặc

- Thanh Hoá và Cầu Hai - Phú Thọ” đã tiến hành tổng kết, đánh giá sinh trưởng và

tỷ lệ sống của 9 mô hình hỗn lồi cây bản địa với cây phù trợ, cây bản địa với cây

bản địa thuộc chương trình 327; 17 mơ hình hỗn lồi thuộc dự án 661; 6 mơ

hình trồng rừng hỗn lồi cây bản địa thuộc các chương trình dự án khác thuộc

khu vực phía Bắc nước ta. Bên cạnh đó, tác giả còn tiến hành bố trí các thí

nghiệm trồng, chăm sóc và ni dưỡng rừng trồng các loài cây bản địa cung cấp

gỗ lớn gồm các loài Lim xanh, Trám trắng, Re gừng, Sồi phảng, Vạng trứng hỗn

giao (kỹ thuật hỗn giao trong hàng, hỗn giao theo hàng) với các loài cây phù trợ

như Keo tai tượng, Cốt khí; trồng thuần lồi cây bản địa,… tại khu vực Ngọc Lặc Thanh Hoá và Cầu Hai - Phú Thọ. Kết quả nghiên cứu cho thấy:

+ Phần lớn các mơ hình trồng cây bản địa của chương trình 327 và dự án 661

đều được hỗn giao với các lồi cây phù trợ trong đó nhiều nhất là Keo tai

tượng. Tuy nhiên, do suất đầu tư thấp, cơ chế hưởng lợi chưa rõ ràng nên người

dân chủ yếu chỉ quan tâm cây phù trợ, ít chăm sóc ni dưỡng cây trồng chính,

cây phù trợ đang lấn áp cây trồng chính,… Phần lớn các mơ hình rừng trồng

hỗn lồi đã có được xây dựng nên từ 2 - 3 loài cây theo phương pháp hỗn loài

theo hàng với mật độ 1.660 cây/ha (2mx3m), trong đó gồm 1.000 cây phù trợ và

600 cây bản địa. Mới chỉ có một số mơ hình thử nghiệm đã quan tâm đến nhiều

vấn đề kỹ thuật khác nhau



28



để tạo rừng hỗn loài, đặc biệt là biện pháp điều chỉnh kịp thời cây phù trợ nên

cây trồng chính sinh trưởng, phát triển tốt. Đây là những mơ hình có nhiều triển

vọng tạo thành rừng hỗn loài trong tương lai [40].

+ Kết quả thử nghiệm xây dựng các mơ hình trồng rừng cây bản địa tại Ngọc

Lặc - Thanh Hoá và Cầu Hai - Phú Thọ cho thấy, Keo tai tượng là lồi cây có triển

vọng nhất để trồng phù trợ cho cây trồng chính. Các loài cây bản địa đều sinh

trưởng phát triển tốt. Rừng cần được chăm sóc trong 3 - 4 năm đầu sau khi

trồng, biện pháp tỉa cành cây phù trợ được tiến hành từ tuổi 3 - 4, biện pháp tỉa

thưa cây phù trợ lần 1 được tiến hành ở tuổi 4 - 5 với 75% số cây và tỉa thưa hết

cây phù trợ lần 2 ở tuổi 6 - 7 [40].

Có thể thấy, đây là một cơng trình nghiên cứu được thực hiện khá cơng

phu, có hệ thống, thơng qua việc điều tra đánh giá số lượng mơ hình thử nghiệm

rất lớn của các chương trình, dự án thuộc nhiều tỉnh khu vực phía Bắc, từ đó đúc

kết những thành cơng, thất bại, bài học kinh nghiệm và bố trí các thí nghiệm

trồng rừng tiếp theo. Tuy nhiên, số lượng lồi thử nghiệm trồng hỗn giao trong 1

mơ hình còn ít, mơ hình được trồng thiên nhiều về mục tiêu kinh tế lấy gỗ lớn nên

vai trò phòng hộ chưa được chú trọng.

Từ các cơng trình nghiên cứu trên, việc tổng kết, nghiên cứu kỹ thuật trồng

rừng trong đó có kỹ thuật trồng một số loài cây bản địa cũng được rất nhiều tác

giả quan tâm nghiên cứu như: Nguyễn Hữu Vĩnh và Phạm Xuân Quảng (1986), Võ

Đại Hải (2009),... trong đó một số lồi cây bản địa thường được quan tâm nghiên

cứu về kỹ thuật trồng như: Lim xanh, Lát hoa, Tếch, Dầu rái,...[21], [51]. Các tài

liệu này trở thành cơng cụ hữu ích cho thực tiễn phát triển rừng trồng phòng hộ

ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

1.3.3. Nghiên cứu khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng tự nhiên

Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng là giải pháp lâm sinh quan trọng nhằm

phục hồi và phát triển vốn rừng tự nhiên đã và đang bị suy thoái nghiêm trọng

ở nước ta. Chính vì vậy, việc nghiên cứu các giải pháp khoanh nuôi xúc tiến tái

sinh rừng tự nhiên (có thể cả một số loại rừng trồng) được các nhà nghiên cứu ở

trong



29



nước quan tâm thực hiện, có thể kể tới một số cơng trình nghiên cứu cơ bản sau:

Theo Trần Ngũ Phương (1970) [31] khi nghiên cứu về kiểu rừng nhiệt đới

mùa mưa lá rộng thường xanh đã có nhận xét: “Rừng tự nhiên dưới tác động

của con người khai thác hoặc làm nương rẫy, lặp đi lặp lại nhiều lần thì kết quả

cuối cùng là hình thành đất trống đồi núi trọc. Nếu chúng ta để thảm thực vật

hoang dã tự nó phát triển lại thì sau một thời gian dài trảng cây bụi, trảng cỏ sẽ

chuyển dần lên những dạng thực bì cao hơn thơng qua quá trình tái sinh tự

nhiên và cuối cùng rừng khí hậu sẽ có thể phục hồi dưới dạng gần giống rừng khí

hậu ban đầu”. Quan điểm của tác giả tương đồng với quan điểm của nhiều nhà

nghiên cứu sinh thái trên thế giới là thực vật có khả năng tự phục hồi lại trạng thái

gần giống ban đầu nếu như khơng có những tác động tiêu cực. Tuy nhiên, điều

này chỉ đúng ở những khu vực có điều kiện thuận lợi về lập địa, lúc này thảm thực

vật sẽ diễn thế theo chiều hướng tốt, ngược lại ở khu vực có điều kiện lập địa

khó khăn, việc phục hồi diễn ra rất chậm thậm chí theo chiều hướng ngược lại.

Do vậy, cần thiết có những biện pháp tác động của con người như bảo vệ, xúc tiến

tái sinh, trồng bổ sung,… để rừng phục hồi nhanh hơn và theo mục đích kinh doanh

của chúng ta.

Khi nghiên cứu về tình hình tái sinh tự nhiên ở rừng miền Bắc, Vũ Đình Huề

(1975) đã rút ra kết luận: Tái sinh rừng tự nhiên miền Bắc Việt Nam cũng mang

những đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt đới, ở rừng thứ sinh tồn tại nhiều cây

gỗ mềm kém giá trị. Trong rừng nguyên sinh tổ thành cây tái sinh tương tự như

tầng cây gỗ. Hiện tượng tái sinh theo đám tạo nên sự phân bố số cây không đều

trên mặt đất rừng. Từ đó tác giả xây dựng tiêu chuẩn đánh giá tái sinh tự nhiên áp

dụng cho đối tượng rừng lá rộng ở miền Bắc nước ta. Như vậy, việc phục hồi rừng

bằng giải pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên là hồn tồn có triển vọng

[27]. Từ cơng trình nghiên cứu này cho thấy, nếu quá trình tái sinh dưới tán rừng

diễn ra tự nhiên, sự phân bố của lớp cây tái sinh có thể sẽ khơng đồng đều, mặt

khác lớp cây tái sinh phi mục đích có thể sẽ phát triển lấn áp cây tái sinh mục đích.

Đây là cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật điều chỉnh mật độ, tổ thành

lớp cây tái sinh nhằm tạo ra một lâm phần tốt, ổn định trong tương lai.



30



Vũ Tiến Hinh (1991) [24] khi nghiên cứu về đặc điểm tái sinh của rừng tự

nhiên đã đề cập đến đặc điểm tái sinh theo thời gian của cây rừng và ý nghĩa của

nó trong điều tra cũng như trong kinh doanh rừng. Từ kết quả đó tác giả cũng đề

xuất các loại biện pháp xúc tiến tái sinh tự nhiên và tác giả có đưa ra đề nghị: do khó

nhận biết tên cây của tầng tái sinh nên có thể sử dụng quan hệ giữa hệ số tổ thành

tầng tái sinh và tầng cây cao để xác định hệ số tổ thành tầng tái sinh.

Võ Đại Hải (2010) [23] đã thực hiện cơng trình nghiên cứu đặc điểm tái sinh

tự nhiên của loài Vối thuốc (Schima wallichii Choisy) dưới các trạng thái rừng tự

nhiên phục hồi bằng biện pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên tại huyện Lục

Ngạn và Lục Nam tỉnh Bắc Giang. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Vối thuốc là lồi

có khả năng tái sinh rất mạnh với hệ số tổ thành có nơi lên tới 5,3 đối với trạng

thái rừng IIa và dao động từ 2,1 - 3,0 dưới trạng thái rừng IIb; tỷ lệ cây tái sinh có

triển vọng đạt 56%; tỷ lệ cây tái sinh có chất lượng tốt và trung bình lên tới 86 100%,… Như vậy, Vối thuốc là lồi cây rất có triển vọng trong phục hồi rừng tự

nhiên ở huyện Lục Ngạn và Lục Nam, tỉnh Bắc Giang và nhiều địa phương khác

bằng giải pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên.

Ngô Văn Cầm, Nguyễn Toàn Thắng, Nguyễn Bá Văn (2010) [10] đã tiến hành

nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của rừng Dẻ anh (Castanopsis piriformis Hichkel

A. Camus) tại tỉnh Lâm Đồng nhằm đề xuất biện pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự

nhiên cho lồi cây có giá trị kinh tế này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, Dẻ anh phân bố

tập trung ở độ cao dưới 1500 m với hệ số tổ thành dao động từ 0,1 - 1,9, tỷ lệ cây

tái sinh có triển vọng khoảng 34,5%, Dẻ anh có khả năng tái sinh hạt tốt hơn tái

sinh chồi,… Với các kết quả nghiên cứu này bước đầu các tác giả cũng đã đề xuất

được một số biện pháp lâm sinh nhằm xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ xung phục

hồi rừng Dẻ anh như: phát luỗng dây leo bụi rậm, loại bỏ các cây tái sinh phi mục

đích,…

Theo Võ Đại Hải (2008) [19], (2009) [22] thì Vối thuốc và Vối thuốc răng

cưa có khả năng tái sinh tự nhiên rất mạnh ở các trạng thái rừng phục hồi sau

nương rẫy với hệ số tổ thành dao động từ 2,4 - 9,7, tỷ lệ cây tái sinh triển vọng

từ 73 - 100% (đối với Vối thuốc) và hệ số tổ thành từ 0,05 - 1,8, mật độ cây tái



sinh từ 250



31



32



- 1.562 cây/ha (đối với Vối thuốc răng cưa). Vì vậy, tác giả khuyến nghị cần thực

hiện giải pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên đối với các trạng thái rừng này

bằng các biện pháp lâm sinh như phát luỗng dây leo bụi rậm, chặt cây tái sinh phi

mục đích,… sẽ cho triển vọng phục hồi rừng cao.

Phạm Ngọc Thường (2003) [42] khi nghiên cứu đặc điểm tái sinh của thảm

thực vật Vầu, Nứa sau nương rẫy tại Thái Nguyên và Bắc Kạn, kết quả đã cho thấy

sau 4 - 6 năm tiến hành các biện pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên thì

mật độ Vầu tái sinh khoảng 5.120 cây/ha và Nứa tái sinh khoảng 7.300 cây/ha,

rừng có chất lượng cây tốt chiếm tỷ lệ cao từ 68 - 78%. Với kết quả nghiên cứu đã

đạt được, tác giả cho rằng với thảm thực vật tái sinh sau nương rẫy có nguồn

gốc là rừng Vầu/Nứa thì chỉ cần áp dụng giải pháp khoanh ni xúc tiến tái sinh

tự nhiên là có thể đảm bảo phục hồi rừng thành công.

Kiều Thanh Tịnh (2005) [48] khi nghiên cứu về đặc điểm tái sinh tự nhiên của

loài Keo tai tượng, tác giả cho rằng rừng Keo tai tượng sau khai thác trắng bằng các

biện pháp dọn thực bì, trải đều trên diện tích và đốt thì tiềm năng phục hồi rừng

bằng biện pháp khoanh ni xúc tiến tái sinh tự nhiên của Keo tai tượng là rất lớn.

Trần Cẩm Tú (1998) [47] tiến hành nghiên cứu tái sinh tự nhiên sau khai

thác chọn ở Hương Sơn, Hà Tĩnh và đã rút ra kết luận: áp dụng phương thức xúc

tiến tái sinh tự nhiên có thể đảm bảo khôi phục vốn rừng, đáp ứng mục tiêu

sử dụng tài nguyên rừng bền vững. Tuy nhiên, những biện pháp tác động phải có

tác dụng thúc đẩy cây tái sinh mục đích sinh trưởng và phát triển tốt, khai thác

rừng phải đồng nghĩa với tái sinh rừng, phải chú trọng điều tiết tầng tán của

rừng, đảm bảo cây tái sinh phân bố đều trên tồn bộ diện tích rừng. Để cải

thiện tổ thành rừng loại bỏ các cây phi mục đích cần phải thực hiện các giải pháp

Lâm sinh (chặt mở tán, chặt gieo giống, phát dây leo, cây bụi,...) trước khi khai

thác và dọn vệ sinh rừng ngay sau khi khai thác.

Theo Nguyễn Văn Tuấn (2003) [48] thì các biện pháp khoanh nuôi phục hồi

rừng tự nhiên được áp dụng ở nước ta hiện nay bao gồm: Khoanh đóng,

khoanh ni xúc tiến tái sinh tự nhiên, ni dưỡng rừng và làm giàu rừng. Đây

được coi là



30



những giải pháp phục hồi rừng rất có hiệu quả ở nước ta hiện nay. Chỉ tính trong

vòng 3 năm từ 1999 - 2002 thì bằng các giải pháp khoanh ni phục hồi rừng tự

nhiên đã góp phần tăng 366.192 ha rừng tự nhiên, góp phần tăng độ che phủ

của rừng trên phạm vi cả nước.

Theo Phạm Xuân Hoàn (2003) [25] thuật ngữ rừng thứ sinh nghèo được

dùng khi diễn tả một quần xã thực vật hình thành bởi quá trình phục hồi lại sau

khi bị gián đoạn trong chuỗi diễn thế nguyên sinh. Đặc trưng của rừng thứ sinh

nghèo là tính quy luật trong kết cấu của lâm phần không rõ ràng, cây bụi và dây leo

phát triển rất mạnh. Rừng thứ sinh nói chung và rừng thứ sinh nghèo nói riêng

đều có sản lượng và giá trị kinh tế kém. Vì vậy, cần có các biện pháp để phục hồi

và phát triển rừng thứ sinh nghèo nhằm năng cao hiệu quả của rừng.

Rừng thứ sinh nghèo ở nước ta hiện nay đang chiếm một tỷ trọng rất lớn

(trên 50%) tổng diện tích rừng tự nhiên. Việc phân loại các trạng thái rừng, xác

định hiện trạng rừng để đề xuất các giải pháp và biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù

hợp là vơ cùng cần thiết đối với q trình khơi phục và phát triển rừng tự nhiên ở

nước ta hiện nay. Trải qua quá trình nghiên cứu và đánh giá thực tiễn lâu dài, việc

quy định đối tượng tác động, thời gian tác động, biện pháp tác động cũng như tiêu

chuẩn công nhận khoanh nuôi rừng phục hồi thành công đã được quy định cụ thể

thông qua các quy phạm: Quy phạm các giải pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho

rừng sản xuất gỗ và tre nứa (QPN 14

- 92) [4] được Bộ Lâm nghiệp nay là Bộ NN&PTNT ban hành ngày 31 tháng 3 năm

1993, và Quy phạm phục hồi rừng bằng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp trồng

bổ sung (QPN 21 - 98) [5] ban hành ngày 04 tháng 11 năm 1998.

1.3.4. Nghiên cứu về phân chia lập địa

Ở Việt Nam, vấn đề phân chia lập địa cũng được quan tâm thực hiện trong

các chương trình, dự án trồng rừng, đặc biệt là những dự án có nguồn vốn nước

ngồi. Có nhiều yếu tố và phân cấp yếu tố cấu thành lập địa lâm nghiệp.

Schwanecker (1971- 1984) và cộng sự đã vận dụng phương pháp điều tra lập

địa tổng hợp kiểu Đức để xây dựng và ban hành Quy trình tạm thời về điều tra lập

địa lâm nghiệp phục vụ cho thiết kế trồng rừng ở miền Bắc. Tại Quy trình này, các



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

* Phương thức và kỹ thuật trồng rừng phòng hộ:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×