Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có kết hợp trồng bổ sung:

Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có kết hợp trồng bổ sung:

Tải bản đầy đủ - 0trang

dẫn tới hình



t

á

i

s

i

n

h

t



n

h

i

ê

n

t



i

t

h



x

ã

S

ơ

n

g

C



u

s

a

u

7

n

ă

m

k

h

o

a

n

h

n

u



i



thành một lâm phần rừng có kết cấu, mật độ và tổ thành theo định hướng

kinh doanh trong tương lai. Giải pháp này có mức độ tác động cao hơn so với giải

pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên. Bên cạnh việc thực hiện các biện

pháp lâm sinh tác động nhằm xúc tiến năng lực tái sinh tự nhiên của rừng thì ở

những nơi có năng lực tái sinh kém, thiếu cây mẹ gieo giống và có điều kiện nhân

lực, vật lực phù hợp con người có thể trồng bổ sung một số lồi cây mục đích vào

nhằm tăng cường hiệu quả phục hồi rừng theo mục đích kinh doanh, rút ngắn thời

gian phục hồi rừng.

- Dạng lập địa: Là đơn vị cơ sở của lập địa có khí hậu của tiểu vùng lập địa,

được đặc trưng bởi một đơn vị địa mạo thấp nhất (chân, sườn, đỉnh,…), một bậc

độ dốc, một đơn vị thổ nhưỡng thấp nhất (thổ chủng hoặc biến chủng) và bao

chiếm một diện tích nhất định [8]. Đây là đơn vị phân chia nhỏ nhất trong hệ thống

phân chia lập địa toàn quốc hiện nay. Trong một đơn vị dạng lập địa, các yếu tố

về địa hình, đất đai,… là tương đối đồng nhất. Do đó, nó được ưu tiên sử dụng khi

phân chia lập địa gắn với từng loài cây trồng cụ thể.

1.2. Trên thế giới

1.2.1. Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật trồng rừng phòng hộ

Rừng phòng hộ ln chiếm một vị trí quan trọng trong kế hoạch bảo vệ mơi

trường sinh thái và phòng chống thiên tai của mỗi quốc gia trên thế giới. Biện pháp

kỹ thuật trồng rừng phòng hộ là chủ đề được các nhà nghiên cứu trên thế giới

rất quan tâm. Các lĩnh vực chủ yếu được các tác giả nghiên cứu là lựa chọn loài

cây trồng rừng phòng hộ, biện pháp kỹ thuật lâm sinh trong trồng rừng phòng

hộ, kết cấu đai rừng phòng hộ,... có thể kể tới một số cơng trình nghiên cứu sau

đây:

Ngay từ năm 1766, các cánh đồng hoang khô hạn ở Ucren, Quibiep, Tây

Xibêri đã được cải tạo để có triển vọng canh tác nông nghiệp kết hợp bằng cách xây

dựng hệ thống đai rừng phòng hộ mơi trường, cải tạo tiểu khí hậu. Các cơng

trình nghiên cứu của V.A Lomitcơsku (1809), Dokuchaep (1892), X.A Timiriazep

(1893, 1909, 1911) cho rằng trên các hoang mạc muốn cải thiện tiểu khí hậu và cải

tạo đất phải trồng rừng phòng hộ thành một hệ thống theo đai hoặc mạng lưới ơ



vng, có kết cấu kín, hỗn giao nhiều tầng [63].



Các kết quả nghiên cứu của các tác giả trên thế giới đã khẳng định rừng hỗn

lồi có kết cấu nhiều tầng tán có khả năng phòng hộ tốt hơn rừng thuần lồi. Vì vậy,

nghiên cứu tạo rừng hỗn loài nhiều tầng nhằm tăng cường hiệu quả phòng hộ

của rừng đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm nghiên cứu. Tác giả Bernar

Dupuy (1995) khi nghiên cứu về cấu trúc tầng tán của lâm phần hỗn loài thấy rằng,

kết cấu tầng tán của rừng trồng hỗn lồi phụ thuộc vào đặc tính sinh trưởng và

tính hợp quần của các lồi cây trong lâm phần [53]. Như vậy, để đảm bảo tạo ra

được các khu rừng phòng hộ phát huy tối đa hiệu quả phòng hộ thì ngồi việc căn

cứ vào đặc tính sinh trưởng của cây thì cần quan tâm đến mối quan hệ qua lại giữa

các loài cây để lựa chọn các loài cây trồng cho phù hợp. Đây là những cơ sở quan

trọng quyết định đến sự thành công hay thất bại của các mơ hình rừng trồng phòng

hộ hỗn lồi.

Việc tạo lập các loài cây hỗ trợ ban đầu cho cây trồng phòng hộ chính trước

khi xây dựng các mơ hình rừng trồng hỗn loài và nhanh phát huy giá trị phòng hộ là

rất cần thiết và được một số tác giả quan tâm. Nghiên cứu về lĩnh vực này điển

hình có tác giả Matthew (1995) [58] ơng đã nghiên cứu tạo lập mơ hình rừng

trồng hỗn lồi giữa cây thân gỗ với cây họ Đậu. Kết quả cho thấy cây họ Đậu có

tác dụng hỗ trợ rất tốt cho cây trồng chính. Như vậy, nghiên cứu này cho thấy sử

dụng các loài cây họ Đậu làm cây phù trợ cho các lồi cây trồng chính trong mơ

hình rừng trồng hỗn loài là rất phù hợp.

Ngoài việc xác định được loài cây phù trợ thích hợp thì việc nghiên cứu về đặc

điểm sinh thái của các loài cây cũng là vấn đề rất quan trọng khi xây dựng mơ hình

rừng trồng hỗn lồi. Trên thế giới đến nay vẫn chưa có nhiều cơng trình nghiên cứu

đầy đủ về vấn đề này. Do hiểu biết về yêu cầu sinh thái của các lồi cây rừng mưa

còn nghèo nàn nên các tác giả Rod Keenan, David Lamb, Gary Sexton [60] khi xây

dựng rừng trồng hỗn loài (giai đoạn 1945 - 1995) đã gặp nhiều khó khăn trong việc

bố trí và điều chỉnh các mơ hình rừng trồng hỗn lồi theo q trình sinh trưởng của

chúng. Vì vậy, mơ hình rừng trồng hỗn lồi đã không được thành công như mong

muốn.

Nghiên cứu trồng rừng hỗn loài đã được các nước châu Âu tiến hành



từ những năm đầu thế kỷ XIX. Điển hình là cơng trình nghiên cứu trồng hỗn

lồi



10



Quercus và Ulmus campestris với tên kiểu hỗn lồi Donsk của tác giả Tikhanop

(1872). Trong mơ hình này do đặc tính sinh vật học và mối quan hệ qua lại giữa các

loài cây chưa được nghiên cứu kỹ, do đó lồi Ulmus campestris với đặc tính sinh

trưởng nhanh hơn nên sau khi trồng vài năm đã lấn át loài Quercus. Để giải quyết

sự cạnh tranh này năm 1884 tác giả Polianxki đã cải tiến kiểu hỗn lồi Donsk song

vẫn khơng thành cơng. Một số tác giả khác như Kharitonovis (1950); Grixenco

(1951); Timofeev (1951); Encova (1960) và các cộng sự đã phân tích nguyên nhân

thất bại của kiểu Donsk và chỉ ra rằng các phitonxit của loài Ulmus campestris đã

tác động xấu tới loài cây Quercus. Nghiên cứu về ảnh hưởng tương hỗ giữa các

loài, các tác giả cho rằng sự cảm nhiễm tương hỗ là yếu tố quan trọng khi lý giải cơ

chế cạnh tranh sinh học của thực vật. Trên cơ sở nghiên cứu tạo rừng hỗn loài

giữa Quercus và Fraxinus, tác giả JB. Ball, T.J Wormald (1994) cho thấy sinh

trưởng của Quercus trồng hỗn loài tốt hơn Quercus trồng thuần loài. Ngoài ra,

khi trồng Quercus hỗn loài với các loài cây khác theo băng hẹp (3 - 4 hàng) hoặc

theo hàng cũng cho thấy sinh trưởng của Quercus tốt hơn [57].

Việc xác định diện tích trồng rừng phòng hộ cần thiết đủ để phát huy

tác dụng phòng hộ mơi trường như bảo vệ đất, phòng chống xói mòn cũng được

nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Ở Liên Xô cũ và Trung Quốc thường dùng cơng

thức

để xác định diện tích rừng chống xói mòn ở đất dốc là: F =

với F là

diện tích rừng bảo vệ dốc (ha), A là diện tích bậc thang mà diện tích rừng bảo vệ

dốc phải phòng chống xói mòn (ha), P là diện tích đồng cỏ mà diện tích rừng bảo vệ

dốc phải phòng chống (ha); K1 là độ dày tầng nước mặt lớn nhất của dòng nước

mặt sản sinh ra trên mỗi ha ruộng bậc thang (mm/phút); K2 là độ dầy tầng nước

mặt lớn nhất của dòng nước mặt sản sinh ra trên mỗi ha đồng cỏ (mm/phút) và h

là sức hút nước của đất rừng (mm/phút) (dẫn theo [44]).

1.2.2. Nghiên cứu trồng cây bản địa

Ở Malaysia, năm 1999 trong dự án xây dựng rừng nhiều tầng đã giới thiệu

cách thiết lập mơ hình trồng rừng hỗn loại trên 3 đối tượng: rừng tự nhiên, rừng



11



Acacia mangium 10 - 15 tuổi và 2 - 3 tuổi. Dự án đã sử dụng 23 lồi cây bản địa có

giá trị, trồng theo mở băng rộng 30m trong rừng tự nhiên, trồng 6 hàng cây. Trong

rừng Acacia mangium mở băng 10m trồng 3 hàng cây, băng 20m trồng 7 hàng cây,

băng 40m trồng 15 hàng cây với 14 loài. Khối B chặt 1 hàng keo trồng 1 hàng , chặt

2 hàng trồng 2 hàng, chặt 4 hàng trồng 4 hàng,… Trồng 3 loài sau khi chặt 5 năm,

trồng 7 loài sau khi chặt 7 năm. Trong 14 loài cây trồng trong khối A, có 3 lồi S.

roxburrghii, S. ovalis, S. leprosula sinh trưởng chiều cao và đường kính tốt nhất. Tỷ

lệ sống không khác biệt, sinh trưởng chiều cao cây trồng tốt ở băng 10m và băng

40m. Băng 20m không thoả mãn điều kiện sinh trưởng chiều cao. Khối B có tỷ lệ

sống, sinh trưởng chiều cao tốt khi trồng 1 hàng; sinh trưởng đường kính tốt

cho cơng thức trồng 6 và 16 hàng [55]. Có thể thấy rằng, cơng trình nghiên cứu

được các tác giả thực hiện khá cơng phu với nhiều dạng cơng thức thí nghiệm

và thời gian theo dõi khác nhau nhằm đánh giá tỷ lệ sống và khả năng sinh

trưởng của các loài cây bản địa để tìm ra cơng thức tốt nhất. Tuy nhiên, nghiên

cứu cũng mới chỉ dựa trên việc bố trí các lồi một cách ngẫu nhiên, chưa căn cứ

dựa trên những hiểu biết về đặc điểm sinh học của các loài. Ngoài ra, nghiên cứu

cũng chưa chỉ ra được những tác động về kỹ thuật để điều chỉnh không gian

sống của các loài theo từng giai đoạn phát triển.

Những nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật điều chỉnh các lâm phần rừng

trồng hỗn lồi theo q trình sinh trưởng các tác giả JB. Ball, Wormald và Russo

(1994) [57] đã tác động vào các lâm phần rừng trồng hỗn lồi thơng qua việc giảm

bớt sự cạnh tranh giữa các loài cây. Kết quả cho thấy sau khi tác động các biện pháp

tỉa cành, tỉa thưa các lồi cây mục đích đã được tạo điều kiện thuận lợi để

sinh trưởng phát triển tốt hơn.

Liễu sam (Crytomeria japonica) là một trong những loài cây bản địa của

Nhật Bản, nó được trồng bằng cây hom từ thế kỷ XV. Vào năm 1987, Nhật Bản đã

sản xuất được 49 triệu cây hom loài cây này phục vụ trồng rừng. Bằng phương

pháp vòng chọn lọc liên tục lặp lại từ khâu khảo nghiệm, chọn lọc, kết quả gây

trồng và tiếp tục chọn lọc, cho tới nay Nhật Bản đã chọn lọc được 32 dòng vơ tính

khác nhau



12



phù hợp với yêu cầu cơ bản là: Khả năng ra rễ cao của hom, phạm vi gây trồng

rộng, khả năng thích nghi cao,... [52].

Ở Huay Sompoi Thái Lan [56] đã khảo nghiệm 8 xuất xứ của Tếch và lựa

chọn được 2 xuất xứ sinh trưởng tốt nhất là:

0



0



+ Xuất xứ Huay Sompoi (tọa độ địa lý 18 vĩ độ Bắc, 99 55’ kinh độ Đông).

0



0



+ Xuất xứ Phayao (tọa độ địa lý 19 03’ vĩ độ Bắc, 99 55’ kinh độ Đơng).

Như vậy, việc sử dụng các lồi cây bản địa để trồng rừng phòng hộ rất được

các tác giả trên thế giới quan tâm nghiên cứu, nhằm tạo ra những đai rừng có

kết cấu nhiều tầng, mơ phỏng theo kết cấu rừng tự nhiên để nâng cao khả năng

phòng hộ của rừng. Tuy nhiên, các nghiên cứu thử nghiệm về trồng rừng hỗn lồi

còn chưa được thực hiện nhiều, phần lớn nghiên cứu mới chỉ dựa trên kinh

nghiệm chưa có sự hiểu biết nhiều về đặc tính sinh học của lồi nên số lượng

mơ hình thành cơng còn hạn chế.

1.2.3. Nghiên cứu khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng tự nhiên

Ở nhiều quốc gia hiện nay nguồn tài nguyên rừng tự nhiên đang dần suy

kiệt dưới sự tác động tiêu cực của con người. Bên cạnh đó trước những biến đổi

bất lợi của môi trường yêu cầu cấp thiết là phục hồi và phát tài nguyên rừng,

đặc biệt là rừng phòng hộ. Khoanh ni xúc tiến tái sinh tự nhiên là một giải

pháp hiệu quả nhằm phục hồi tài ngun rừng. Vì vậy, vấn đề này cũng đã có

nhiều cơng trình nghiên cứu được thực hiện, có thể kể tới như:

Theo ITTO (2002), phục hồi rừng bằng khoanh nuôi là quá trình thúc đẩy

diễn thế đi lên của hệ sinh thái rừng, nâng cao mức độ đa dạng sinh học, điều

chỉnh cấu trúc, sản lượng của chúng thông qua việc bảo vệ không tác động hoặc

sử dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh như: xúc tiến tái sinh; xúc tiến tái sinh

kết hợp trồng bổ sung, làm giàu rừng… (dẫn theo [30]).

David Lam (2003) đã phân tích quan điểm về phục hồi rừng qua sơ đồ quá

trình phục hồi rừng, được thể hiện tại hình 1.1.



13



Cấu trúc

và sản

lượng

của hệ

sinh thái



Đa dạng sinh học



14



Hình 1.1: Sơ đồ quá trình phục hồi rừng (David Lamb, 2003)

A: Giai đoạn nguyên sinh



B,C: Giai đoạn suy thối



Theo David Lamb q trình phục hồi rừng có thể đưa cấu trúc và sản lượng

của hệ sinh thái tương đương với hệ sinh thái nguyên thủy. Tuy nhiên, mức độ

đa dạng sinh học của chúng không thể đạt được mức độ đó (điểm E). Cùng với

thời gian, một hệ sinh thái mới (tại điểm D và E) có thể đưa số lượng các lồi cây

hướng tới điểm A dưới ảnh hưởng của sự xâm nhập của một số loài từ lâm

phần lân cận [30]. Hiệu quả phục hồi rừng phụ thuộc rất lớn vào các biện pháp kỹ

thuật tác động, nếu chúng ta chỉ áp dụng biện pháp khoanh ni bảo vệ thì rừng

vẫn có thể phục hồi nhưng thời gian sẽ kéo dài và hiệu quả có thể sẽ khơng

đạt được theo mong muốn định hướng kinh doanh. Chính vì vậy, hàng loạt những

cơng trình nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động vào rừng như kỹ

thuật chặt tầng lâm hạ, kỹ thuật xúc tiến tái sinh tự nhiên, kỹ thuật tác động

vào tầng cây cao, kỹ thuật trồng rừng bổ sung,… đã được thực hiện. Nhờ có

những biện pháp này mà hiệu quả phục hồi rừng của các quốc gia trên thế giới

trong những năm qua đã có những bước chuyển biến rõ rệt, thời gian phục hồi

rừng được rút ngắn.

Hiệu quả phục hồi rừng được đánh giá thông qua nhiều chỉ tiêu khác

nhau, trong đó vấn đề khả năng gieo giống của lớp cây mẹ tầng cây cao và thế hệ

cây tái sinh có tổ thành giống nhau hay khác biệt với tổ thành tầng cây cao được

đặc biệt



15



chú ý (Mibbread, 1930; Richards, 1933, 1939, 1965; Aubrerille, 1938; Beard, 1946;

Lebrun và Gibert,1954 ; Jones, 1955,1956; Schultz, 1960; Baur, 1964; Rollet, 1969)

[1], [36], [59]. Thực tế cho thấy, dưới tán rừng tự nhiên, đặc biệt là những khu rừng

mưa nhiệt đới, sự tái sinh của nhóm những lồi cây phi mục đích thường chiếm

ưu thế so với nhóm lồi cây tái sinh mục đích, chính điều này đã đe doạ tới khả

năng tái sinh và phát triển của nhóm cây tái sinh mục đích. Do đó, vấn đề nghiên

cứu các biện pháp kỹ thuật điều chỉnh tổ thành cây tái sinh mục đích dưới tán

rừng, tạo điều kiện cho chúng nhanh chóng phát triển tham gia vào tầng cây

cao được đặc biệt quan tâm, trong đó có thể kể tới các tác giả tiêu biểu như:

Kennedy (1935); Lancaster (1953); Taylor (1954); Jones (1960); Foggie (1960);

Rosevear (1974). Phương thức lâm sinh để tác động vào rừng nhằm xúc tiến quá

trình gieo giống và tái sinh của các lồi cây mục đích trong lâm phần cũng rất đa

dạng và được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu và đề xuất như: phương thức

chặt dần tái sinh ở dưới tán (Schultz, 1960); phương thức chặt dần nhiệt đới

(Brooks, 1941; Ayoliffe, 1952); phương thức chặt dần nâng cao vòm lá ở

Andamann (Griffith, 1947; Barnerji, 1959); phương thức chặt rừng đều tuổi ở

Malaysia (Bernard, 1950-1954); Wyatt Smith,1961, 1963), phương thức đồng hoá

tầng trên (Nichalson, 1958; Maudova, 1951, 1954). Đây là những nghiên cứu có

hệ thống nhằm điều tiết tổ thành cây tái sinh tạo nên những lâm phần rừng có

cấu trúc hỗn lồi, nhiều tầng, khác tuổi và bền vững [1].

Nghiên cứu phân bố cây tái sinh dưới tán rừng nhằm xác định lượng cây tái

sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt và đề xuất biện pháp phải bổ sung bằng

cách trồng rừng ở Châu Phi (Taylor, 1954; Bennard, 1955), các biện pháp lâm sinh

đề ra là cần thiết để bảo vệ cây tái sinh sẵn có dưới tán rừng nhiệt đới Châu Á

(Budowski, 1956; Bara, 1954; Catinot, 1965),... [1].

Ngồi ra, rất nhiều cơng trình nghiên cứu phân tích ảnh hưởng của các

nhân tố sinh thái đến tái sinh rừng như: Ánh sáng, độ ẩm của đất, kết cấu quần

thụ, cây bụi, dây leo và thảm tươi đã ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tái sinh

rừng. Các kết quả này là cơ sở quan trọng trong việc đề xuất các giải pháp kỹ

thuật lâm sinh tác



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có kết hợp trồng bổ sung:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×