Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Tải bản đầy đủ - 0trang

Hình 4.1. Bản đồ hành chính thành phố Đơng Hà

Thành phố Đơng Hà nằm về phía Bắc của tỉnh Quảng Trị, có 9 đơn vị

hành chính (9 phường), với tổng diện tích tự nhiên 7.295,87 ha. Mật độ dân số

khoảng 1.165 người/km2 và có tọa độ địa lý 16’07’53’’ – 16’52’22’’ vĩ độ Bắc,

107004’24’’ – 107007’24’’ kinh độ Đơng.

- Phía Bắc giáp huyện Cam Lộ và huyện Gio Linh.

- Phía Nam giáp huyện Triệu Phong.

- Phía Đơng giáp huyện Triệu Phong.

- Phía Tây giáp huyện Cam Lộ.

Thành phố Đơng Hà là trung tâm kinh tế, chính trị văn hóa – xã hội của

Quảng Trị, là địa bàn nằm trong hành lang kinh tế Đông – Tây nối liền 13 tỉnh

của 4 quốc gia (Việt Nam, Lào, Thái Lan và Mianmar), cùng với mạng lưới giao

thông đường bộ, đường thủy, dường sắt thuận tiện, là giao điểm giữa quốc lộ 1A

với đường xuyên Á nối với Lào, Thái Lan, Mianmar,… tạo cho Đơng Hà có một

vị trí quan trọng trong chiến lược quân sự, bảo vệ an ninh, quốc phòng khu vực

miền Trung cũng như hội tụ các điều kiện giao lưu, tiếp thu các thành tựu khoa



18



học tiên tiến, khả năng thu hút đầu tư trong, ngoài thành phố phục vụ cho việc

phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

4.1.1.2. Địa hình, địa mạo.

Địa hình của thành phố Đơng Hà có 2 dạng cơ bản là địa hình gò đồi bát

úp và địa hình đồng bằng khá thuận lợi cho việc phát triển đa dạng các ngành

kinh tế cũng như việc xây dựng các cơng trình đơ thị vững chắc.

- Địa hình gò đồi bát úp ở phía Tây và Tây – Nam, chiếm khoảng 44% diện

tích tự nhiên hơn 3.000 ha, có độ cao trung bình 10m so với mặt nước biển,

nghiêng dần về phía Đơng với độ dốc trung bình 5 – 10 độ.

- Địa hình đồng bằng có độ cao trung bình 3m so với mực nước biển, chiếm

55,9% diện tích tự nhiên, được phủ bởi một lớp phù sa thuận lợi cho phát tiển

nông nghiệp như trồng lúa, hoa màu cho năng cao nhưng hay bị lũ lụt.

4.1.1.3. Khí hậu, thời tiết.

Thành phố Đơng Hà nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng lại

chịu ảnh hưởng của gió Tây – Tây Nam nên tạo thành một tiểu vùng khí hậu khơ

nóng. Chế độ khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa mưa nóng.

- Mưa: Lượng mưa bình qn năm 2.700 mm/năm nhưng phân bố không

đều, mưa tập trung vào tháng 9, 10, 11, cao nhất là tháng 9 nên thường gây ra lũ

lụt. Trong những tháng mùa mưa thường kèm theo những cơn bão mạnh xuất

phát từ biển Đông, bão thường kèm theo mưa lũ nên càng làm tăng thêm thiệt

hại về kinh tế cho nhân dân.

- Nhiệt độ: Nhiêt độ trung bình trong năm là 24,4°C, trong đó nhiệt độ tối

thấp 11°C, nhiệt độ tối cao 42°C. Độ bốc hơi lớn gây khô hạn, ảnh hưởng đến

sản xuất nông nghiệp và đời sống.

- Độ ẩm: Độ ẩm trung bình năm đạt 84%, độ ẩm trung bình tháng cao nhất

94% (tháng 9, 11), tháng thấp nhất 75% (tháng 1, tháng 2)

- Nắng: Nắng là yếu tố có quan hệ chặt chẽ với bức xạ mặt trời và bị chi

phối bởi lượng mây, vì vậy thời gian chiếu sáng trong ngày của mùa hè và mùa

đơng khác nhau.

- Gió: Hướng gió chủ đạo là gió Đơng Bắc và Tây Nam theo hai mùa chính.

- Chế độ bốc hơi nước: lượng nước bốc hơi bình quân năm 1.509 mm.

Lượng bốc hơi tháng lớn nhất 183 mm (tháng 3) và tháng thấp nhất là 45 mm

(tháng 9), lượng mưa bốc hơi chủ yếu vào mùa mưa.

19



4.1.1.4. Thủy văn.

Chế độ thủy văn của Thành phố Đông Hà chịu ảnh hưởng của thủy triều

từ biển vào thơng qua Cửa Việt. Hệ thống sơng ngòi chính của thành phố gồm 3

con sơng:

- Sơng Hiếu là hệ thống sơng lớn nhất chảy qua phía Bắc của thành phố.

Khu vực hạ lưu sông Hiếu chịu chi phối của thủy triều biển vào nên có chế độ

dòng chảy rất phức tạp, về mùa khô lưu lượng nước ở thượng lưu nhỏ, nước

mặn thâm nhập sâu, biên độ mặn lớn, mùa mưa nước lũ thường dâng cao gây

ngập lụt cục bộ.

- Sông Thạch Hãn: Bắt nguồn từ A Lưới, chảy qua khoảng 5km, ven theo

phía Đơng thành phố và là ranh giới với huyện Triệu Phong.

- Sông Vĩnh Phước: Bắt nguồn từ vùng đồi cao 300 – 400m thuộc huyện

Cam Lộ chảy qua phía Nam thành phố đổ vào sơng Thạch Hãn.

Ngồi ra , Thành phố còn có nhiều hồ nhân tạo điều hòa, khai thác thủy

lợi, thủy sản như: Hồ Trung Chỉ, hồ Khe Mây, hồ Đại An, hồ Khe Sắn,… cung

cấp nước và điều hòa sinh thái cho tiểu vùng cư dân của từng phường.

4.1.1.5. Các nguồn tài nguyên.

a. Tài nguyên đất.

Theo kết quả điều tra nông hố thổ nhưỡng cho thấy đất đai của thành phố

Đơng Hà, chủ yếu gồm các loại đất sau: Đất Feralit trên sa phiến; đất phù sa bồi,

phù sa không được bồi, đất phù sa Flay.

- Đất phù sa Glây (Pg): Phân bố rải rác ở các khu vực trồng lúa (thuộc các

phường Đông Lễ; Đông Lương; Đông Giang; Đông Thanh) có diện tích khoảng

200 ha, là loại đất thích hợp trồng lúa.

- Đất phù sa được bồi hàng năm (Pb): Phân bố tập trung ở các vùng khu vực

triền sông Hiếu, sơng Vĩnh Phước, diện tích khoảng 500 ha, đây là loại đất thích

hợp cho việc trồng cây lương thực, cây ăn quả và cây công nghiệp.

- Đất Feralit nâu vàng phát triển trên phiến sét (Fs): Phân bố tập trung ở

khu vực Tây và Tây Nam thành phố. Diện tích đất này chiếm diện tích

khoảng 3.500 ha, thích hợp trồng cây lâm nghiệp, cây ăn quả và phát triển

đồng cỏ chăn nuôi.

Đặc điểm chung của các loại đất trên là bị chua phèn, độ PH dao động từ

4,5 - 6,5 nên độ phì kém.

b. Tài nguyên nước:

20



 Nguồn nước mặt:

Nước phục vụ sản xuất, sinh hoạt của nhân dân thành phố Đông Hà khá

dồi dào, được cung cấp chủ yếu từ 3 hệ thống sơng chính và hàng chục khe suối,

hồ chứa,… phân bố khá đều trên địa bàn thành phố.

- Sơng Hiếu: Là sơng lớn nhất có diện tích lưu vực là 465 km2, chiều dài trên

70 km, đoạn chạy qua thành phố rộng từ 150m - 200m, dài khoảng 8km.

- Sơng Vĩnh Phước: Nằm ở phía Nam thành phố, có lưu vực 183km2, chạy

dài là 45km, mặt rộng trung bình từ 50 - 70m, lưu lượng nước trung bình là

9,56m3/s, về mùa cạn kiệt là 1,79m3/s. Đây là con sông cung cấp nước ngọt cho

sinh hoạt của thành phố.

- Sông Thạch Hãn: Bắt nguồn từ huyện A Lưới tỉnh Thừa Thiên Huế dài 145

km đoạn chạy qua địa bàn thành phố dài 5km.

Ngồi các con sơng kể trên Đơng Hà còn có một số hồ đập nhân tạo phục vụ cho

sản xuất nông nghiệp, cải tạo môi trường và nuôi trồng thuỷ sản

 Nguồn nước ngầm:

Theo tài liệu đánh giá của Sở Khoa học và Công nghệ vùng trung tâm

thành phố và khu vực đất đồi tầng ngầm nghèo. Nguồn nước ngầm mạch nông

tồn tại ở vùng đất trũng thuộc khu vực trầm tích phù sa.

Khơng có nguồn nước ngầm ở mạch nơng nhưng có thể khai thác nguồn

nước ngầm mạch sâu cách thành phố khoảng 12km về phía Đơng Bắc (tại huyện

Gio Linh), trữ lượng nước tương ứng cấp C1 là 19.046m3/ngày, cấp C2 là

98.493m3/ngày, lưu lượng giếng khoan từ 15-19 lít/s.

c. Tài nguyên rừng

Hiện nay, thành phố Đơng Hà có 2.371 ha đất có rừng, chiếm 32,50%

diện tích tự nhiên, trong đó đa số là diện tích đất rừng trồng (2.188 ha, chiếm

98,34% diện tích đất có rừng). Rừng tự nhiên bị chiến tranh hủy diệt và một

phần do con người chặt phá nên diện tích còn khơng đáng kể. Rừng trồng đã đến

tuổi khai thác có khoảng 1.000 ha, mật độ thưa, năng suất và trữ lượng thấp.

Ước tính trữ lượng gỗ củi có khoảng 15.000m3 gỗ củi. Cần duy trì và mở rộng

diện tích đất rừng sản xuất, rừng cảnh quan gắn phát triển lâm nghiệp với phát

triển du lịch, dịch vụ và bảo vệ mơi trường sinh thái.

Diện tích đất lâm nghiệp có rừng của thành phố tuy giá trị về mặt kinh tế

khơng lớn, song có ý nghĩa quan trọng trong việc điều hồ khơng khí, bảo vệ

nguồn nước, chống xói mòn, đặc biệt là việc tạo cảnh quan, tiền đề cho việc phát

21



triển các loại hình kinh tế dịch vụ, thương mại, du lịch thăm quan, nghỉ dưỡng

sau này trên địa bàn.

d. Tài nguyên khoáng sản

Nguồn tài nguyên khoáng sản ở thành phố Đơng Hà nghèo, chỉ có nguồn

đất sét làm gạch ngói, trữ lượng nhỏ, phân bố rải rác ở các phường Đông Giang,

Đông Thanh, Đông Lương và phường 2. Do đó, khó thực hiện việc khai thác

trên diện rộng, quy mơ lớn.

Ngồi ra, qua các đợt thăm dò địa chất trước đây cho biết trên khu vực

thành phố Đơng Hà có quặng sắt ở đồi Quai Vạc, sắt ở đường 9D (gần trung tâm

thành phố), trữ lượng cũng không đáng kể.

e. Tài nguyên nhân văn

Thành phố Đông Hà là vùng đất được hình thành từ xa xưa, do những

biến động của lịch sử nên Đơng Hà có nhiều thế hệ làng, xã ra đời sớm muộn

khác nhau. Trước năm 1306, vùng đất phía Nam sơng Hiếu là lãnh thổ do

Vương quốc Chăm Pa chiếm đóng, trong khi đó vào năm 1069, phía Bắc sơng

Hiếu vẫn là đất của huyện Vĩnh Linh dưới thời Đại Việt. Vào thế kỷ thứ XVIII,

Lê Quý Đôn viết Phủ tạp lục, Đông Hà là đất thuộc huyện Đăng Xương, phủ

Triệu Phong, xứ Thuận Hoá. Vào thế kỷ thứ XIX, theo Đồng Khánh dư địa chí,

Đơng Hà là đất của 2 huyện (phía bắc thuộc huyện Thành Hố, tổng An Lạc;

phía nam sơng Hiếu thuộc tổng An Đôn, huyện Đăng Xương). Qua thời gian,

các làng, xóm vẫn giữ được hệ thống giếng Chàm và nhiều cổ vật, bằng chứng

của sự cư trú của nhiều dân tộc, đây cũng là một đặc điểm trong tổng thể văn

hoá Quảng Trị nằm ở dải hội tụ hai phong cách văn hoá Việt và Chàm.

4.1.1.6. Thực trạng về môi trường.

Đông Hà là thành phố mang nét đặc trưng của một thành phố ven biển

vùng Duyên hải Bắc trung Bộ, được thiên nhiên ưu đãi, tạo hoá cho địa phương

khá nhiều cảnh quan đẹp có núi, có sơng, có rừng,… Trong những năm gần đây,

mặc dù đã và đang trên đà phát triển mạnh nhưng vẫn còn nhiều nét tự nhiên,

thực tế mơi trường chưa có hiện tượng ơ nhiễm.

Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng dân số và q trình đơ thị hóa ảnh hưởng

khơng nhỏ đến mơi trường sinh thái:

- Thiếu các cơng trình xử lý nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt

và hệ thống cấp thốt nước chưa đồng bộ.



22



- Tình trạng ơ nhiễm do khói bụi, khí độc và tiếng ồn do các phương tiện

giao thông vận tải và các hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp, chợ ở một số

khu vực vượt mức độ cho phép.

- Môi trường khu dân cư, môi trường nước đang có hiện tượng bị ơ

nhiễm do nước thải sinh hoạt, chăn ni, rác thải, khí thải của các cơ sở sản xuất

công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp… đổ xuống.

- Vấn đề cấp thoát nước, xử lý rác thải… trên địa bàn thành phố là những

vấn đề bức xúc ảnh hưởng đến cảnh quan môi trường cần có những biện pháp cụ

thể để xử lý.

- Mặt khác, trong q trình sản xuất nơng nghiệp đã sử dụng một lượng

lớn thuốc bảo vệ thực vật nên môi trường đất, nước, khơng khí ít nhiều đã bị ơ

nhiễm ở những mức độ khác nhau.

Do vậy, trong tương lai phải có những biện pháp kịp thời nhằm xây dựng một hệ

sinh thái môi trường bền vững.

4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội.

4.1.2.1. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế.

a. Tình hình phát triển ngành nơng - lâm - ngư nghiệp

Thành phố đã tập trung chỉ đạo đẩy mạnh áp dụng kỹ thuật mới và tổ

chức gieo trồng đảm bảo lịch thời vụ; thực hiện quyết liệt, kịp thời cơng tác

phòng trừ dịch bệnh trên cây trồng và vật nuôi, khẩn trương triển khai các

biện pháp chống hạn phục vụ sản xuất...nên giá trị sản xuất nông – lâm – ngư

nghiệp trong năm 2013 ước đạt 119.367 triệu đồng tăng 0,92 % so với năm.

Diện tích gieo trồng lúa đạt 2.146,7 ha, bằng 103% kế hoạch; năng suất lúa

bình quân đạt 42,1 tạ/ha, giảm 6,2 tạ/ha so với năm 2012. Diện tích gieo trồng

rau các loại ước đạt 371,8 ha, tăng 12,8 ha so với năm 2012, giá trị thu nhập

bình qn 1 ha rau an tồn đạt 300-350 triệu đồng/ha; mơ hình trồng hoa cúc

trong chậu tại phường Đơng Giang đem lại hiệu quả cao; đã hồn thành đưa

vào sử dụng trại sản xuất giống hoa cúc các loại, bước đầu sản xuất trên

100.000 cây giống. Tổng diện tích ni trồng thủy sản đạt 105 ha, trong đó

ni tôm 55 ha, tổng sản lượng thuỷ sản 228 tấn, trong đó ni tơm đạt 111

tấn, doanh thu đạt 16,517 tỷ đồng, lợi nhuận đạt 6,872 tỷ đồng. Chăn nuôi gia

súc, gia cầm phát triển ổn định, tổng đàn gia cầm tăng 8,18% so với năm

trước; mơ hình ni ong lấy mật, ni bồ câu Pháp có hiệu quả bước đầu.

Thành phố cũng đã tích cực tranh thủ nguồn vốn của các dự án hỗ trợ phát

23



triển sản xuất, ngành nghề của chi cục phát triển nông thôn tỉnh và mơ hình

đầu tư của trung tâm khuyến nơng – khuyến ngư tỉnh để mua sắm máy móc,

thiết bị sản xuất; hỗ trợ giống, thức ăn; tập huấn kỹ thuật.

Công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đã được chú trọng triển

khai, trồng mới rừng sản xuất sau khai thác 220 ha; khai thác gỗ rừng trồng

263 ha, đạt 24.680 m 3, tăng 400% so với năm 2012.

Hệ thống cơ sơ hạ tầng kỹ thuật phục vụ nông nghiệp được quan tâm

đầu tư, nhất là các cơng trình thủy lợi, kiên cố hóa kênh mương, các kè chống

xói lở; các chương trình, dự án phát triển nơng nghiệp được thực hiện hiệu

quả.

b. Tình hình phát triển ngành cơng nghiệp và xây dựng

Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn vẫn duy trì

nhịp độ tăng trưởng tương đối khá, giá trị sản xuất công nghiệp năm 2013 đạt

2.058 tỷ đồng, tăng 11,7% so với năm 2012, các doanh nghiệp và cơ sở sản

xuất đã chủ động khắc phục khó khăn, bố trí lại cơ cấu sản xuất và lao động,

tìm đầu ra mới cho sản phẩm, hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp tại

các khu, cụm cơng nghiệp tiếp tục duy trì ổn định. Bên cạnh một số ngành sản

xuất tăng trưởng khá như may mặc, ván gỗ MDF, chế biến nông sản, thực

phẩm, cơ khí thì một số ngành như cưa xẽ gỗ, mộc dân dụng, khai thác cát

sạn.. có tốc độ tăng trưởng thấp hơn năm trước. Thành phố đã phối hợp với

trung tâm khuyến công và xúc tiến thương mại tỉnh hỗ trợ thực hiện 2 đề án,

với kinh phí 55 triệu đồng, vốn khuyến công thành phố hỗ trợ 5 đề án, với

kinh phí 100 triệu đồng.

Hoạt động xây dựng vẫn còn gặp nhiều khó khăn, nhưng các doanh

nghiệp đã từng bước cơ cấu lại sản xuất, khôi phục hoạt động, giá trị sản xuất

ngành xây dựng tăng 6,19% so với năm 2012

c. Tình hình phát triển ngành Thương mại và dịch vụ

Mặc dù còn đối mặt với nhiều khó khăn, nhưng trong năm vẫn có

những thuận lợi cơ bản, với địa bàn trung tâm tỉnh lỵ nơi diễn ra nhiều sự

kiện, lễ hội nên đã thu hút lượng khách đến thành phố tăng khá, hàng hố đa

dạng, giá cả nhìn chung ổn định, đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng nên nhìn

chung hoạt động kinh doanh dịch vụ và thương mại tiếp tục có những chuyển

biến tích cực, hoạt động thương mại và dịch vụ diễn ra khá sôi động, sức mua

tăng nhanh, lưu thơng hành hóa thơng suốt, một số chi nhánh, gian hàng trưng

bày những mặt hàng chất lượng cao có bước phát triển. Nhiều nhà đầu tư,

24



doanh nghiệp đang tiếp tục đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, hệ thống hạ

tầng thương mại từng bước được hồn thiện. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và

dịch vụ năm 2013 ước đạt 11.682 tỷ đồng tăng 20,0% so với năm 2012.

Các loại hình dịch vụ tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng, đa dạng

về sản phẩm, chất lượng phục vụ ngày càng nâng lên. Hoạt động vận tải đảm

bảo vận chuyển hàng hóa và đi lại của nhân dân. Hệ thống ngân hàng tiếp tục

hoạt động ổn định và có mức tăng trưởng khá, đáp ứng nhu cầu vốn cho nền

kinh tế. Dịch vụ viễn thông phát triển ngày càng đi vào chiều sâu, chất lượng

dịch vụ được nâng lên đáng kể. Dịch vụ bảo hiểm, chăm sóc sức khỏe, khám

chữa bệnh có nhiều chuyển biến tích cực.Hệ thống khách sạn, nhà hàng, dịch

vụ ăn uống ngày càng được đầu tư đáp ứng nhu cầu.

d. Hoạt động kinh tế đối ngoại và thu hút đầu tư

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước thực hiện cả năm 1.305 tỷ đồng, tăng

10,22% so với cùng kỳ năm trước. Vốn xây dựng cơ bản năm 2013 từ ngân

sách 138.003 triệu đồng, giảm 23% so với năm 2012. Trong đó ngân sách

trung ương và tỉnh hỗ trợ 55.800 triệu đồng, giảm 44,6% so với năm 2012,

ngân sách thành phố 82.203 triệu đồng, tăng 4,6% so với năm 2012

Thành phố đã tích cực tranh thủ sự quan tâm của trung ương, của tỉnh,

các nhà tài trợ để thực hiện các dự án quan trọng. Đã tập trung chỉ đạo đẩy

nhanh tiến độ dự án thoát nước, thu gom và xử lý nước thải; tích cực phối hợp

với các Sở triển khai các bước tiếp theo dự án phát triển đô thị dọc hành lang

tiểu vùng sông MêKông (RETA); dự án hỗ trợ sinh kế các đô thị dọc hành

lang tiểu vùng sông MêKông; dự án hỗ trợ kinh tế tăng cường khả năng thích

ứng biến đổi khí hậu; hồn chỉnh hồ sơ dự án nâng cấp đô thị thành phố Đơng

Hà trình Bộ xây dựng xem xét đưa vào danh mục thuộc chương trình nâng

cấp và phát triển dơ thị quốc gia giai đoạn 2010-2020.

4.1.2.2. Dân số, lao động, việc làm và thu nhập.

* Dân số: Theo số liệu của phòng thống kê thành phố Đơng Hà năm

2013 thì dân số toàn thành phố là 86.400 người, tăng 1,87% so với năm 2012.

Thành phố Đơng Hà có tỷ lệ tăng dân số cao nên đã tạo ra sức ép cho xã hội

về việc làm, nhà ở. Mật độ dân số trung bình của tồn thành phố là 1.184

người/km2.

* Lao động và việc làm: Năm 2013 nguồn lao động trong độ tuổi của

thành phố vào khoảng 43.934 người chiếm 50,85% tổng dân số. Đã giải quyết

việc làm mới cho khoảng 1640 lao động chiếm 3,7% tổng số lao động, tỷ lệ

25



lao động qua đào tạo là 59%. Nhìn chung, chất lượng lao động kỹ thuật còn

chưa cao khơng đều giữa các phường và vùng ven thành phố. Do đó vấn đề

đào tạo nguồn lao động để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội là rất

cần thiết hiện nay.

Những năm qua thành phố đã thu hút được nhiều dự án thơng qua các

chương trình giải quyết việc làm, khuyến khích và tạo điều kiện để các thành

phần kinh tế phát triển, sản xuất kinh doanh trên mọi lĩnh vực góp phần phát

triển kinh tế - xã hội của thành phố.

Nguồn lao động khá dồi dào song tình trạng khơng có việc hoặc thiếu

việc làm nhất là đối với thanh niên, sinh viên mới ra trường cũng như lực

lượng lao động là nơng dân còn bức xúc cần được tập trung giải quyết. Lực

lượng cán bộ kỹ thuật còn ít so với yêu cầu, thiếu cán bộ khoa học ở hầu hết

các ngành kinh tế và kỹ thuật như: xây dựng, công nghiệp chế biến, nông

nghiệp; chất lượng nguồn lao động chưa cao và không đồng đều gây ảnh

hưởng tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố. Tuy nhiên, hiện nay khi có

sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các ngành đang diễn ra mạnh theo hướng

tỷ trọng công nghiệp, thương mại – dịch vụ là điều kiện thuận lợi để khai thác

nguồn nhân lực này.

* Thu nhập và mức sống: Cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội

của thành phố, đời sống của người dân khơng ngừng được cải thiện. Thu nhập

bình qn đầu người năm 2013 là 57,30 triệu đồng/người/năm, tỷ lệ hộ nghèo

theo tiêu chí mới giảm rõ rệt đạt 5,17% so với kế hoạch là 5,3%.

Đời sống dân cư làm việc trong các ngành thương nghiệp, xây dựng,

giao thông vận tải nhìn chung có mức thu nhập ổn định, riêng đời sống dân cư

ngành nông – lâm nghiệp mặc dù trong những năm gần đây đã có bước phát

triển lớn nhưng vẫn còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là dân cư sống vùng ven

thành phố.

4.1.2.3. Thực trạng phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng.

a. Hệ thống đường giao thông

Đường bộ : Mạng lưới giao thông đường bộ được xây dựng theo hai

hướng Bắc - Nam và Đông - Tây, gồm các tuyến giao thông đối nội và giao

thông đối ngoại. Hầu hết, các tuyến phố chính đều được giải bê tơng nhựa, vỉa

hè lát gạch Bloc và có hệ thống chiếu sáng khá hồn chỉnh.

- Về giao thơng đối nội: Bao gồm các tuyến đường nội thành với tổng

26



chiều dài khoảng 400 km, trong đó tỉnh quản lý 33 tuyến/44 km, thành phố và

phường quản lý 90 tuyến/87,4 km, còn lại là các đường khu vực, ngõ phố do nhân

dân tự quản. Mật độ đường đạt 5,5 km/km2, phân bố tương đối đều từ khu trung

tâm ra ven đô.

- Về giao thông đối ngoại: Thành phố Đông Hà có quốc lộ 1A xuyên

Việt đi qua, tạo điều kiện thuận lợi cho thành phố giao lưu thông thương với các

huyện, các tỉnh trong cả nước.

Ngồi ra còn có các tuyến quốc lộ quan trọng của tỉnh, khu vực, như quốc lộ 9

chạy qua trung tâm và đường 9D chạy qua phía Tây Nam thành phố, được xây

dựng khá hồn chỉnh theo tiêu chuẩn đường cấp III, là các tuyến trục quan trọng

gắn với đường liên vận quốc tế xuyên Á nối Việt Nam với Lào và các nước

trong Khu vực.

- Cơng trình phục vụ giao thơng:

Hiện nay thành phố có 01 bến xe ở trung tâm thành phố (bến xe ơ tơ Đơng

Hà) có diện tích khá rộng, cơ bản đáp ứng được nhu cầu đỗ xe hiện tại. Ngồi ra,

còn khá nhiều địa điểm đưa, đón khách trên địa bàn được xây dựng trên diện

tích của các hộ gia đình cá nhân.

Đường sắt. Tuyến đường sắt Bắc - Nam chạy xuyên qua trung tâm thành

phố với chiều dài 7 km. Ga đường sắt Đông Hà nằm ở khu vực trung tâm thành

phố với diện tích 6,9 ha, đã được đầu tư nâng cấp đạt tiêu chuẩn ga cấp 1, đáp

ứng nhu cầu lưu thơng hàng hóa và hành khách.

Đường thủy. Chủ yếu hoạt động trên sông Hiếu, cảng sơng Đơng Hà nằm

ở vị trí hạ lưu sơng Hiếu, phía hạ lưu cầu Đơng Hà, gồm 1 bến đứng có chiều dài

100m, 1 bến nghiêng dài 90m; khả năng hàng hóa thơng qua cảng khoảng

50.000 tấn/năm, cho tàu 200 - 250 tấn cập bến; có bãi chứa hàng rộng 4.000 m2,

kho chứa hàng rộng 900 m2. Tuy nhiên hiện tại, bến đứng của cảng Đông Hà

không sử dụng được do bị sập, hư hỏng nặng. Ngồi cảng hàng hóa, trên khu

vực chợ Đơng Hà có bến thuyền khách dài 200m.

b. Hệ thống mạng lưới điện và cấp thoát nước



 Hệ thống mạng lưới điện và chiếu sáng đô thị:



27



Thành phố Đông Hà được cung cấp điện từ điện lưới quốc gia thơng qua

trạm giảm áp chính khu vực Đơng Hà 110/35/10KV-16 MVA và 110/22/10 KV25 MVA, cung cấp cho thành phố khoảng 1.000 KW, tối đa có thể đạt tới 2.000

KW với lượng điện năng hàng năm là 3,2 triệu KWh. Mạng lưới điện phân phối

đang vận hành song song các cấp điện áp là 35 KV, 22 KV, 10 KV và 0,4 KV.

Điện sinh hoạt đạt bình quân 350W/hộ/ngày đêm.

Điện chiếu sáng đô thị đã xây dựng gần 20 tuyến đường phố được chiếu

sáng với tổng chiều dài hơn 19 km, đạt 65% tổng đường được quy hoạch chiếu

sáng. Ngồi ra, các cơng viên, vườn hoa đã được bố trí hệ thống đèn trang trí và

cảnh quan. Nhìn chung, hiện tại lượng điện cung cấp đáp ứng đủ cho nhu cầu

sinh hoạt và phục vụ sản xuất của các ngành kinh tế trên địa bàn thành phố.

 Hệ thống cấp thoát nước:

Cấp nước:

- Hệ thống cấp nước từ nhà máy nước sông Vĩnh Phước cách trung tâm

thành phố 5 km về phía Tây, cơng suất 15.000 m3/ngày đêm. Do nhà máy đặt ở

cao trình 42 m nên nước tự chảy đến các hộ tiêu thụ không sử dụng bơm cấp II.

- Hệ thống nước ngầm chuyển tải về từ nhà máy nước Gio Linh công suất

15.000 m3/ngày đêm. Nước sạch được bơm về thành phố Đông Hà qua trạm

bơm tăng áp công suất 15.000 m3/ngày đêm xây dựng tại ngã tư Sòng. Hệ thống

phân phối nước có tổng chiều dài 35.930 m đến hầu hết các địa bàn trên thành

phố. Hiện nay đã có 97% số hộ được sử dụng nước máy. Tuy nhiên một số khu

vực vẫn còn tình trạng thiếu nước máy nên người dân phải dùng thêm giếng

khoan. Chỉ tiêu cấp nước đạt 100 lít/người/ngày đêm.

Thoát nước: Hệ thống thoát nước của thành phố là thoát chung cả nước

mưa và nước thải với tổng chiều dài các tuyến cống khoảng 22 km, tập trung

chủ yếu ở các phường nội thị. Các đoạn trục chính đều có hệ thống thốt nước

ngầm nhưng các đoạn trong khu dân cư, các ngõ nhỏ tình trạng thốt nước thải

trên bề mặt còn phổ biến. Lưu vực thốt nước chủ yếu ra Sông Hiếu chiếm tới

80%, khu vực các phường phía Nam thành phố thốt ra sơng Thạch Hãn và sông

Vĩnh Phước. Hiện tại, thành phố Đông Hà vẫn chưa có hệ thống thốt nước

riêng biệt, nước thải chưa qua xử lý hoặc đã xử lý sợ bộ cùng nước mưa được

dẫn qua hệ thống các cống, rảnh, hồ ao và kênh thủy lợi ra các sơng chính nên

dễ gây ô nhiễm môi trường ở những khu vực bị ngập úng.

4.1.2.4. Văn hóa-Thơng tin-Thể thao.

28



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×