Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Đối tượng, phạm vi và giới hạn nghiên cứu

Đối tượng, phạm vi và giới hạn nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

5



mặn Cần Giờ - thành phố Hồ Chí Minh. Những diện tích này được chia thành các

cấp tuổi rừng từ IV đến VIII, mỗi cấp tuổi có khoảng cách thời gian trồng rừng là 5

năm. Các cấp tuổi rừng Đước đơi trồng từ cấp I đến cấp III khơng có diện tích, vì

sau năm 2001 khơng còn trồng Đước đơi trong Khu Dự trữ sinh quyển rừng ngập

mặn Cần Giờ.

Tuổi rừng Đước trồng ở rừng ngập mặn Cần Giờ được thống kê như sau:

Bảng 1. Thống kê diện tích rừng trồng theo cấp tuổi rừng

Cấp tuổi rừng Đước trồng

Cấp tuổi IV

Cấp tuổi V

Cấp tuổi VI

Cấp tuổi VII

Cấp tuổi VIII

Tổng diện tích



Năm trồng

1996 – 2000

1991 - 1995

1986 - 1990

1981 - 1985

1976 - 1980



Diện tích (ha)

721,43

3.675,55

1.318,43

5.957,52

5.536,76

17.209,69



Phạm vi và giới hạn nghiên cứu

Về không gian: Nghiên cứu được xác định giới hạn trong phạm vi ranh giới

Rừng phòng hộ huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh.

Về đối tượng nghiên cứu: Luận án không nghiên cứu trữ lượng các bon đối

với vật rụng (cành, hoa, quả, lá) của cây rừng, cây chết đứng và nằm, và cây cỏ, cây

bụi trong quần thụ Đước đơi.

6. Kết cấu của luận án

Phần chính của luận án dài 112 trang và có kết cấu như sau:

- Mở đầu: 5 trang

- Chương 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu: 27 trang.

- Chương 2. Nội dung, phương pháp nghiên cứu và đặc điểm khu vực nghiên

cứu: 17 trang.

- Chương 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận: 60 trang.

- Kết luận, Tồn tại và Kiến nghị: 3 trang.

Ngoài các nội dung như: Tóm tắt; Lời cam đoan; Lời cảm ơn, Mục lục, Danh



6



mục bảng biểu, Hình ảnh, Danh mục các từ viết tắt; Danh mục các cơng trình đã

cơng bố; Tài liệu tham khảo và Phụ lục.



7



Chương 1

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Trên thế giới

1.1.1. Nghiên cứu về sinh khối

Trong lâm nghiệp, nghiên cứu sinh khối của rừng được rất nhiều nhà khoa

học trên thế giới quan tâm. Từ thập niên 1980 đến nay, nhiều nhà khoa học như

Satoo (1982) [83], Kauppi và ctv (1992) [65], Brown và ctv (1997) [39], Houghton và

ctv (2001) [54], Jalkanen và ctv (2005) [57], Chunjiang Liu (2009) [44] đã tập trung

nghiên cứu sinh khối và những yếu tố ảnh hưởng đến sinh khối của rừng.

Theo Houghton và ctv (2001) [54], sinh khối của rừng có thể được xác định

từ ba nguồn số liệu: (1) Nguồn thứ nhất là số liệu điều tra rừng quốc gia; (2) Nguồn

thứ hai là số liệu điều tra sinh khối trực tiếp trên những ô mẫu bằng phương pháp

cân đo; (3) Nguồn thứ ba là số liệu điều tra sinh khối trực tiếp trên những ô mẫu

phối hợp với phương pháp viễn thám. Ravindranath và ctv (2005) [80] lại cho rằng,

sinh khối và dự trữ các bon của rừng có thể được xác định bằng ba phương pháp

khác nhau – đó là phương pháp đo đếm trực tiếp ở rừng, phương pháp viễn thám

và phương pháp GIS.

Các cơng trình nghiên cứu về sinh khối trên mặt đất

Aksornkoae S. (1982, 1987) [31], [33] đã tìm thấy sinh khối rừng Đước đôi

(Rhizophora apiculata) trồng ở tuổi 6, 10 và 15 là 50,00 tấn/ha; 103,13 tấn/ha và

206,25 tấn/ha tại Chanthaburi, Thái lan. Sinh khối rừng ngập mặn tự nhiên của các

lồi: Đước, Vẹt, Xu. Trong đó, sinh khối rừng Đước cao nhất là 710,9 tấn/ha, tiếp

đến Vẹt là 243,75 tấn/ha và thấp nhất là Xu chỉ có 20,1 tấn/ha tại Thái Lan.

Ở Malaysia có Ong, J. E. và ctv (1984) [74] đã ghi nhận sinh khối rừng Đước

đôi (Rhizophora apiculata) trồng ở tuổi 5, 10 và 15 là 16,25 tấn/ha; 180 tấn/ha và

200 tấn/ha tại Matang.



8



Trong kết quả nghiên cứu sinh khối và năng suất sơ cấp của rừng Đước ở

rừng ngập mặn ở Phuket trên bờ biển Tây, Thái Lan, Christensen Bo (1997) [46] đã

ghi nhận tổng lượng sinh khối trên mặt đất ở rừng 15 tuổi là 159 tấn sinh khối

khơ/ha. Lượng tăng trưởng hàng năm tính cho tồn bộ thân, cành, lá và rễ ước

tính khoảng 20 tấn/ha/năm. Tổng năng suất sinh khối khơ ước tính là 27

tấn/ha/năm. Ông cũng đã so sánh lượng vật rụng của rừng ngập mặn và rừng mưa

nhiệt đới thì thấy lượng vật rụng hàng năm của rừng ngập mặn cao hơn so với

rừng mưa nhiệt đới do rừng ngập mặn nhỏ tuổi hơn và sinh trưởng nhanh hơn.

Để ước tính sinh khối của cây rừng phần trên mặt đất cho một số kiểu rừng

nhiệt đới, phương pháp chặt hạ cây và lập mơ hình ước tính sinh khối, các bon rừng

- còn gọi là mơ hình sinh trắc (allometric equation) đã được thực hiện bởi Brown

(1997-2000) [40;41], MacDicken (1997) [70]; Chave và ctv (2005) [42], Pearson

(2005) [77], Basuki và ctv (2009) [37], Diez và ctv (2011) [47]. Tuy nhiên số liệu cây

chặt hạ còn ít trên vùng nhiệt đới rộng lớn tồn cầu, chưa có dữ liệu đại diện cho

rừng nhiệt đới Việt Nam và chưa được đánh giá sai số và độ tin cậy, do vậy chưa thể

ứng dụng ở Việt Nam. Với sự đa dạng của rừng nhiệt đới, phát triển mơ hình cho

từng lồi cụ thể là khơng thực tế và các nhà nghiên cứu đã tập trung vào các mơ

hình đa lồi với cỡ mẫu lớn hơn, ví dụ Brown và ctv (1997) [39] đã sử dụng 371 cây

có đường kính từ 5 - 148 cm, Chave và ctv (2005) [42] đã sử dụng 2.410 cây có

đường kính từ 5 – 150 cm. Những mơ hình này, có thể phải đối mặt với những hạn

chế và khả năng sai lệch trong một số trường hợp với một hệ sinh thái. Jara và ctv

(2015) [56] và Chave và ctv (2014) [43] đã chỉ ra rằng, các phương trình chung cho

vùng nhiệt đới có thể dẫn tới sai số hệ thống lên đến 400%; do vậy, các mơ hình tại

địa phương có thể thay thế tốt hơn và cung cấp độ tin cậy cao hơn so với phương

trình chung. Để nâng cao độ tin cây của mơ hình sinh khối, Temesgen và ctv (2007,

2015) [87; 88] đề nghị phát triển ước lượng sinh khối toàn diện với sự tham gia của

các biến số trong lâm phần như: Mật độ, và thực hiện theo các quy mô không gian

khác nhau.



9



Michael và ctv (1999) [71] đã nghiên cứu sinh khối và năng suất trên mặt

đất của các quần thể rừng ngập mặn ở vườn Quốc gia Biscayne, Florida (Mỹ) với

đối tượng nghiên cứu chủ yếu gồm 3 loài: Rhizophora mangle, Laguncularia

racemosa và Avicennia germinan. Tác giả đã tiến hành lập 12 ô đo đếm với kích

thước chiều rộng là 0,5 m; chiều dài biến động từ 3 – 10 m, ô nhỏ nhất ở khu vực

có mật độ cao nhất. Trong ô đo đếm các chỉ tiêu: Chiều cao cây (Hvn), độ tàn che,

đường kính thân cây tại vị trí 30 cm (D 30) và 140 cm (D140) (cho thân cao hơn 40 cm

và 150 cm). Số liệu đo đếm sinh trưởng được tiến hành lập lại trong 2 năm 1996 và

1997. Việc tính tốn sinh khối được tính thơng qua xây dựng phương trình tương

quan giữa các chỉ tiêu trên với thành phần sinh khối (thân, cành, lá) trên mặt đất

của cây rừng. Phương trình được đề xuất có dạng chung: ln(thành phần sinh khối)

= b0 + b1*ln(biến độc lập)+ …+ bn*ln(biến độc lập thứ n). Trong đó biến độc lập:

chiều cao cây, đường kính thân cây, độ tàn che.

Akira, K. và ctv (2000) [32] đã tính sinh khối lồi Dà vơi (Ceriops tagal) ở

miền Nam Thái Lan có tổng sinh khối là 437,5 tấn/ha và tỷ lệ sinh khối trên mặt đất

và rễ là 1,05; sinh khối thân là 53,35 tấn/ha; cành: 23,61 tấn/ha; lá: 13,29 tấn/ha;

rễ: 1,99 tấn/ha và rễ dưới mặt đất là 87,51 tấn/ha.

Theo Ong và ctv (2004) [75] đã nghiên cứu sinh khối của rừng Đước đôi

(Rhizophora apiculata Blume) ở rừng ngập mặn Matang, Perak, Malaysia. Tác giả

đã chặt chọn 74 cây có chu vi thân cây tại vị trí 1,3 m dao động từ: 3,5 – 88 cm để

thu thập số liệu. Qua nghiên cứu này cho thấy việc tính tốn sinh khối của rừng

được tính gián tiếp bằng cách xây dựng phương trình tương quan giữa D 1,3 với sinh

khối của các bộ phận cây rừng. Phương trình được xây dựng có dạng: Y = a*X b,

trong đó: Y là sinh khối của bộ phận cây rừng; X là đường kính tại vị trí 1,3 m; a và b

là tham số của phương trình. Cũng trong nghiên cứu này, tác giả đã xây dựng

phương trình sinh khối dưới mặt đất với dung lượng mẫu là 11 cây cá thể.

Komiyama và ctv (2005) [67] đã xây dựng các mơ hình sinh trắc để ước lượng

sinh khối của rừng ngập mặn. Đề tài đã tiến hành chặt hạ và cân khối lượng tươi đối



10



với 104 cây cá thể của 10 loài cây ngập mặn (Rhizophora mucronata, R. apiculata,

Bruguiera gymnorrhiza, B. cylindrica, Ceriops tagal, Avicennia alba, Sonneratia alba,

Sonneratia caseolaris, Xylocarpus granatum và Xylocarpus moluccensis) trong rừng

nguyên sinh phân bố trên 5 khu vực ở Thái Lan và Indonesia. Đề tài tiến hành xây

dựng các mơ hình sinh trắc để ước lượng sinh khối trên mặt đất (W top) cho các loài

cây rừng ngập mặn theo chỉ số đường kính ngang ngực và tỷ trọng gỗ tương ứng với

các lồi đã được xác định.

Các cơng trình nghiên cứu về sinh khối dưới mặt đất

Sinh khối dưới mặt đất của lâm phần là khối lượng phần rễ sống của cây. Rễ

cây chiếm một phần quan trọng trong tổng sinh khối lâm phần. Theo Cairns và ctv

(1997) [41], sinh khối của rễ cây trong rừng dao động từ khoảng 3,0 tấn/ha đến

206 tấn/ha, tùy theo loại rừng. Tuy nhiên, việc điều tra để xác định tổng lượng rễ

cây dưới mặt đất là cơng việc khó khăn, đòi hỏi phải tốn nhiều thời gian, công sức,

(đặc biệt là đối với các cây gỗ có kích thước lớn, rễ sâu, lan rộng và đối với rừng

ngập mặn rất khó xác định được rễ cây trong hố đào do luôn bị ngập nước).

Trong việc nghiên cứu lập mơ hình sinh khối cho phần rễ cây rất hạn chế, do

đó chủ yếu sử dụng các hệ số chuyển đổi từ phần trên mặt đất ra phần dưới mặt

đất. Hệ số chuyển đổi từ sinh khối trên mặt đất (AGB) sang sinh khối dưới mặt đất

(BGB) của thực vật R (IPPC, 2006): BGB = R x AGB, hệ số R đối với rừng mưa nhiệt

đới là 0,37; đối với rừng nửa rụng lá ẩm nhiệt đới nếu AGB < 125 tấn/ha thì R =

0,20 (biến động từ 0,09 - 0,25), với AGB ≥ 125 tấn/ha thì R = 0,24 (biến động 0,22 0,33). Ngồi ra, Diez và ctv (2011) [48] cũng cho thấy tỷ lệ BGB/AGB rất biến động

theo đường kính cây rừng. Trong khi đó, theo MacDicken (1997) [70] thì R = 0,20

(BGB = 20% x AGB).

Jaramillo và ctv (2003) [58] nghiên cứu về về sinh khối và lượng các bon

của rễ cây trong rừng mưa nhiệt đới thường xanh: thay đổi sang rừng thứ sinh và

chuyển đổi rừng thành đồng cỏ tại vùng Los Tuxtlas, Bang Veracruz, Mexico. Các



11



mẫu được thu thập ở 3 hiện trạng sử dụng đất/độ che phủ: 03 hiện trạng rừng

nguyên sinh thường xanh, rừng thứ sinh sau 8 năm, 20 năm và 30 năm bị tác

động và đồng cỏ gia súc tạo 3 năm trồng khác nhau (12 năm, 20 năm và 28 năm)

có nguồn gốc từ rừng nguyên sinh. Ở mỗi khu vực nghiên cứu thiết lập ơ điều tra

có kích thước 60 m x 50 m. Lấy cạnh ô 60 m là đường cơ sở để vạch thêm các

tuyến 50 m, mỗi tuyến cách nhau 15 m, tổng cộng có 5 tuyến. Trên mỗi tuyến này

thiết lập ngẫu nhiên ơ nhỏ có kích thước 2 m x 0,5 m để đào đất lấy mẫu rễ cây.

Mỗi khu vực có 5 ơ để lấy mẫu. Rễ cây được thu thập ở độ sâu 10 - 20 cm, tại 20

cm và từ 20 - 100 cm. Trong 03 ô thu mẫu rễ trên đồng cỏ, tác giả chỉ thu mẫu ở

độ sâu 80 cm do nền địa chất chủ yếu là đá. Các mẫu rễ được rửa sạch và đem về

phòng thí nghiệm để phân tích sinh khối (bằng phương pháp sấy khô các mẫu ở

70oC đến khi khối lượng khơng đổi) và phân tích lượng các bon (thơng qua hệ

thống phân tích CM 5012, IUC, Inc.). Kết quả nghiên cứu đạt được: Tổng sinh khối

rễ có độ sâu 1 m biến động từ 19 - 27 tấn/ha ở rừng nguyên sinh, từ 5,5 - 22,5

tấn/ha ở rừng thứ sinh, và từ 3,1 - 5,4 tấn/ha ở các đồng cỏ. Rễ ở độ sâu 0 – 40 cm

chiếm 60 - 76% tổng sinh khối trong rừng nguyên sinh, từ 77 - 93% trong rừng thứ

sinh, 89 - 96% trên các đồng cỏ. Sinh khối rễ chiếm 4,7 - 6,2% tổng sinh khối ở rừng

nguyên sinh, từ 6,8 - 8,8% ở rừng thứ sinh.

Tamooth và ctv (2008) [86] nghiên cứu về sản lượng và phân bố rễ cây rừng

ngập mặn có hiện trạng rừng tự nhiên và rừng trồng tại vịnh Gazy, Kenya. Đối

tượng nghiên cứu của đề tài gồm 3 loài: Đưng (Rhizophora mucronata Lamarck),

Mắm biển (Avicennia marina (Forsk) Vierh) và Bần trắng (Sonneratia alba J. Smith).

Tác giả đã lập 2 ơ đo đếm diện tích 100 m 2 (10 m x 10 m) đối với mỗi cấp tuổi của

rừng trồng và 3 ô đối với rừng tự nhiên. Trong mỗi ô chọn 4 cây ngẫu nhiên đễ thu

mẫu rễ, sau đó khoanh một vòng tròn quanh gốc cây và chia làm 3 vùng (có góc

1200). Ở mỗi vùng lấy 3 phẫu diện (có chiều sâu 60 cm theo chiều thẳng đứng, bán

kính là 15,6 cm) tại các vị trí: gốc cây, giữa tán và mép tán cây. Như vậy, có 36 phẫu

diện được lấy trong mỗi ô. Ở mỗi phẫu diện chia thành 3 tầng: 0 – 20 cm; 20 – 40



12



cm; 40 – 60 cm. Mẫu rễ thu thập được phân chia theo loại: rễ tươi và rễ chết. Đối

với rễ tươi được phân chia các lớp đường kính: < 5 mm; 5 – 10 mm; 10 – 20 mm;

20 – 30 mm; 30 – 40 mm và > 40 mm. Tất cả các mẫu được rửa sạch, cân trong

lượng tươi tại chỗ và đem về sấy khô ở nhiệt độ 80 0C cho đến khi khối lượng không

đổi. Qua kết quả nghiên cứu, Tamooth và ctv đã tính tốn lượng sinh khối tươi của

rễ dưới mặt đất biến động từ 7,5 ± 0,4 tấn/ha đến 35,8 ± 1,1 tấn/ha, 48,4 ± 0,7

tấn/ha đến 75,5 ± 2,0 tấn/ha và 39,1 ± 0,7 tấn/ha đến 43,7 ± 1,7 tấn/ha tương ứng

với các loài Rhizophora mucronata, Sonneratia alba và Avicennia marina, phụ

thuộc vào tuổi của quần thể.

1.1.2. Nghiên cứu về trữ lượng các bon

Trong dự án nghiên cứu tích lũy các bon của tổ chức Quốc tế Winrock

(Winrock International) thực hiện ở nhiều nước trên thế giới từ năm 2005 (Pearson

và ctv, 2005) [77], các tác giả đã xây dựng phương pháp lập ô đo đếm nghiên cứu

tích lũy các bon theo dạng ơ liên kết. Theo phương pháp này ơ liên kết thường

được sử dụng có dạng hình chữ nhật diện tích 1.000 m 2 (20 m x 50 m) đối với ơ

chính và diện tích 595 m 2 (17 m x 35 m); 50 m 2 (5 m x 10 m) đối với ô phụ. Tiến

hành đo đếm các chỉ tiêu như đường kính thân cây, chiều cao vút ngọn…. theo mơ

hình trên.

Sơ đồ ơ đo đếm dạng liên kết như sau:

- Ô liên kết dạng hình tròn:



- Ơ liên kết dạng hình chữ nhật:



13



Hình 1.1: Sơ đồ hình dạng và kích thước các ơ đo đếm liên kết

Phương pháp này rất thuận lợi cho rừng nhiệt đới có địa hình phức tạp, độ

dốc cao, thành phần lồi cây nhiều, có biến động về kích thước lớn. Tuy nhiên, đối

với rừng ngập mặn thì ít phù hợp do địa hình bằng phẳng, rừng tự nhiên có ít lồi,

biến động về đường kính khơng cao nên có thể đo đếm tất cả các cây trong ơ tiêu

chuẩn mà không cần thiết lập hệ thống ô phụ.

Ở Indonesia, Daniel Murdiyarso và ctv (2009) [48] đã xây dựng các ơ đo đếm để

tính lượng tích lũy các bon cho rừng ngập mặn và đất ngập nước như sau:



14



Hình 1.2: Sơ đồ thiết kế tuyến điều tra sinh khối, các bon trên và dưới mặt đất

Tất cả 6 ô đều thu thập các số liệu như nhau, việc đo đếm số liệu trong một

ô được phân chia theo nhiều nội dung khác nhau, nội dung thực hiện tương tự cho

các ô trên tuyến và giữa các tuyến điều tra. Mẫu đất được thu nhằm tính tốn

lượng các bon tích lũy dưới mặt đất, tầng đất được lấy chia thành 5 lớp sâu theo

chiều thẳng đứng: 0 – 15, 15 – 30, 30 – 50, 50 – 100 và 100 – 300 cm. Ơ đầu tiên

của tuyến gần bờ sơng và cách bìa rừng một khoảng nhất định.

Qua nghiên cứu vai trò của rừng ngập mặn trong hấp thụ các bon ở tỉnh Trat,

Thái Lan, Wanthongchai và Piriyayota (2006) [93] đã tính được lượng các bon tích lũy

trung bình là 47,77% khối lượng khơ trong ba lồi nghiên cứu (Rhizophora mucronata,

R. apiculata, Bruguiera cylindrica). Ở rừng nhiều tuổi thì lượng các bon tích lũy nhiều

hơn rừng ít tuổi, cao nhất là loài R. apiculata ở tuổi 11 đạt 74,75 tấn/ha, R. mucronata

với 65,50 tấn/ha, trong khi Bruguiera cylindrica chỉ có 1,47 tấn/ha.

Hai Ren và ctv (2009) [53] đã nghiên cứu tích lũy các bon của 4 cấp tuổi khác

nhau đối với rừng trồng lồi Bần khơng cánh (Sonneratia apetala) ở miền Nam

Trung Quốc. Bằng việc lập 4 tuyến điều tra, trên mỗi tuyến lập 3 ô đo đếm 10 m x

10 m đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng của rừng trồng ở bốn quần thể có độ tuổi 4;

5; 8 và 10 năm. Để xây dựng tương quan giữa các nhân tố điều tra, đề tài đã chặt

giải tích 12 cây (chọn 3 cây tại mỗi quần thể). Cây được chọn gồm một cây tiêu

chuẩn của quần thể, một cây nhỏ hơn cây tiêu chuẩn và một cây lớn hơn cây tiêu

chuẩn. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ trung bình hằng năm tổng lượng tích lũy

các bon của các quần thể Bần không cánh (Sonneratia apetala) tại các tuổi 4; 5; 8

và 10 năm lần lượt là 5,0; 7,9; 8,7; và 8,4 tấn/ha/năm. Việc ước lượng tổng sinh

khối của quần thể được sử dụng thông qua hàm số mũ: W = a*(D 2H)b. Trong đó: W

là sinh khối (kg), D là đường kính ngang ngực (cm), H là chiều cao (m), a và b là hai

tham số của phương trình.



15



Santos và ctv (2017) [84] bước đầu đánh giá trữ lượng các bon tích lũy trong

sinh khối dưới mặt đất trong rừng ngập mặn tại Brazil. Khu vực nghiên cứu ở vịnh

Sepetiba cách trung tâm thành phố Rio de Janero 70 km về phía Đơng Nam. Hiện

trạng rừng với 03 loài cây chủ yếu: Avicennia shaueriana, Languncularia racemosa

và Rhizophora mangle. Sinh khối rễ dưới mặt đất được xác định thông qua 05 hố

đào 1m3 (1 x 1 x 1m). Các vị trí lấy mẫu được thiết lập tại các vị trí gần bìa rừng,

cách nhau 150 – 200 m. Rễ sau khi đào và rửa sạch được phân chia thành các cấp

kính: < 5 mm, 5 – 10 mm, 10 – 20 mm, 20 – 50 mm và > 50 mm (có phân loại rễ

tươi và khơ). Sau đó các mẫu được đem về phòng thí nghiệm phân tích bằng

phương pháp sấy khơ ở 70 oC để tính khối lượng khô. Việc chuyển đổi sinh khối

sang các bon được tính theo hệ số chuyển đổi của Rodgries và ctv (2014) như sau:

42,6% đối với loài Languncularia racemosa và Avicennia shaueriana, 40% cho

Rhizophora mangle. Bên cạnh đó, để đánh giá đặc điểm cấu trúc rừng, tại các vị trí

lấy mẫu lập ô tiêu chuẩn 100 m2. Trong các ô tiêu chuẩn này, tất cả các loài cao hơn

2 m đều được đo đếm chiều cao và đường kính tại vị trí 1,3 m. Kết quả nghiên cứu

cho thấy tổng trữ lượng bình quân của rễ dưới mặt đất là 104,41 ± 20,73 tấn C/ha.

Phần lớn trữ lượng các bon tập trung ở tầng đất từ 0 – 40 cm (khoảng 70%). Qua

nghiên cứu cũng đã chứng minh sinh khối rễ dưới mặt đất đóng góp hơn 50% trữ

lượng các bon trong rừng ngập mặn. Sinh khối rễ trong rừng ngập mặn có thể lớn

hơn các hệ sinh thái khác ở Brazil.

Valery Noiha Noumi và ctv (2017) [91], xác định cấu trúc thành phần thực

vật, tiềm năng hấp thụ các bon và bảo tồn thực vật trong bốn hệ thống Nông – Lâm

kết hợp ở Cameroon. Bốn hệ thống nông lâm được chọn bao gồm: Quần thụ có

lồi Azadirachta indica (Neem) chiếm ưu thế ở vùng phía cực Bắc, quần thụ

Anacardium occidentale (Điều) ở phía Bắc, quần thụ Eucalyptus spp. (Bạch đàn) ở

vùng Adamawa và quần thụ Ca cao ở phía Đơng Nam Cameroon. Quần thụ được

chọn phân theo 03 cấp: 0 – 10; 10 -20 và ≥ 20 năm. Đối với mỗi hệ thống nông lâm,

chọn 3 điểm (lập lại 03 lần ở mỗi điểm) thiết lập ô điều tra có kích thước 100 m x



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đối tượng, phạm vi và giới hạn nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×