Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 1.1: Một số phương trình được sử dụng để tính sinh khối cây rừng ngập mặn

Bảng 1.1: Một số phương trình được sử dụng để tính sinh khối cây rừng ngập mặn

Tải bản đầy đủ - 0trang

18



Lồi

Rhizophora

apiculata,

Rhizophora

mucronata

Sonneratia

alba

Xylocarpus

granatum

Ceriops tagal

Bruguiera

parvilora



Phương trình

AGBwood = Vwood x p x 1000

Vwood = 0,000069 x DBH2,64

BGB = 0,00698 x DBH2,61



Tác giả

Kauffman và Cole (2010)

Ong và ctv (2004)



AGBwood = Vwood x p x 1000

Vwood = 0,000381 x DBH2,10



Komiyama và ctv (2005)



BGB = 0,199 x p0,899 x DBH2,22

TAGB = 0,0823 x DBH2,59

BGB = 0,145 x DBH2,55

TAGB = 0,1884 x DBH2,33



Clough và Scot (1989)



TAGB = 0,1679 x DBH2,41



Trong đó: TAGB là Tổng sinh khối trên mặt đất, BGB là Sinh khối dưới mặt

đất, AGBwood: Sinh khối thân gỗ, Vwood: Thể tích thân gỗ, p là tỷ trọng gỗ, DBH là

đường kính ngang ngực tại vị trí 1,3 m.

1.2. Trong nước

1.2.1. Nghiên cứu về sinh khối

Nghiên cứu sinh khối rừng ở Việt Nam được rất nhiều nhà khoa học quan tâm

không những ở rừng mưa nhiệt đới mà còn ở rừng ngập mặn. Tuy nhiên, các cơng

trình thường tập trung nghiên cứu sinh khối trên mặt đất mà ít nghiên cứu sinh khối

dưới mặt đất do hạn chế về kinh phí. Một số nghiên cứu điển về sinh khối đã thực

hiện ở trong nước như sau:

Vũ Văn Thông (1998) [27] nghiên cứu cơ sở xác định sinh khối cây cá thể và lâm

phần Keo lá tràm (Acacia auriculformis Cunn) tại tỉnh Thái Nguyên. Tác giả đã lập 40 ơ

tiêu chuẩn, diện tích mỗi ơ là 500 m 2, đo đếm các chỉ tiêu D1,3, Hvn và DT. Trên mỗi ô

chặt 3 cây tiêu chuẩn đại diện 3 cấp kính có số cây bằng để cân sinh khối thân, cành lá.

Riêng bộ phận thân chia làm 5 đoạn có chiều dài tương đối bằng nhau. Số liệu được

tổng hợp và phân tích để xây dựng một số mơ hình dự đốn sinh khối cây cá thể bằng



19



phương pháp sử dụng cây tiêu chuẩn. Qua kết quả nghiên cứu, tác giả đã thiết lập

được một số mơ hình dự đoán sinh khối cây cá lẻ bằng phương pháp sử dụng cây

mẫu. Tác giả cũng đã đưa ra dạng hàm W = a + b x DBH và lnW = a + b x ln(DBH) để

mô tả mối quan hệ giữa sinh khối các bộ phận với chỉ tiêu sinh trưởng đường kính,

trong đó: W là sinh khối, DBH là đường kính ngang ngực tại vị trí 1,3 m. Tuy nhiên,

đề tài này cũng mới dừng lại ở việc nghiên cứu sinh khối các bộ phận trên mặt đất,

chưa tiến hành nghiên cứu sinh khối rễ và lượng vật rơi.

Lê Minh Lộc (2005) [14], xây dựng phương pháp đánh giá nhanh sinh khối và

ảnh hưởng của độ sâu ngập lên sinh khối rừng Tràm (Melaleuca cajuputi) trên đất

than bùn và đất phèn khu vực U Minh Hạ tỉnh Cà Mau. Để tính sinh khối rừng, tác

giả đã bố trí 1 ô mẫu với diện tích 100 m 2 cho các lâm phần Tràm ở tuổi 5, 8 và 11

trên 2 dạng lập địa nêu trên. Sau khi đo đếm và tính các yếu tố sinh trưởng về

đường kính và chiều cao trong ô đo đếm, tác giả đã chặt chọn 56 cây tiêu chuẩn

trên đất phèn và 45 cây trên đất than bùn để cân khối lượng các bộ phận thân cây

(tính sinh khối tươi) và lấy mẫu, mỗi loại 1 kg đem sấy khơ (tính sinh khối khơ).

Ngồi ra, tác giả còn chọn trên mỗi loại đất là 10 – 15 cây Tràm có cùng cấp kính để

dùng vào việc kiểm tra độ chính xác của biểu sinh khối. Dạng phương trình Y = a*Xb

(trong đó Y: sinh khối; X: đường kính thân cây tại vị trí 1,3 m) được tác giả sử dụng

để lập bảng tra sinh khối tươi và khô của cây cá thể.

Nguyễn Thị Hà (2007) [7] đã nghiên cứu sinh khối làm cơ sở xác định khả

năng hấp thụ CO2 của rừng Keo lai (Acacia auriculiformis) trồng tại Quận 9, thành

phố Hồ Chí Minh. Tác giả đã thu thập số liệu trên 21 ô tiêu chuẩn đo đếm một lần,

diện tích ơ là 500 m2 (20 m x 25 m), chặt hạ 36 cây tiêu chuẩn đo tính sinh khối tươi

cây cá thể. Đối với lượng vật rụng trên sàn rừng, trong mỗi ô tiêu chuẩn lập 5 ơ

dạng bản diện tích 1 m2 (1 m x 1 m), thu gom và cân toàn bộ vật rụng, tính lượng

vật rụng trung bình trên 1 m 2. Các mẫu vật được mang về phòng thí nghiệm phân

tích để tính sinh khối khơ và lượng tích lũy các bon.

Trương Văn Vinh (2008) [30] đã nghiên cứu đánh giá sinh khối và năng suất



20



sơ cấp của rừng Neem (Azadiracha indica A.JUSS) trồng tại huyện Ninh Phước, tỉnh

Ninh Thuận. Tác giả đã lập các ơ tiêu chuẩn có diện tích 500 m 2 và tiến hành đo

đếm các chỉ tiêu sinh trưởng như: Hvn, D1,3, Dtán. Số liệu thu thập về đường kính

được chia thành 10 cấp (biên độ giữa hai cấp là 2 cm). Ở mỗi cấp kính chọn 2 - 3

cây tiêu chuẩn để giải tích, đo đếm khối lượng tươi của các bộ phận cây. Sau đó,

thu mẫu của từng bộ phận đem về phòng thí nghiệm tiến hành sấy khối để tính

lượng sinh khối khơ của các bộ phận cây rừng.

Vũ Tấn Phương (2011) [23] xây dựng mơ hình tính tốn sinh khối cây cá thể

Thơng ba lá ở huyện Hồng Su Phì, tỉnh Hà Giang. Nghiên cứu được tiến hành trên

các loại rừng trồng Thông ba lá tuổi 5; 12; 17 và 26. Việc thu thập và phân tích số

liệu được thực hiện theo phương pháp giải tích cây tiêu chuẩn ban hành bởi Ủy

ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC, 2003) theo các nội dung: (1) Xác lập ô

tiêu chuẩn và lựa chọn cây mẫu giải tích; (2) Đo đếm sinh khối tươi cây mẫu; (3)

Sấy khơ mẫu phân tích để tính lượng sinh khối khơ của các bộ phận cây rừng; (4)

Xác định các hệ số chuyển đổi sinh khối và xây dựng các mơ hình tương quan giữa

sinh khối với đường kính ngang ngực. Qua kết kết nghiên cứu, tác giả đã xác định

trữ lượng các bon của thảm tươi và cây bụi như sau: Lau lách có trữ lượng các bon

cao nhất 20 tấn/ha, cây bụi 2 - 3 m khoảng 14 tấn/ha. Cỏ chỉ, cỏ lông lợn có lượng

các bon thấp nhất khoảng 3,9 tấn/ha.

Lê Tấn Lợi và ctv (2017) [15] đã xây dựng phương trình tính sinh khối trên

cây Keo lai ở các cấp tuổi 4, 5 và 6 tại khu vực U Minh Hạ, tỉnh Cà Mau. Nghiên

cứu được thực hiện ở Trạm thực nghiệm Kênh Đứng thuộc Trung tâm Nghiên

cứu thực nghiệm Lâm nghiệp Tây Nam Bộ, xã Trần Hợi, huyện Trần Văn Thơi,

tỉnh Cà Mau. Tác giả đã chọn 03 ô tiêu chuẩn tương ứng với 3 cấp tuổi, mỗi ơ có

diện tích 500 m 2 (20 m x 25 m). Trong mỗi ơ đo đường kính ngang ngực của tất

cả các cây. Sau đó phân ra 5 cấp kính, từ mỗi cấp kính chọn ra 02 cây để chặt hạ.

Tổng số cây chặt hạ là 30 cây. Xác định sinh khối tươi ngồi thực địa và phân tích

các mẫu bằng phương pháp sấy khơ ở 75 oC trong phòng thí nghiệm đến khi khối



21



lượng không đổi để xác định sinh khối khơ. Lượng tích lũy các bon được tính

theo cơng thức: Lượng các bon cây = Sinh khối khô x 0,47 (IPCC, 2016).

Ngoài ra, các nghiên cứu về sinh khối rừng ngập mặn trong thời gian qua

được rất nhiều các tác giả quan tâm thực hiện. Điển hình như:

Viên Ngọc Nam (1996) [18] đã nghiên cứu sinh khối và năng suất sơ cấp

rừng Đước (Rhizophora apiculata) trồng ở Cần Giờ. Phương pháp nghiên cứu sử

dụng trong đề tài là phương pháp ô định vị và phương pháp nghiên cứu năng suất

sinh khối rừng ngập mặn kết hợp với việc xử lý, phân tích mẫu trong phòng thí

nghiệm. Ơ theo dõi có diện tích 400 m 2 (20 m x 20 m), trong ô theo dõi đo chu vi

các cây ở vị trí 1,3 m, chiều cao được xác định qua cây giải tích. Qua kết quả nghiên

cứu, tác giả đã rút ra kết luận sinh khối rừng Đước từ 16,90 – 143,71 tấn/ha; lượng

tăng trưởng sinh khối từ 5,93 – 12,44 tấn/ha/năm. Phương trình tương quan giữa

sinh khối cây rừng và chu vi thân cây có dạng phương trình: ABG = a x GBHb. Trong

đó ABG: sinh khối; GBH: chu vi thân cây tại vị trí 1,3 m; a, b: tham số của phương

trình.

Viên Ngọc Nam (2003) [19] đã nghiên cứu sinh khối và năng suất sơ cấp quần

thể Mấm trắng (Avicennia alba BL.) tự nhiên tại huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí

Minh. Tác giả đã bố trí 4 tuyến điều tra theo hướng từ ngồi sơng vào sâu trong đất

liền. Mỗi tuyến bố trí 5 ơ tiêu chuẩn có diện tích 100 m 2 (10 m x 10 m), mỗi ơ tiêu

chuẩn chia thành 4 ơ có diện tích 25 m2 (5 m x 5 m) và đo tất cả các cây có đường

kính tại vị trí 1,3 m có D1,3 > 3 cm trong ơ. Đề tài đã chặt 28 cây có D 1,3 từ nhỏ đến lớn

phân bố đều ở các cấp kính. Cân khối lượng tươi theo các bộ phận (thân, cành, lá, rễ

trên mặt đất). Qua số liệu phân tích, tác giải cũng đã mơ tả mối tương quan giữa

sinh khối của các bộ phận cây rừng với đường kính D 1,3 bằng dạng phương trình

logW = a + b x log(D1,3 ), trong đó W: sinh khối; a và b: là tham số của phương trình.

Võ Thị Bích Liễu (2007) [13] đã nghiên cứu sinh khối quần thể Dà vôi

(Ceriops tagal C. B. Rob) trồng tại Khu Dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ.

Đề tài đã tiến hành lập 43 ô đo đếm (ô tiêu chuẩn đại diện cho từng cấp tuổi rừng)



22



với diện tích 100 m2 (10 m x 10 m) tại các lô rừng được xem như trong cùng một

điều kiện lập địa. Trong ô, đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng: Đường kính tại vị trí 1,3

m; đường kính tán cây; chiều cao vút ngọn; chiều cao dưới cành. Đồng thời, chặt

hạ 37 cây để giải tích thân cây, cân khối lượng tươi và thu mẫu đem về phòng thí

nghiệm xác định khối lượng khơ. Tác giả đã sử dụng dạng phương trình logW = a +

b*log D1,3 để lập bảng tra sinh khối cây cá thể tươi và khơ.

Nguyễn Hồng Anh (2011) [1], đã xây dựng mơ hình dự báo diễn biến rừng

ngập mặn Cần Giờ dưới tác động của yếu tố môi trường”, tác giả mô phỏng diễn

biến rừng ngập mặn do ảnh hưởng của nước biển dâng trong kịch bản biến đổi khí

hậu. Đối với kịch bản mực nước biển dâng cao 65 cm, sinh khối của tất cả các loài

giảm sau 131 năm. Tuy nhiên, sinh khối của cây Mấm vẫn khá ổn định trong giai

đoạn 2080 đến năm 2100. Thành phần loài cây Mấm tăng trong khi các lồi khác có

xu hướng giảm. Đối với kịch bản mực nước biển dâng 100 cm, sinh khối và thành

phần của cả hai loài Mấm và Đước giảm mạnh trong một thời gian từ năm 2045 đến

2070, sau đó duy trì khá ổn định trong những năm cuối. Trong kịch bản này, loài

Đước thể hiện khả năng sống sót cao hơn cây Mấm trong điều kiện biến động khắc

nghiệt của môi trường.

Nguyễn Thị Hà (2016) [8] đã xác định giá trị sinh khối và tích lũy các bon của

rừng Đước đôi (Rhizophora apiculata Blume) trên các cấp tuổi và các cấp kính khác

nhau tại tỉnh Cà Mau. Phương pháp sử dụng điều tra ô tiêu chuẩn điển hình với số

lượng 56 ơ tiêu chuẩn có kích thước 50 m x 50 m, trong ô tiêu chuẩn lập 5 ơ điều

tra với diện tích 100 m2 (10 m x 10 m) và chặt hạ 63 cây tiêu chuẩn theo các cấp

tuổi, cấp kính khác nhau để sử dụng đo đếm sinh khối tươi. Phân tích sinh khối khơ

được thực hiện theo phương pháp tủ sấy ở nhiệt độ 105 0C và phân tích lượng các

bon trong sinh khối bằng máy TOC/TN HT 1300. Kết quả nghiên cứu của đề tài ghi

nhận sinh khối của cây cá thể và rừng Đước trồng tại Cà Mau ở các cỡ kính và cấp tuổi

khác nhau có sự khác biệt đáng kể. Tổng sinh khối của tồn lâm phần có sự biến động

mạnh giữa các cấp kính và cấp tuổi. Tổng sinh khối của quần thể trung bình đạt 191,1



23



tấn/ha.

1.2.2. Nghiên cứu về trữ lượng các bon

Vũ Tấn Phương (2006) [22] đã nghiên cứu trữ lượng các bon thảm tươi và

cây bụi tại các vùng đất khơng có rừng ở các huyện Cao Phong và Đơng Bắc tỉnh

Hòa Bình và huyện Hà Trung, Thạch Thành và Ngọc Lạc tỉnh Thanh Hóa. Đối tượng

nghiên cứu là các lồi cỏ chỉ, cỏ lơng lợn, cỏ lá tre, lau lách và tế guột; cây bụi gồm

cây cao dưới 2m và cây cao 2 – 3m. Đây là những dạng thảm tươi và cây bụi phân

bố phổ biến trên đất khơng có rừng (trạng thái Ia và Ib) ở Việt Nam. Lượng các bon

trong sinh khối thảm tươi được xác định thông qua việc áp dụng hệ số mặc định

0,5 được thừa nhận bởi Ủy ban liên Chính phủ bề Biến đổi khí hậu (IPCC, 2003),

tức là lượng các bon được tính bằng cách nhân lượng sinh khối khô với 0,5. Lượng

các bon của cây bụi thảm tươi nghiên cứu chính là tổng lượng các bon của các bộ

phận: lá, cành, thân, rễ, cỏ và thảm mục.

Lê Xuân Trường và ctv (2015) [29] tiến hành xác định lượng các bon trong

các bộ phận cây Luồng (Dendrocalamus barbatus) tại Lâm trường Lương Sơn,

Cơng ty Lâm nghiệp Hòa Bình. Tác giả đã lập 03 ơ tiêu chuẩn trên 03 địa hình khác

nhau với diện tích mỗi ơ là 1.000 m 2 (25 m x 40 m). Lấy mẫu sinh khối các bộ phận

cây Luồng: Cây được chọn là cây có đường kính ngang ngực và chiều cao có chỉ số

gần nhất với đường kính, chiều cao bình qn của mỗi tuổi rừng (1; 2; 3 và từ 4

trở lên). Tổng số cây được chọn là 12 cây. Sinh khối rễ được tính qua ơ 04 dạng

bản có kích thước là 0,5 m x 0,5 m, bố trí trên đường thẳng xun tâm theo

hướng vng góc và song song với đường đồng mức của bụi trung bình, cách tâm

bụi 2m, đào sâu 30 cm, mẫu thu được làm sạch, xác định sinh khối tươi và lấy mẫu

tính sinh khối khơ. Các mẫu sinh khối khơ được phân tích trong phòng thí nghiệm

Đất và Mơi trường – Viện nghiên cứu Sinh thái thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp

Việt Nam.

Nguyễn Hải Hòa và Nguyễn Hữu An (2016)[10], trong nghiên cứu “Ứng

dụng ảnh viễn thám Landsat 8 và GIS xây dựng bản đồ sinh khối và trữ lượng các



24



bon rừng trồng Keo lai (Acacia hybrid) tại huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ”, tác giả

đã bố trí và điều tra 78 ơ mẫu (63 ơ dùng để phân tích và 15 ơ dùng để đánh giá

kết quả) trải đều khắp huyện Yên Lập, đảm bảo mỗi xã có ít nhất 02 ơ tiêu

chuẩn. Ngồi 78 ơ mẫu, nghiên cứu lấy thêm 22 điểm điều tra ngồi thực địa để

đánh giá độ chính xác của phương pháp phân loại ảnh. Việc định lượng các bon

tích lũy trong sinh khối cây được tính theo mơ hình phát triển bởi Syazni Adam

và Ismail Jusoh (2015): AGB = 0,175 x (DBH) 2,35. Sử dụng phương trình tính sinh

khối khô (bao gồm sinh khối trên mặt đất và dưới mặt đất) cho từng cây riêng lẻ

của Võ Đại Hải (2008) để so sánh: B = 0,225 x (DBH) 2,244 . Sử dụng hệ số ước

lượng các bon là 0,47 (McGroddy và ctv, 2014) để tính tốn trữ lượng các bon.

Việc xây dựng bản đồ sinh khối và các bon rừng áp dụng hai thuật toán nội suy

mạnh mẽ của ArcGIS là IDW và Kriging để ước tính giá trị chưa biết từ giá trị đã

biết.

Tương tự như các cơng trình nghiên cứu về năng suất và sinh khối rừng

ngập mặn ở Việt Nam. Việc nghiên cứu trữ lượng các bon chỉ mới được quan thực

hiện trong những năm gần đây. Sau đây là một số nghiên cứu điển hình liên quan:

Lê Tấn Lợi và Lý Hằng Ni (2014) [15] đã nghiên cứu sự tích lũy các bon trong

đất tại rừng ngập mặn Cồn Ông Trang, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau. Việc đo sinh

khối và tích lũy các bon thực hiện theo diễn thế rừng tương ứng của 3 loài cây là

Vẹt tách (Bruguiera parviflora) chiếm ưu thế ở đầu cồn có địa hình cao nhất, lồi

Đước đơi (Rhizophora apiculata) ở giữa cồn có địa hình trung bình và lồi Mấm

trắng (Avicennia alba) ở cuối cồn có địa hình thấp nhất. Trên mỗi địa hình lập ơ tiêu

chuẩn hình tròn có đường kính 24 m (CIFOR, 2012) và được lập lại 3 lần theo lát cắt

thẳng hướng từ bờ sông vào trong, mỗi ô tiêu chuẩn cách nhau 50 m tính từ tâm ơ.

Trong mỗi ơ tiêu chuẩn đo đường kính thân cây tại vị trí 1,3 m để tính tốn sinh

khối và các bon rễ cây. Sử dụng khoan để thu mẫu đất tại tâm ô ở các độ sâu 0 – 15

cm, 15 – 30 cm, 30 – 50 cm, 50 – 70 cm, 70 – 100 cm, 100 – 120 cm để tính lượng

các bon tích lũy trong đất. Mẫu đất sau khi thu về để khơ tự nhiên ở nhiệt độ



25



phòng rồi đem sấy khô ở nhiệt độ 105oC trong thời gian 24 giờ. Tiếp sau, mẫu đất

được nghiền và sàn qua rây rồi đốt ở nhiệt độ 550 oC trong 2 giờ, đốt xong để vào

bình hút ẩm 30 phút cho nguội rồi cân mẫu. Lượng các bon trong đất được tính

theo cơng thức của Kauffman và Donato (2012): C(tấn/ha) = Dung trọng đất

(g/cm3) x Độ sâu tầng đất (cm) x %C. Các bon rễ tính theo cơng thức của

Komiyama, Ong và Poungparn (2008): C (Mg/ha) = 0,39 x (Sinh khối rễ/1.000)/(3,14

x R2)/10.000), với R là bán kính ơ tiêu chuẩn thu mẫu. Qua kết quả nghiên cứu, tác

giả đã kết luận lượng tích lũy các bon rễ tại địa hình trung bình Đước đôi chiếm ưu

thế cao nhất với 38,14 tấn C/ha, tiếp theo là địa hình cao có lồi Vẹt tách là 30,21

tấn C/ha, thấp nhất là địa hình thấp với lồi Mấm trắng có lượng tích lũy các bon là

21,17 tấn C/ha. Tích lũy các bon giữa các tầng đất khác biệt có ý nghĩa thống kê,

tăng dần khi càng xuống sâu, tích lũy các bon cao đất cao nhất tại tầng 70 – 100

cm, sau đó giảm dần. Tích lũy các bon đất cao nhất ở địa hình thấp (Mấm trắng)

với giá trị 304,7 tấnC/ha, tiếp theo là địa hình cao (Vẹt tách) với 303,88 tấn C/ha và

thấp nhất tại địa hình trung bình (Đước đơi) là 292,55 tấn C/ha.

Nguyễn Thị Hồng Hạnh và ctv (2014) [9] đã nghiên cứu định lượng các bon

tích lũy trong một số rừng ngập mặn trồng ở vùng ven biển Đồng bằng Bắc bộ. Đối

với rừng trồng Trang (Kandelia obovata) thuần loài và Bần chua (Sonneratia

caseolaris) thuần loài, mỗi tuổi rừng thiết lập 3 ơ tiêu chuẩn, mỗi ơ có kích thước

100 m2 (10 m x 10 m), các ô cách nhau 100 m. Đo đếm cây trong ô tiêu chuẩn. Đối

với rừng trồng hỗn giao hai loài trang (Kandelia obovata) và Bần chua (Sonneratia

caseolaris), mỗi tuổi rừng thiết lập 3 ô tiêu chuẩn sơ cấp có diện tích 625 m 2 (25 m

x 25 m) trong 1 ô sơ cấp lập 3 ơ thứ cấp có diện tích 100 m 2. Đo đếm số cây của

từng lồi trong ơ thứ cấp. Chặt hạ cây tiêu chuẩn để xác định lượng các bon (với

lồi Bần chua chặt 01 cây có kích thước trung bình trong mỗi ơ tiêu chuẩn, với lồi

Trang chặt 03 cây có cây kích thước trung bình trong mỗi ơ tiêu chuẩn). Lấy mẫu

(thân, cành, lá, rễ) 6 tháng một đợt, tổng số đợt lấy là 02 lần. Xử lý mẫu: Mỗi bộ

phận lấy 100 g mẫu tươi, sấy khô ở 105 oC đối với thân, cành và 85oC đối với các bộ



26



phận khác đến khi khối lượng không đổi. Việc xác định lượng các bon hữu cơ (%C)

trong cây theo phương pháp Chiurin. Qua nghiên cứu, tác giả đã kết luận: Đối với

rừng trồng thuần loài Trang (Kandelia obovata) lượng các bon tích lũy trong sinh

khối cao nhất là rừng 13 tuổi đạt 66,30 tấn C/ha; tiếp đến là rừng 11 tuổi đạt 45,87

tấn C/ha; rừng tuổi 10 đạt 37,13 tấn C/ha. Đối với rừng trồng thuần loài Bần chua

(Sonneratia caseolaris) lượng các bon tích lũy trong sinh khối cao nhất là rừng 13

tuổi đạt 40,16 tấn C/ha; tiếp đến là rừng 11 tuổi đạt 32,18 tấn C/ha; rừng tuổi 10

đạt 30,28 tấn C/ha. Đối với rừng trồng hỗn giao Trang (Kandelia obovata) và Bần

chua (Sonneratia caseolaris), lượng các bon tích lũy trong sinh khối cao nhất là

rừng 13 tuổi đạt 42,28 tấn C/ha; tiếp đến là rừng 10 tuổi đạt 22,36 tấn C/ha; rừng

tuổi 11 đạt 17,04 tấn C/ha. Lượng các bon tích lũy trong rừng phụ thuộc vào loài

cây, độ tuổi và mật độ cây trồng.

Viên Ngọc Nam và ctv (2015) [92] đã nghiên cứu bể các bon của rừng trồng

và rừng tái sinh tự nhiên trong hệ sinh thái rừng ngập mặn tại Đồng Bằng Sông

Cửu Long. Khu vực nghiên cứu thuộc rừng ngập mặn Cần Giờ - thành phố Hồ Chí

Minh và rừng phòng hộ Kiến Vàng – tỉnh Cà Mau. Cơng trình đánh giá sinh khối

trên và dưới mặt đất, vật rụng (thân, cành, nhánh gỗ khô) trên mặt đất và bể các

bon trong đất theo phương pháp của Kauffman và Donato (2012). Thiết lập các

tuyến điều tra theo hướng từ mép sông vào sâu trong đất liền theo dòng nước

thủy triều chảy tràn vào rừng. Toàn bộ bể sinh khối các bon trong mỗi ơ được tính

theo cơng thức: CEplot = Ccây + Cvật rụng + Crễ + Cđất . Trong các phân ơ, đo tất cả các cây

có đường kính ngang ngực > 5 cm trong phạm vi bán kính 7 m, đo tất cả các cây

có đường kính ngang ngực < 5 cm trong phạm vi bán kính 2 m. Định danh lồi và

phân loại lượng sinh khối còn lại theo ba trạng thái: Trạng thái 1 (97,5%), trạng

thái 2 (80%), trạng thái 3 (50%) (Kauffman và Donato, 2012). Việc ước lượng sinh

khối trên mặt đất và dưới mặt đất được tính từ việc đo đường kính ngang ngực

và sử dụng các mơ hình sinh trắc đã được nghiên cứu tại khu vực Tây - Ấn độ Thái

Bình Dương. Việc ước lượng các bon bằng cách nhân lượng sinh khối khô với 0,47



27



đối với sinh khối cây trên mặt đất và 0,39 đối với rễ dưới mặt đất. Đối với việc thu

mẫu rễ cây dưới mặt đất được tiến hành thu ở các tầng độ sâu 5 – 15, 15 – 30, 30

– 50, 50 – 100 và 100 – 300 cm. Tổng số mẫu đất thu được là 537. Tất cả các mẫu

được đem về phòng thí nghiệm để phân tích các bon. Kết quả nghiên cứu đã xác

định tổng trữ lượng của bể các bon trong hệ sinh thái Rừng ngập mặn Cần Giờ thành phố Hồ Chí Minh là 889 ± 111 tấn C/ha và khơng có sự khác biệt về số liệu

thống kê so sánh với trữ lượng bể các bon trong hệ sinh thái rừng tái sinh tự

nhiên tại Rừng Phòng hộ Kiến Vàng (tỉnh Cà Mau).

Xác định giá trị tích lũy các bon của rừng Đước (Rhizophora apiculata

Blume) trên các cấp tuổi và các cấp kính khác nhau tại tỉnh Cà Mau, kết quả nghiên

cứu của Nguyễn Thị Hà (2016) [8] ghi nhận lượng tích lũy các bon của cây cá thể và

rừng Đước ở Cà Mau ở các cỡ kính và cấp tuổi khác nhau có sự khác biệt đáng kể.

Tổng lượng tích lũy các bon của tồn lâm phần có sự biến động mạnh giữa các cấp

kính và cấp tuổi. Tổng lượng các bon tích lũy trong sinh khối rừng trung bình đạt

117,4 tấn C/ha. Giá trị tích lũy các bon phụ thuộc vào sinh trưởng của rừng.

1.2.3. Nghiên cứu xây dựng các mơ hình dự báo về sinh khối và các bon

Thơng qua các kết quả nghiên cứu, phần lớn các tác giả đều xây dựng các

mơ hình dự báo về sinh khối và các bon thơng qua nhân tố đường kính tại vị trí 1,3

m. Riêng tại Rừng ngập mặn Cần Giờ, trong thời gian qua có nhiều đề tài nghiên

cứu về sinh khối và các bon của các loài cây rừng trồng tập trung hoặc loài tự nhiên

chiếm ưu thế trong các quần xã thực vật rừng ngập mặn (thể hiện trong Bảng 1.2).

Với phương pháp chung là lập 40 ô đo đếm với diện tích 200 m 2 (10 m x 20 m) để

tính các đặc trưng lâm học của rừng. Sau đó chọn 40 cây tiêu chuẩn để giải tích,

cân khối lượng tươi và lấy mẫu về phòng thí nghiệm phân tích khối lượng khơ và

tích lũy các bon. Các tác giả đã xây dựng được các phương trình để ước lượng sinh

khối phục vụ trong cơng tác nghiên cứu, định lượng các bon.

Bảng 1.2: Một số phương trình ước lượng sinh khối cây rừng ngập mặn Cần Giờ



28



Lồi



Phương trình



Rừng tự nhiên

Mấm

ln(AGB)= -2,046 + 2,413*ln(GBH)

trắng

Dà qnh ln(Wtk) = -1,570 + 2,407*ln(DBH)

Bần trắng ln(Wtk) = -1,651 + 2,296*ln(DBH)

Chà là

Wtk =(-1,585 + 1,696*sqrt(DBH))2

Dừa lá

Wtk = 0,0677 x L2,0356

Rừng trồng

Đước đôi

ln(Wtk) = -1,069 + 2,296*ln(DBH)

Dà vơi

log(Wtk) = 0,194+ 0,152*log(DBH)

Cóc trắng ln(Wtk) = -1,804 + 2,36*ln(DBH)



Cấp kính



Tác giả, năm



(cm)

2,9 - 29,9



Viên Ngọc Nam, 2003



1,2 – 7,4

4,0 – 32,2

2,5 – 8,2

1,5 - 8,2



Cao Huy Bình, 2009

Bùi Ng. Thế Kiệt, 2016

Vũ Kim Sáng, 2015

Dương Thành Vân, 2015



3,2 – 30,3

1,8 – 12,0



Viên Ngọc Nam, 2009

Võ Thị Bích Liễu, 2007

Phan Văn Trung, 2009



Song song với việc xác định sinh khối của một số loài cây đã nêu trên, các tác

giả đã xây dựng được các phương trình để định lượng tích lũy các bon /hấp thụ

CO2 nhằm làm cơ sở dữ liệu phục vụ cho các dự án REDD+ hay chi trả dịch vụ môi

trường rừng ngập mặn Cần Giờ.

Bảng 1.3: Một số phương trình ước lượng trữ lượng các bon và hấp thụ CO 2



của



các lồi cây rừng ngập mặn Cần Giờ

Cấp kính

(cm)



Tác giả, năm



ln(Ctong) = - 2,280 +2,373*ln(DBH)

ln(Ctong) = -2,579 + 2,337*ln(DBH)

Ctong = -1,7875 + 0,83*DBH

CO2tong = 0,1089 x L2,0301



1,2 – 7,4

4,0 – 32

2,5 – 8,2

1,5 - 8,2



Cao Huy Bình, 2009

Bùi Thế Kiệt, 2016

Vũ Kim Sáng, 2015

Dương Thành Vân, 2015



CO2tong = 0,6171 x DBH2,289

ln(Ctong) = -2,615 + 2,38*ln(DBH)



3,2 - 30,3

1,8 – 12,0



Viên Ngọc Nam, 2014

Phan Văn Trung, 2009



Loài

Rừng tự nhiên

Dà quánh

Bần trắng

Chà là

Dừa lá

Rừng trồng

Đước đơi

Cóc trắng



Phương trình



1.3. Nhận xét, đánh giá về các phương pháp nghiên cứu sinh khối, các bon và định

hướng nghiên cứu của luận án

1.3.1. Phương pháp xác định, điều tra sinh khối cây rừng

Nhiều phương pháp nghiên cứu sinh khối đã được phát triển và xây dựng.

Tuy nhiên việc xác định sinh khối của rừng tập trung phổ biến theo các phương

pháp cụ thể như sau:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 1.1: Một số phương trình được sử dụng để tính sinh khối cây rừng ngập mặn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×