Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
c) Phương pháp phân tích xử lý số liệu

c) Phương pháp phân tích xử lý số liệu

Tải bản đầy đủ - 0trang

41



toán các mối quan hệ giữa đại lượng sinh khối với các nhân tố điều tra.

Xác định tỉ lệ sinh khối khơ

Dựa trên các mẫu phân tích sinh khối tại phòng thí nghiệm, hệ số chuyển đổi

từ sinh khối tươi sang sinh khối khơ kiệt được tính theo cơng thức tổng qt sau:

Wki

Pi 

Wti



Trong đó: Wki là khối lượng khơ kiệt của mẫu i sấy ở nhiệt độ 105 OC đối với

bộ phận thân, cành, rễ và nhiệt độ 800C đối với bộ phận lá; Wti là khối lượng tươi

của mẫu i trước khi sấy.

- Xác định tỉ lệ sinh khối khô của từng bộ phận theo cấp tuổi: Bằng giá trị

trung bình tỉ lệ giữa sinh khối khơ/sinh khối tươi từng bộ của các mẫu sấy có cùng

cấp tuổi.

- Xác định tỉ lệ sinh khối khô chung theo cấp tuổi: Bằng tỉ lệ sinh khối khô của

từng bộ phận theo cấp tuổi nhân với tỉ lệ % tương ứng của từng bộ phận chia cho

100.

Pch(Ai) = (Pth(Ki)*Pth(%)+ Pca(Ki)*Pca(%)+ Pla (Ki) *Pla(%)+ Pre(Ki)*Pre(%))/100

Trong đó: Pch(Ai): tỉ lệ sinh khối khơ chung của cấp tuổi i

Pth(Ki): tỉ lệ sinh khối khô của bộ phận thân ở cấp tuổi i

Pca(Ki): tỉ lệ sinh khối khô của bộ phận cành ở cấp tuổi i

Pla(Ki): tỉ lệ sinh khối khô của bộ phận lá ở cấp tuổi i

Pre(Ki): tỉ lệ sinh khối khô của bộ phận rễ ở cấp tuổi i

Pth(%): Tỉ lệ phần trăm sinh khối tươi của bộ phận thân so với tổng sinh khối

tươi của cây cá thể.

Pca(%): Tỉ lệ phần trăm sinh khối tươi của bộ phận cành so với tổng sinh khối

tươi của cây cá thể.

Pla(%): Tỉ lệ phần trăm sinh khối tươi của bộ phận lá so với tổng sinh khối

tươi của cây cá thể.

Pre(%): Tỉ lệ phần trăm sinh khối tươi của bộ phận rễ (trên và dưới) mặt đất



42



so với tổng sinh khối tươi của cây cá thể.

Tính sinh khối khơ của cây cá thể

Sau khi có tỉ lệ giữa sinh khối khơ và sinh khối tươi (Pi) và tỉ lệ lượng các

bon trong sinh khối khô của từng bộ phận của cây. Tiến hành xác định sinh khối và

tích lũy các bon của từng bộ phận của cây giải tích như sau:

Xác định sinh khối khô từng bộ phận (thân, cành, lá, rễ trên mặt đất) của

cây cá thể theo cấp kính: Bằng sinh khối tươi x tỉ lệ khô/tươi (Pi) từng bộ phận của

cây theo từng cỡ kính (mỗi bộ phận có tỉ lệ sinh khối khơ/ tươi khác nhau được

phân tích từ phòng thí nghiệm):

W(Thk, Cak, Lak, Rek) = W(Tht, Cat, Lat, Ret) x Pi

Trong đó: W(Thk, Cak, Lak, Rek) là sinh khối khô và W(Tht, Cat, Lat, Ret) là

sinh khối tươi của bộ phận cây cá thể giải tích; Pi: là tỷ lệ sinh khối khơ/tươi của cỡ

kính i.

Sinh khối khơ cây cá thể: Sinh khối khơ cây cá thể được tính bằng tổng sinh

khối của các bộ phận của cây cá thể (gồm sinh khối khô của thân, cành, lá và rễ trên

và dưới mặt đất).

Xác định tích lũy các bon và CO2 của cây cá thể

Tích lũy các bon của từng bộ phận cây giải tích = Sinh khối khơ x % tích lũy

các bon trong từng bộ phận (tỉ lệ % các bon được phân tích từ phòng thí nghiệm).

Tích lũy các bon của cây giải tích = Tổng tích lũy các bon trong sinh khối khơ

của từng bộ phận.

Tổng lượng CO2 của cây cá thể hấp thu = Tích lũy C của cây giải tích x 3,67.

Xác định hệ số các bon chung cho các bộ phận thân cây theo cấp tuổi

P(ch)=Xth*Kth+Xca*Kca+XLa*KLa+XR*KtR

Trong đó: X là tỷ lệ sinh khối khô của từng bộ phận của cây; K là hệ số các

bon của từng bộ phận.

Tính trữ lượng các bon trong đất



43



Lượng các bon trong đất được xác định theo công thức: C đất (tấn/ha) = H x

BD x C x 100 (Pearson và ctv, 2005)[77].

Trong đó: BD là dung trọng đất (g/cm3); H là độ sâu tầng đất (cm); C là lượng các

bon trong đất (g/1.000 g đất).

Xác định sinh khối, các bon của quần thể

Được tính tốn bằng tổng sinh khối, tổng lượng các bon tích lũy của các cây

trong ơ tiêu chuẩn và suy tính cho trên 1 ha. Sinh khối và trữ lượng các bon ở mỗi

cấp tuổi rừng được tính bằng sinh khối và lượng tích lũy các bon trên 1 ha nhân với

tổng diện tích rừng tương ứng với mỗi cấp tuổi.

Tổng sinh khối và trữ lượng các bon của rừng Đước đôi trồng tại rừng ngập

mặn Cần Giờ được tính bằng tổng sinh khối và trữ lượng các bon ở các cấp tuổi rừng.

Xây dựng các mơ hình hóa giữa sinh khối, các bon và các nhân tố điều tra

Trong luận án đã mơ hình hóa mối quan hệ giữa sinh khối, lượng tích lũy các

bon với các nhân tố có quan hệ theo dạng hàm tổng quát: Yi = f(Xj)

Trong đó: Yi: Sinh khối, các bon từng bộ phận cây cá thể;

Xj: Các nhân tố điều tra rừng như đường kính, chiều cao hoặc tổ hợp

biến ví dụ D1,32H, D1,3H. Tổ hợp tất cả các trường hợp đổi biến số để dò tìm hàm tối

ưu.

Luận án đã sử dụng một số dạng hàm tuyến tính từ một đến nhiều biến, tổ

hợp biến hoặc hàm phi tuyến tính được đổi biến số về tuyến tính để thăm dò và

lựa chọn hàm tối ưu; các mơ hình được xử lý trong phần mềm thống kê

Statgraphics version 5.1. Biến phụ thuộc yi là sinh khối hoặc các bon của cây cá

thể; biến số xi bao gồm các nhân tố điều tra rừng: đường kính ngang ngực (D 1,3,

cm), chiều cao cây (Hvn, m), thể tích (V, m 3), mật độ (N, cây/ha), Trữ lượng rừng

(M, m3/ha).

Tiêu chuẩn chung để lựa chọn một mơ hình tối ưu là: (1) Đường biểu diễn lý

thuyết gần sát với đường thực nghiệm; (2) Hệ số xác định (R2) lớn; (3) Sai số ước



44



lượng tiêu chuẩn (SEE); (4) Sai số tuyệt đối trung bình (MAE); (5) Tổng sai số bình

phương (SSR) là nhỏ nhất.

Phương trình được chọn là những phương trình có hệ số xác định (R 2) lớn,

Tổng sai số bình phương nhỏ (SSR), hàm thơng dụng và dễ tính tốn. Các phương

trình được chọn đã tiến hành kiểm nghiệm bằng các dữ liệu khơng tham gia tính

tốn. Trong 42 cây chặt chỉ sử dụng số liệu của 35 cây để xây dựng các phương

trình tương quan, 7 cây còn lại khơng đưa vào tham gia tính tốn được dùng để

kiểm nghiệm mơ hình.

Kiểm tra khả năng ứng dụng của các phương trình thơng qua thơng số sau:



Trong đó: Ytn : Thực nghiệm; Ylt : Lý thuyết

Bảng 2.1. Các dạng phương trình tương quan tổng quát được sử dụng

TT

1



Phương trình tổng quát

Y = (a + b*X)2



TT

11



Phương trình tổng quát

Y = (a + b*sqrt(X))2



2



Y = 1/(a + b/X)



12



Y = sqrt(a + b*X2)



3



Y = a + b*log(X)



13



Y = exp(a + b*X)



4



Y = a + b*X2



14



Y = a*X b



5



Y = a + b*X + c*X2



15



Y = a*exp(-b*X -c)



6



Y = a + b*X*Z



16



logY = a + b*logX + c*log Z



7



Y = a + b*X*Z2



17



logY = a + b*log(X.Z)



8



Y = a + b*X2*Z



18



logY = a + b*log(X 2. Z)



9



Y = a + b*X + c*X2*Z



19



logY = a + b*log(X. Z2)



10



Y = a + b*Z + c*X2*Z



20



logY = a + b*log X + c*log(X.Z)



Trong đó :



Y : biến phụ thuộc là sinh khối, lượng tích lũy các bon,…

x, z : biến độc lập D1,3, Hvn, N/ha, M,...



45



Hình 2.3: Bản đồ vị trí ơ điều tra và hiện trạng rừng ngập mặn Cần Giờ



46



2.3. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là quần thể rừng Đước đôi trồng thuần loại trong

Rừng ngập mặn tại huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh.

2.3.1. Đặc điểm phân bố Đước

- Tên Việt Nam: Đước đôi.

- Tên khoa học: Rhizophora apiculata Blume

- Chi: Rhizophora.

- Thuộc họ: Rhizophoraceae.

Đước đơi là lồi cây mọc chủ yếu ở rừng ngập mặn, phân bố theo vùng cửa

sông ven biển nhiệt đới, chỉ có một số lồi ở á nhiệt đới.

Đước đơi xuất hiện ở Campuchia, Việt Nam, Ấn Độ, Thái Lan, Miến Điện,

Malaysia, Indonesia, Philippines… Trong đó Đước phân bố rộng rãi ở vùng ngập

mặn hay lợ, mỗi ngày nước rút đi để rễ không ngập trong nước nhiều giờ. Ở những

vùng đất cao ít ngập nước Đước phát triển chậm, chiều cao khoảng 10 – 17 m.

Ở Việt Nam, Đước đơi gặp nhiều ở rừng ngập mặn ven biển phía Nam, là

một trong những loài cây mọc phổ biến trên vùng đất ngập mặn ven biển, mọc

nhiều trên đất bùn mới đọng. Đây là lồi cây có khả năng phòng hộ và bảo vệ mơi

trường ven biển, chống xói lở, lấn biển rất tốt.

2.3.2. Hình thái và đặc điểm sinh trưởng

Đước đơi là lồi cây gỗ lớn ở rừng ngập mặn, khi đạt đến tuổi thành thục tự

nhiên cây có thể đạt chiều cao 25 – 30 m, đường kính (D 1,3) là 0,7 – 1,0 m, vỏ đen

hay nâu sậm với các đường nứt ngang vòng qua thân, gỗ màu đỏ, có đường tủy, rễ

phụ hình chơm nơm cao tới 3 m. Lá hình bầu dục dài 15 cm, rộng 6 cm, đầu nhọn, gân

chính và cuống màu đỏ dài từ 1,5 – 3 cm, lá bẹ màu hồng hay hơi đỏ dài từ 4 – 8 cm.

Hoa tự hình tán hay hoa trên cuống dài 0,5 – 1 cm, mọc từ nách lá, hoa

không cuống, rộng từ 3 – 4 mm, xuất phát từ các búp hình nỗn dài từ 15 – 20 cm.



47



Lá nhỏ cong lên đầy thịt, có kẻ hở hình rặng bao vòng phần dưới của hoa,

đài hoa có 4 thành cong vào trong, nhọn và dài từ 10 – 14 mm, rộng từ 6 – 8 mm.

Cánh hoa nhọn, mỏng, khơng có lơng, xoay quanh một nhụy có diện dài từ 8 – 11

mm, nhụy có 12 cái, 4 ở ngồi đài hoa khơng cuống nhọn đài từ 6 – 7,5 mm, bầu

noãn bán hạ phần trên cao hơn mặt đĩa 1,5 – 2,5 mm vòi nhụy dài từ 0,5 – 1 mm

đầu chóp có một mũi tà màu hồng khi trái chín. Cây ra hoa vào tháng 3 – 4, trái

chín vào tháng 8 – 11.

2.3.3. Đặc tính sinh thái

Đước đơi là lồi cây thích hợp với vùng khí hậu nhiệt đới, thích nghi với

những vùng đất ngập mặn mới được bồi tụ ven biển và các của sơng, nơi có thủy

triều lên xuống hàng ngày. Là loài cây ưa sáng mọc nhanh, là một trong những lồi

cây tiên phong, nhưng sau đó bền vững và ổn định về cấu trúc. Đước sinh trưởng

tốt trên đất bùn và sét mềm, có độ pH từ 4 – 8, khơng phát triển trên đất bí chặt,

úng nước lâu ngày. Đước tái sinh hạt rất mạnh, ít tái sinh chồi và có đặc điểm cây

con nảy mầm trước khi hạt rơi xuống đất (hiện tượng “thai sinh”).

2.3.4. Công dụng và ý nghĩa kinh tế

Gỗ Đước đôi màu lợt, dễ chế biến khi còn tươi, để lâu trở nên đẫm, khó cưa

xẻ. Đước khơng chịu được sự thay đổi bất thường của nhiệt độ, dễ bị mối mọt phá

hại, bền khi ở trong khô. Cây tốt, thân thẳng dùng làm gỗ xây dựng, cây cong làm

củi và chất đốt hoặc hầm than là rất tốt. Cây có đường kính lớn dùng để xẻ làm ván

và đồ mộc gia dụng. Lượng Tanin chiếm khoảng 30% trong vỏ cây Đước đôi, tỷ lệ

này tăng khi cây già, được sử dụng trong ngành thuộc da, nhuộm chài lưới trong

ngành đánh bắt thủy hải sản.

Than Đước đơi có nhiệt lượng cao, do đó hiện nay rất được ưa chuộng. Hiện

nay mặt hàng than của rừng Đước đơi rất có giá trị và đang được xuất khẩu đi các

nước khu vực châu Á như: Hàn Quốc, Nhật Bản… là nguồn thu nhập đáng kể của

những hộ dân nhận đất nhận rừng tại khu vực.

2.4. Đặc điểm khu vực nghiên cứu



48



2.4.1. Vị trí địa lý

Rừng ngập mặn Cần Giờ được tổ chức MAB/UNESCO công nhận là “Khu Dự

trữ Sinh quyển Rừng ngập mặn Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh” vào ngày 21

tháng 01 năm 2000. Đây là Khu Dự trữ Sinh quyển rừng ngập mặn được phục hồi

sau chiến tranh hóa học đầu tiên trên thế giới, đồng thời cũng là Khu Dự trữ Sinh

quyển đầu tiên của Việt Nam.

Khu Dự trữ Sinh quyển Rừng ngập mặn Cần Giờ với tổng diện tích 75.740

ha, có vị trí địa lý: Vĩ độ Bắc 10022’14’’- 10040’09’’, Kinh độ Đơng 106046’12’’107000’50’’. Nằm hồn tồn trong địa bàn huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh.

Tổng diện tích tự nhiên của tồn huyện chiếm 1/3 tổng diện tích tồn Thành phố,

được bao bọc trong vùng các cửa sơng: Lòng Tàu, Cái Mép, Gò Giai (phía Đơng

bắc), sơng Sồi Rạp, Đồng Tranh (phía Tây Nam); có đường bờ biển dài khoảng 23

km chạy chệch theo hướng Tây Nam - Đơng Bắc. Tồn huyện gồm 01 thị trấn Cần

Thạnh và 06 xã: Bình Khánh, Tam Thơn Hiệp, An Thới Đơng Long Hòa, Lý Nhơn và

Thạnh An.

2.4.2. Địa hình, địa mạo

Địa hình tương đối bằng phẳng, có xu hướng tạo thành hình lòng chảo ở khu

vực trung tâm, độ cao chênh lệch không lớn từ 0 - 2m (Trừ khu vực Giồng Chùa có

độ cao lớn nhất là 10,10m - là phần chóp đỉnh núi đá).

2.4.3. Khí hậu, thủy văn

Cần Giờ có khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo với hai mùa rõ rệt: mùa

mưa bắt đầu khoảng tháng 5 đến tháng 10 với hướng gió chính là Tây – Nam. Mùa

khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau với hướng gió chính là Đơng – Nam. Nhiệt độ

cao và ổn định, số giờ nắng và bức xạ phong phú, độ ẩm cao nhất thành phố nhưng

lượng mưa lại thấp. Nhiệt độ trung bình: 25,80 C.

Cần Giờ ảnh hưởng bởi chế độ bán nhật triều, mỗi ngày xuất hiện 2 lần nước

lớn và 2 lần nước ròng. Theo âm lịch thì hàng tháng có 2 kỳ triều cường và 2 kỳ triều

kém. Biên độ trong thời kỳ triều cường từ 3 - 4 mét, trong kỳ triều kém từ 1,5 - 2 mét.



49



2.4.4. Thổ nhưỡng

Theo các kết quả của các chương trình điều tra thổ nhưỡng, huyện Cần Giờ

có 07 nhóm đất chính: Đất cát biển (Arenosols), Đất phù sa (Fluvisols), Đất phèn

(Thionic Fluvisols), Đất mặn phèn (Thioni- Salic Fluvisols), Đất than bùn (Histosols),

Đất bãi bồi (Regosols) và Đá gốc (Leptpsols). Trong đó, đất mặn phèn chiếm ưu thế

với hơn 62% tổng diện tích tự nhiên của huyện [Trích dẫn từ nguồn số liệu trong

Báo cáo quy hoạch sử dụng đất giai đoạn từ năm 2015 -2020 của Phòng Tài ngun

Mơi trường huyện Cần Giờ].

2.4.5. Tài nguyên rừng thực vật

Hiện nay, huyện Cần Giờ có tổng diện tích rừng phòng hộ là 34.672,79 ha,

trong đó diện tích có rừng là 32.451,02 ha và diện tích đất khác là 2.221,77 ha

(theo Quyết định số 3901/QĐ-UBND ngày 20/7/2017 của Ủy ban nhân dân Thành

phố về việc công bố hiện trạng rừng thành phố Hồ Chí Minh năm 2016.

Thực vật có 159 lồi (Viên Ngọc Nam và Nguyễn Sơn Thụy, 1993), bao gồm:

+ Loài cây ngập mặn thật sự: 36 loài thuộc 15 họ.

+ Loài gia nhập rừng ngập mặn: 33 loài thuộc 19 họ.

+ Loài cây trên đất cao: 90 loài thuộc 42 họ.

Những loài cây đã được trồng ở đây là: Đước đôi (Rhizophora apiculata),

Trang (Kandelia candel), Dà vôi (Ceriops tagal), Dà quánh (Ceriops zippeliana), Gõ

biển (Intsia bijuga), Tra (Thespesia populnea), Đưng (Rhizophora mucronata), Vẹt

đen (Bruguiera sexangula), Keo lá tràm (Acacia auriculiformis), Phi lao (Casuarina

equisetifolia)… Trong đó 2 lồi được trồng nhiều nhất là Đước đơi và Dà vôi.

Các quần xã thực vật tự nhiên đặc trưng:

- Quần xã Mấm trắng (Avicennia alba), Bần trắng (Sonneratia alba).

- Quần xã Bần chua (Sonneratia caselaris), Mấm trắng (Avicennia alba).

- Quần xã Dà quánh (Ceriops zippeliana), Cóc trắng (Lumnitzera racemosa),

Giá (Excoecaria agallocha), Lức (Pluchea indica).

- Quần xã Ráng (Acrostichum aureum), Chà là (Phoenix paludosa), Tâm mộc



50



nam (Cordia cochinchinensis), Lức (Pluchea indica).

2.4.6. Dân sinh kinh tế - xã hội

Dân số

Theo kết quả điều tra dân số năm 2014 thì dân số ở Huyện Cần Giờ có

khoảng 73.997 người. Là một huyện ngoại thành có mật độ dân số thấp nhất thành

phố (khoảng hơn 100 người/km2). Dân cư chủ yếu sinh sống tập trung ở những

vùng đất cao (các giồng cát, bờ sông…), các trục lộ giao thông - thủy bộ và các

trung tâm hành chính xã - huyện. Ngồi ra, còn có rất nhiều người từ các địa

phương khác đến sinh sống trong rừng phòng hộ. Theo số liệu thống kê của Ban

Quản lý rừng phòng hộ Cần Giờ năm 2017 thì hiện nay có khoảng 778 hộ với hơn

3.200 nhân khẩu đang sinh sống và sản xuất trong rừng phòng hộ.

Kinh tế, xã hội

Nền kinh tế chủ yếu là nông, ngư nghiệp (làm ruộng, khai thác, nuôi trồng

thủy sản), lâm nghiệp (trồng và bảo vệ rừng), diêm nghiệp (làm muối).

Nông nghiệp chủ yếu là trồng lúa vụ mùa nhờ nước mưa (khoảng 5.000 ha),

năng suất thấp (2-3 tấn/ha); cây ăn trái chỉ phát triển ở một số xã Long Hoà, Cần

Thạnh với các loại trái cây chủ yếu là: xoài, mãng cầu (na), táo, nhãn… nhưng năng

suất không cao.

Tại Cần Giờ muối được sản xuất theo công nghệ cũ chủ yếu sử dụng lao

động chân tay và sức người là chính dẫn đến chất lượng muối khơng cao và giá cả

không ổn định cho nên việc mở rộng sản xuất khó thực hiện.

Ngành khai thác thủy sản chủ yếu là các khu vực ven bờ, số tàu lớn đánh bắt

xa bờ còn q ít nên sản lượng thu được khơng cao. Một số lượng lớn gia đình khai

thác tơm, cá…. ở các bãi triều, kênh rạch, các đầm đập trong rừng phòng hộ. Tuy

nhiên do mơi trường bị ơ nhiễm và đánh bắt lạm sát, hủy diệt (như cào, te bằng

xung điện…) cho nên sản lượng ngày càng suy giảm.

Lâm nghiệp chủ yếu là trồng rừng và bảo vệ rừng, tuy nhiên đến nay công tác

trồng rừng chủ yếu là trồng dặm hoặc trồng xen trong diện tích nhỏ cho nên một số



51



người dân chuyển sang làm nghề khác hoặc sống bằng tiền giữ rừng và bắt cua, ốc...

Thương mại - dịch vụ, du lịch phát triển chậm so với các quận huyện khác

trong thành phố. Hiện nay, tuyến đường Bình Khánh – Long Hòa đã được trải nhựa,

tạo điều kiện đi lại thuận tiện giữa thành phố và huyện nên đã góp phần thúc đẩy

ngành du lịch dần dần phát triển.

Cơ sở hạ tầng: điện lưới quốc gia đã về các xã; hệ thống đường liên xã đã

được xây dựng và nhựa hóa tồn bộ. Cho đến năm 2011, hệ thống nước sạch đã

được đưa đến 2 xã và 1 thị trấn. Các xã còn lại có hệ thống cung cấp nước của Cơng

ty Dịch vụ Cơng ích cung cấp.

Đời sống vật chất của nhân dân tuy đã được cải thiện, nhưng số đơng gia

đình làm nghề nơng–ngư …do hiệu quả kinh tế thấp nên mức sống còn gặp nhiều

khó khăn.

Về văn hóa giáo dục: Huyện có 3 trường phổ thơng trung học, các xã đều có

trường tiểu học và phổ thông cơ sở. Tuy nhiên do mật độ dân số thấp và cuộc sống

khó khăn cho nên một số con em không được đến trường hoặc phải bỏ học, nên

trình độ dân trí còn thấp.

Nhìn chung, tuy là một huyện ngoại thành của một thành phố lớn nhưng do

điều kiện địa lý cách trở và một số nguyên nhân khách quan khác, nên cho đến nay,

Cần Giờ vẫn là một vùng kém phát triển, đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân

còn thấp. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc khai thác bất

hợp lý các nguồn lợi thiên nhiên, trong đó có tài nguyên rừng ngập mặn Cần Giờ.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

c) Phương pháp phân tích xử lý số liệu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×