Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 1.2: Sơ đồ thiết kế tuyến điều tra sinh khối, các bon trên và dưới mặt đất

Hình 1.2: Sơ đồ thiết kế tuyến điều tra sinh khối, các bon trên và dưới mặt đất

Tải bản đầy đủ - 0trang

15



Santos và ctv (2017) [84] bước đầu đánh giá trữ lượng các bon tích lũy trong

sinh khối dưới mặt đất trong rừng ngập mặn tại Brazil. Khu vực nghiên cứu ở vịnh

Sepetiba cách trung tâm thành phố Rio de Janero 70 km về phía Đơng Nam. Hiện

trạng rừng với 03 loài cây chủ yếu: Avicennia shaueriana, Languncularia racemosa

và Rhizophora mangle. Sinh khối rễ dưới mặt đất được xác định thông qua 05 hố

đào 1m3 (1 x 1 x 1m). Các vị trí lấy mẫu được thiết lập tại các vị trí gần bìa rừng,

cách nhau 150 – 200 m. Rễ sau khi đào và rửa sạch được phân chia thành các cấp

kính: < 5 mm, 5 – 10 mm, 10 – 20 mm, 20 – 50 mm và > 50 mm (có phân loại rễ

tươi và khơ). Sau đó các mẫu được đem về phòng thí nghiệm phân tích bằng

phương pháp sấy khơ ở 70 oC để tính khối lượng khơ. Việc chuyển đổi sinh khối

sang các bon được tính theo hệ số chuyển đổi của Rodgries và ctv (2014) như sau:

42,6% đối với loài Languncularia racemosa và Avicennia shaueriana, 40% cho

Rhizophora mangle. Bên cạnh đó, để đánh giá đặc điểm cấu trúc rừng, tại các vị trí

lấy mẫu lập ô tiêu chuẩn 100 m2. Trong các ô tiêu chuẩn này, tất cả các loài cao hơn

2 m đều được đo đếm chiều cao và đường kính tại vị trí 1,3 m. Kết quả nghiên cứu

cho thấy tổng trữ lượng bình quân của rễ dưới mặt đất là 104,41 ± 20,73 tấn C/ha.

Phần lớn trữ lượng các bon tập trung ở tầng đất từ 0 – 40 cm (khoảng 70%). Qua

nghiên cứu cũng đã chứng minh sinh khối rễ dưới mặt đất đóng góp hơn 50% trữ

lượng các bon trong rừng ngập mặn. Sinh khối rễ trong rừng ngập mặn có thể lớn

hơn các hệ sinh thái khác ở Brazil.

Valery Noiha Noumi và ctv (2017) [91], xác định cấu trúc thành phần thực

vật, tiềm năng hấp thụ các bon và bảo tồn thực vật trong bốn hệ thống Nông – Lâm

kết hợp ở Cameroon. Bốn hệ thống nông lâm được chọn bao gồm: Quần thụ có

lồi Azadirachta indica (Neem) chiếm ưu thế ở vùng phía cực Bắc, quần thụ

Anacardium occidentale (Điều) ở phía Bắc, quần thụ Eucalyptus spp. (Bạch đàn) ở

vùng Adamawa và quần thụ Ca cao ở phía Đơng Nam Cameroon. Quần thụ được

chọn phân theo 03 cấp: 0 – 10; 10 -20 và ≥ 20 năm. Đối với mỗi hệ thống nông lâm,

chọn 3 điểm (lập lại 03 lần ở mỗi điểm) thiết lập ơ điều tra có kích thước 100 m x



16



50 m. Mỗi khu vực nghiên cứu có có diện tích là 2 ha. Trong ơ điều tra phân chia

thành sáu khối, trong mỗi khối lập các phân ô để điều tra. Tất cả các cây có đường

kính ngang ngực ≥ 2 cm đều được đo đếm trong các phân ơ này.



Hình 1.3: Sơ đồ thiết lập ô điều tra trong nghiên cứu của Valery Noiha Noumi

Từ kết quả đo đường kính ngang ngực, sinh khối trên mặt đất được tính

theo cơng thức của Brown và ctv (1997) cho vùng nhiệt đới khơ hạn ở phía Bắc và

cực Bắc: AGB = Exp[-1,996 + 2,32 x ln(DBH)] với AGB là sinh khối trên mặt đất (kg),

DBH là đường kính ngang ngực (cm) và cơng thức của Chave và ctv (2005) ở vùng

Adamawa và trung tâm: AGB = ρ x exp(-1,499 + 2,148 x ln(DBH) + 0,207 x (ln(DBH)) 2

– 0,0281 x (ln(DBH))3), với ρ là tỷ trọng gỗ của từng loài. Từ sinh khối suy ra lượng

các bon bằng việc nhân với hệ số chuyển đổi 0,47. Sinh khối dưới mặt đất (BGB)

được tính bằng cơng thức: BGB = exp(-1,0587 + 0,8836 x ln (AGB)) xây dựng bởi

Cairn và ctv (1997). Tổng lượng các bon: TB = AGB + BGB (FAO, 2011). Kết quả

nghiên cứu của các tác giả đã xác định được trữ lượng các bon ở quần thụ từ 1 –

10 năm tuổi biến động từ 12,1 ± 0,27 đến 54,65 ± 1,38 tấn C/ha thấp nhất ở rừng

Neem; từ 10 – 20 năm tuổi biến động từ 34,78 ± 0,87 đến 71,34 ± 1,6 tấn C/ha,

thấp nhất ở rừng Điều; trên 20 năm tuổi biến động từ 28,24 ± 0,0,4 đến 108,51 ±

2,46 tấn C/ha, cao nhất ở rừng Bạch đàn.

1.1.3. Nghiên cứu xây dựng các mơ hình dự báo về sinh khối và các bon



17



Trong việc phát triển phương trình sinh khối chung vùng nhiệt đới hoặc rừng

khộp ở Đông Nam Á, Brown (FAO, 1997) [39], và Basuki và ctv (2009) [37] áp dụng

biến đổi logarit của các mơ hình power. Vì vậy, Picard và ctv (2015) [76] đã kết luận

rằng mơ hình tốt để dự đoán sinh khối là dạng power.

Sau đây là một số mơ hình phổ biến để ước sinh khối trên mặt đất (AGB)

của cây rừng chung cho rừng nhiệt đới (pantropic):

Brown (1997): AGB = exp(-2,134 + 2,530 x ln(DBH))

IPCC (2003): AGB = exp(-2,289 + 2,649 x ln(DBH) - 0,021 x (ln(DBH)) 2)

Chave và ctv (2005): AGB = WD x exp(-1,499 + 2,148 x ln(DBH) + 0,207 x

(ln(DBH))2) - 0,0281 x (ln(DBH))3).

Komiyama (2005): AGB = 0,251x WD X (DBH)2,46

Chave và ctv (2014): AGB = 0,0673 x (WD x DBH2 x H)0,976

Trong đó:



ln là logarit neper

AGB: Sinh khối trên mặt đất của cây rừng (kg)

DBH: Đường kính ngang ngực (cm)

H: Chiều cao cây rừng (m)

WD: Khối lượng thể tích gỗ (g/cm3).



Đối với hệ sinh thái rừng ngập mặn, việc xây dựng các phương trình sinh

trắc rất được nhiều tác giả trên thế giới quan tâm và phát triển xây dựng phương

trình. Một số phương trình thường được sử dụng tính tốn sinh khối đối với cây

rừng ngập mặn được trình bày dưới đây:

Bảng 1.1: Một số phương trình được sử dụng để tính sinh khối cây rừng ngập mặn

Lồi

Avicennia

marina

Bruguiera

gymnorrhiza



Phương trình

TAGB = 0,308 x DBH2,11



Tác giả

Comley & Macguinness (2005)



AGBwood = Vwood x p x 1000

Vwood = 0,000075 x DBH2,50

BGB = 0,0188 x DBH2 x H0,909



Tamai và ctv (1986)



18



Lồi

Rhizophora

apiculata,

Rhizophora

mucronata

Sonneratia

alba

Xylocarpus

granatum

Ceriops tagal

Bruguiera

parvilora



Phương trình

AGBwood = Vwood x p x 1000

Vwood = 0,000069 x DBH2,64

BGB = 0,00698 x DBH2,61



Tác giả

Kauffman và Cole (2010)

Ong và ctv (2004)



AGBwood = Vwood x p x 1000

Vwood = 0,000381 x DBH2,10



Komiyama và ctv (2005)



BGB = 0,199 x p0,899 x DBH2,22

TAGB = 0,0823 x DBH2,59

BGB = 0,145 x DBH2,55

TAGB = 0,1884 x DBH2,33



Clough và Scot (1989)



TAGB = 0,1679 x DBH2,41



Trong đó: TAGB là Tổng sinh khối trên mặt đất, BGB là Sinh khối dưới mặt

đất, AGBwood: Sinh khối thân gỗ, Vwood: Thể tích thân gỗ, p là tỷ trọng gỗ, DBH là

đường kính ngang ngực tại vị trí 1,3 m.

1.2. Trong nước

1.2.1. Nghiên cứu về sinh khối

Nghiên cứu sinh khối rừng ở Việt Nam được rất nhiều nhà khoa học quan tâm

không những ở rừng mưa nhiệt đới mà còn ở rừng ngập mặn. Tuy nhiên, các cơng

trình thường tập trung nghiên cứu sinh khối trên mặt đất mà ít nghiên cứu sinh khối

dưới mặt đất do hạn chế về kinh phí. Một số nghiên cứu điển về sinh khối đã thực

hiện ở trong nước như sau:

Vũ Văn Thông (1998) [27] nghiên cứu cơ sở xác định sinh khối cây cá thể và lâm

phần Keo lá tràm (Acacia auriculformis Cunn) tại tỉnh Thái Nguyên. Tác giả đã lập 40 ô

tiêu chuẩn, diện tích mỗi ơ là 500 m 2, đo đếm các chỉ tiêu D1,3, Hvn và DT. Trên mỗi ô

chặt 3 cây tiêu chuẩn đại diện 3 cấp kính có số cây bằng để cân sinh khối thân, cành lá.

Riêng bộ phận thân chia làm 5 đoạn có chiều dài tương đối bằng nhau. Số liệu được

tổng hợp và phân tích để xây dựng một số mơ hình dự đốn sinh khối cây cá thể bằng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 1.2: Sơ đồ thiết kế tuyến điều tra sinh khối, các bon trên và dưới mặt đất

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×