Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2- Theo vị trí của người bán hàng

2- Theo vị trí của người bán hàng

Tải bản đầy đủ - 0trang

Đặc điểm của loại hình bán hàng này là:

- Người bán hàng có thời gian chuẩn bị, tìm hiểu kỹ lưỡng khách hàng trước khi bán

hàng nên có thể có nhiều thông tin về khách hàng hơn, nắm bắt được một cách chủ động nhu

cầu, thị hiếu, mong muốn của khách hàng;

- Doanh thu do loại hình bán hàng này mang lại khá cao, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng

doanh thu của doanh nghiệp.

- Đòi hỏi người bán phải có trình độ chun mơn cao, có kinh nghiệm vì khách hàng

thường là các chuyên gia mua hàng cho nên thuyết phục được họ không dễ dàng.

5.2.3- Bán hàng qua mạng (Bán hàng ảo)

Đây là một hình thức bán hàng tiên tiến, tiết kiệm thời gian và công sức của

khách hàng và của nhà cung cấp, nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Bưu

chính.

Tại một số quốc gia, khách hàng có thể mua tem, gửi Điện hoa qua mạng, mua hàng qua

mạng, thanh toán qua mạng, sử dụng các dv bưu chính điện tử (E-post), dùng điện thoại di

động để thực hiện các giao dịch với cửa hàng, ngân hàng…Cho nên đã xuất hiện thuật ngữ

M-commerce (thương mại di động). Xu hướng cạnh tranh ngày càng gia tăng khiến các

doanh nghiệp, cá nhân sử dụng thời gian, tiền bạc, tập trung sức lực, thời gian vào lĩnh vực

chính của mình nhằm nâng cao sức cạnh tranh. Hiện nay Bưu chính Việt Nam cũng đang tiến

hành xây dựng mạng PostNet để làm tiền đề thực hiện bưu chính điện tử.

Đặc điểm:

- Có sự hỗ trợ chủ yếu của máy móc thiết bị

- Có thể mua hàng bất cứ lúc nào và mua được nhiều sp khác nhau cùng một lúc

- Khơng phải mặc cả

- Tìm hiểu được nhiều thơng tin trên mạng, dễ dàng khai thác thông tin trên mạng.

- Doanh nghiệp giảm chi phí, khơng cần nhiều người bán.

- Cung cấp thơng tin cho khách hàng nhanh chóng, nhận thông tin phản hồi nhanh.

- Cung cấp nhiều sản phẩm dịch vụ khác nhau cùng một lúc.

- Đòi hỏi người mua và người bán có trình độ sử dụng cao (hiểu biết, sử dụng thành thạo

trang thiết bị và có khả năng chun mơn cao).

Hiện nay, Tập đồn Bưu chính Viễn thông chủ yếu cung cấp cho khách hàng các

phương thức bán hàng sau: bán hàng cố định (tại các điểm giao dịch, ki ốt, đại lý, BĐVHX)

và bán hàng lưu động (bán tại địa chỉ cơ quan, nhà riêng của khách hàng). Xã hội ngày càng

phát triển, cuộc sống của con người ngày càng được cải thiện do đó nhu cầu của họ cũng

ngày càng cao. Hơn nữa, Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), nhà

nước mở cửa cho các doanh nghiệp nước ngoài vào thị trường Việt Nam kinh doanh nhiều

sản phẩm dịch vụ trong đó có các dịch vụ về BCVT. Do đó, chúng ta khơng chỉ nên dừng ở

các phương thức bán hàng đã có mà phải dần dần đổi mới, ứng dụng các phương thức bán

hàng hiện đại hơn, tiện lợi hơn, tiết kiệm thời gian và công sức của cả khách hàng và cả

doanh nghiệp. Chúng ta cần phải đẩy mạnh hình thức bán hàng qua mạng và bán hàng tự

động. Làm được như vậy thì chúng ta mới có thể có chỗ đứng trên thị trường khi các doanh

nghiệp nước ngoài đồng loạt vào thị trường Việt Nam kinh doanh các dịch vụ BCVT đặc biệt

là các dịch vụ về Bưu chính.

Tóm lại: Trên đây chúng ta đề cập đến nội dung của các phương thức bán hàng nói

chung. Các phương thức bán hàng thì rất đa dạng nhưng trên thực tế chúng ta mới chỉ tập

trung vào việc bán hàng tại bưu cục, ki ốt, điểm Bưu điện văn hóa xã. Trước đây chúng ta

chưa chú trọng đến hình thức bán hàng tại nhà cho khách hàng, đặc biệt là cho các khách

hàng lớn. Đây là nhóm khách hàng dễ bị cạnh tranh nhất. Các đối thủ cạnh tranh thường

"nhằm" vào đối tượng khách hàng lớn này, họ cung cấp cho khách hàng các dịch vụ khách

hàng hồn hảo để lơi kéo khách hàng về phía họ. Ngay tại các điểm giao dịch thì cách bán

hàng cũng chủ yếu mang tính thụ động, chưa khuyến khích, gợi mở nhu cầu của khách hàng.

Có thể nói chúng ta chủ yếu mới ngồi chờ khách hàng đến với chúng ta mà chưa giành nhiều

thời gian để đi tìm kiếm họ. Hình thức bán hàng trọn gói cũng chưa được quan tâm.



6-Cung cấp thông tin cho khách hàng

Trong thời gian qua chúng ta đã đưa ra nhiều dịch vụ BCVT mới cung cấp cho xã hội.

Tuy nhiên do trình độ dân trí còn thấp, dịch vụ thì mang tính vơ hình cho nên sự hiểu biết của

khách hàng còn hạn chế. Ngay cả chúng ta là những nhân viên trong ngành Bưu điện nhưng

không phải ai cũng hiểu hết công dụng, lợi ích của các dịch vụ BCVT. Thế nhưng hiện nay

các giao dịch viên của chúng ta lại rất ít chú ý đến việc cung cấp thông tin về cơng dụng, lợi

ích của dịch vụ cho khách hàng biết, các hình thức thơng tin khác cũng hạn chế. Thậm chí

nhiều xung đột giữa khách hàng và nhân viên bưu điện cũng chỉ do khách hàng thiếu hiểu

biết về các dịch vụ của chúng ta.

Cung cấp thông tin cho khách hàng là việc làm cần thiết để chăm sóc khách hàng.

Thông tin về sản phẩm và dịch vụ cũng như các chính sách Marketing, các hoạt động chăm

sóc khách hàng của doanh nghiệp cho khách hàng nhằm mục đích cung cấp thơng tin chính

xác và rõ ràng về những gì mà doanh nghiệp có thể đáp ứng cho khách hàng để họ biết và lựa

chọn.

Cụm từ “thông tin” doanh nghiệp giới thiệu về doanh nghiệp của mình đóng vai trò

quan trọng đối với mọi khía cạnh trong mỗi quan hệ của doanh nghiệp đối với khách hàng.

Nói một cách khác, nó có thể tạo dựng hoặc phá vỡ mối quan hệ đó.

Cung cấp thơng tin cho khách hàng bao gồm:

- Thơng tin chi tiết về doanh nghiệp mình;

- Mơ tả các sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp mình cung cấp;

- Các chính sách dành cho khách hàng (Quy định về sản phẩm, dịch vụ, cac chính sách về

việc hồn trả lại tiền và trao đổi sản phẩm, các quy định về xử lý phàn nàn, khiếu nại…);

- Bảng giá sản phẩm, dịch vụ;

- Bảng thông số kỹ thuật;

- Bảng hướng dẫn sử dụng;

- Bảng chỉ dẫn;

- Các điều luật và quy định;

- Vật phẩm quảng cáo,…

Các thông tin cung cấp cho khách hàng cần phải đáp ứng các yêu cầu sau:

- Ngơn ngữ và sơ đò phải đơn giản, dễ hiểu, dễ nhớ đối với khách hàng. Hạn chế dùng từ

kỹ thuật, các thuật ngữ, cụm từ viết tắt mà khơng có giải thích rõ ràng;

- Khách hàng có thể tiếp cận dễ dàng, nhanh chóng;

- Đáp ứng đúng những đòi hỏi cụ thể của khách hàng để đảm bảo rằng nó hấp dẫn và hữu

ích đối với khách hàng;

- Nói đúng, rõ ràng và đầy đủ về lợi ích của sản phẩm, dịch vụ được cung cấp;

- Luôn ln cập nhật thơng tin, thậm chí phải nói rõ nếu thơng tin đó chỉ dành cho một số

đối tượng khách hàng nhất định hoặc một khu vực nhất định hoặc trong một thời gian nhất

định;

- Nếu các thông tin đó có thể là một phần nội dung của bất cứ thoả thuận hợp đồng nào

thì cần tạo điều kiện thuận lợi để cung cấp cho khách hàng hoặc để khách hàng ghi lại được;

- Có địa chỉ liên lạc rõ ràng để khách hàng tham khảo.

Khi đáp ứng được những u cầu này, các thơng tin rõ ràng, chính xác sẽ cho khách

hàng biết doanh nghiệp muốn họ biết điều gì và điều gì họ muốn biết. Bất kể là thơng tin về

việc gì, doanh nghiệp cũng phải lưu ý tính chính xác, tránh làm cho người nhận thơng tin bị

nhầm lẫn để từ đó phát sinh các xung đột khác.

Thông tin là một phần đặc biệt quan trọng đối với việc kinh doanh dịch vụ vì doanh

nghiệp thường gặp khó khăn để làm rõ các vấn đề mang tính vơ hình. Thực tế cho thấy rằng

dịch vụ thường dễ gây hiểu lầm hơn là sản phẩm. Bởi vì, đối với dịch vụ, bản thân thông tin

trở thành vật hữu hình duy nhất và do đó nó phải đáng tin cậy.

7- Những điều khách hàng thường phàn nàn

Có rất nhiều ngun nhân làm cho khách hàng khơng hài lòng dẫn đến việc họ phàn nàn

(nhất là khi chúng ta chưa có nhận thức đầy đủ về việc kinh doanh hiện nay trong nền kinh tế



thị trường, chưa chuyển biến, thay đổi kịp thời với tình hình mới trước việc ra đời các doanh

nghiệp mới và sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt, trước vị thế, vai trò của khách hàng ngày

càng được nâng cao). Sau đây là một số nguyên nhân cụ thể trong kinh doanh BCVT làm

khách hàng của chúng ta khơng hài lòng:

- Khơng bán thứ họ mong muốn, họ cần;

- Chất lượng dịch vụ không đúng như cam kết, không đúng với lời hứa;

- Thủ tục phiền hà, phức tạp;

- Chậm giải quyết khiếu nại hoặc giải quyết không thoả đáng;

- Khách hàng phải chờ đợi lâu khi sử dụng dịch vụ; hoặc họ phải chờ đợi lâu nhưng

không được để ý.

- Thờ ơ, thiếu nhiệt tình, thiếu sự quan tâm đến khách hàng;

- Khơng niềm nở đón tiếp khách hàng; có thái độ cửa quyền, ban ơn.

- Cáu giận, bực bội, nói năng thiếu lễ độ với khách hàng, thiếu thái độ tôn trọng khách

hàng;

- Giá cước dịch vụ cao;

- Phương thức thanh toán cứng nhắc khơng thuận tiện;

- Nơi giao dịch khơng vừa lòng khách hàng (khơng có chỗ để an tồn phương tiện, nơi

giao dịch mất vệ sinh hay nóng bức, chật chội...)

- Cung cấp không đầy đủ thông tin cho khách hàng;

- Mắng nhiếc, chế diễu, doạ dẫm khách hàng khi họ làm sai điều gì đó hoặc chưa kịp

thanh tốn hố đơn sử dụng dịch vụ.

- Hay nói chuyện với đồng nghiệp khi giao tiếp với khách hàng.

- Khơng tận tình giải đáp các thắc mắc của khách hàng.

- Giao tiếp bằng tiếng Anh còn hạn chế.

- Khách hàng bị đưa đẩy lòng vòng khi cần giải quyết một vấn đề gì.

- Hóa đơn cước bị tính nhầm, cước điện thoại, cước Internet cao

Theo số liệu điều tra thì 14% khách hàng bỏ đi do khơng hài lòng về chất lượng sản

phẩm, còn 68% bỏ đi do khơng hài lòng về thái độ ứng xử của nhân viên khi giao tiếp.

Như vậy, để giữ được khách hàng thì nhất thiết chúng ta khơng được để khách hàng

khơng hài lòng mà phải ln ln làm cho họ hài lòng. Để làm khách hàng hài lòng thì chúng

ta cần phải:

- Thủ tục đơn giản, gọn nhẹ, tiện lợi;

- Nơi giao dịch khang trang, lịch sự (Nơi giao dịch hiện nay của chúng ta đã khang trang

hiện đại nhưng nhiều nơi vẫn còn thiếu sự gần gũi, thân thiện);

- Chào đón khách hàng niềm nở, nhiệt tình;

- Cung cấp đầy đủ thơng tin (cả những thơng tin chưa nắm chắc, những thơng tin ngồi

khả năng hay ngồi nhiệm vụ của ta);

- Nói năng lịch sự, lễ độ, luôn tươi cười với khách, tác phong công nghiệp, văn minh;

- Giá cả tương ứng với chất lượng và phù hợp với khách hàng;

- Giải quyết nhanh chóng các khiếu nại;

- Giúp đỡ khách hàng;

- Hiểu tâm lý, phong tục tập quán của khách hàng;

- Nhận biết vai trò tầm quan trọng của khách hàng, tơn trọng họ, nhận biết khách hàng

quen;

- Khen khách hàng chân thành;

………..

+ Một điều không thể phủ nhận là, trong số những khách hàng hài lòng nói ở trên, vẫn có

những người bỏ chúng ta mà đến với các đối thủ cạnh tranh để hy vọng được cái gì đó mới

hơn, tốt hơn, hấp dẫn hơn, lợi hơn. Do vậy, chúng ta khơng thể dừng ở nấc thang khách hàng

hài lòng, mà chúng ta phải tiến xa hơn. Đó là làm cho khách hàng trở thành khách hàng trung

thành. Khi đó họ sẽ luôn tin tưởng ở chúng ta, bênh vực chúng ta trước những lời xuyên tạc,



nói xấu... Để cho họ trở thành khách hàng trung thành thì ta phải làm cho họ vui sướng khi

được phục vụ. Đó là làm được những điều vượt quá sự mong đợi của họ.

Để làm cho khách hàng vui sướng, chúng ta phải vượt qua khó khăn về thời gian, về thủ

tục, phải mất cơng sức nhiều hơn, phải tìm ra cách giải quyết độc đáo hơn người khác để giúp

khách hàng được việc. Một số ví dụ thực tiễn:

- Giúp khách hàng được việc sớm hơn quy định (Lắp đặt, sửa chữa máy móc thiết bị, làm

các thủ tục, thủ tục giải quyết khiếu nại, bồi thường...).

- Cho khách hàng mượn máy sử dụng trong lúc chờ sửa chữa.

- Sửa chữa máy cả ngày nghỉ, ngày lễ.

- Cho khách hàng nợ khoản tiền nhỏ

- Giúp khách hàng những điều mà đối thủ cạnh tranh không làm được.

- Giúp khách hàng giải quyết được những việc gay cấn, quan trọng để mang lại tâm trạng

ngạc nhiên, xúc động khó ngờ tới cho khách hàng: như trả lại tiền bị bỏ quên với một số

lượng lớn và khách hàng khơng mong có cơ hội thấy lại; có các hành động đẹp bất ngờ gây

cảm xúc sâu sắc cho khách hàng...

VD1: Báo Tuần tin VNPT số 83 ngày 1/3/2010 có đăng bài "Giao dịch viên Bưu điện trả

lại ví tiền khách hàng bỏ quên". Bài báo có đoạn: "Ơng Hồ Thành Trung đến sử dụng dịch vụ

bưu chính tại Bưu cục Cẩm Lệ thuộc BĐ TP Đà Nẵng đã bỏ quên ví tiền và một số giấy tờ

quan trọng. Ngay sau đó nhân viên Bưu điện đã liên lạc để trả lại tài sản cho khách hàng.

Cảm động trước tấm lòng của giao dịch viên VNPT TP Đà Nẵng, ơng Trung đã viết bài "Còn

nhiều người tốt quanh ta" đăng tại mục ý kiến Báo Đà Nẵng ngày 25/2/2010. Giao dịch viên

tâm sự: "Khách hàng cũng như mình, nếu rơi vào hồn cảnh đó chắc mình cũng lo lắng lắm

nên mặc dù khơng tìm thấy số điện thoại cũng như địa chỉ cụ thể của ông Trung trong số giấy

tờ bỏ quên, mình cũng cố gắng tìm cách liên lạc để giao lại". Chị cho biết ở Bưu cục này

không những chị mà nhiều chị em khác đã thường xuyên trả lại tiền thừa và ví khách hàng để

quên".

Việc làm tốt của nhân viên VNPT Thành phố Đà Nẵng đã góp phần làm cho hình ảnh

người giao dịch viên ngày càng đẹp hơn trong mắt khách hàng.

8-Các ý kiến về chất lượng sản phẩm, dịch vụ BCVT

Về chất lượng sản phẩm dịch vụ, khách hàng chủ yếu phàn nàn về việc bưu gửi EMS,

Vexpress, Chuyển tiền nhanh chậm chỉ tiêu, báo chí về chậm, bưu gửi bị rách vỡ, suy suyển,

hư hỏng, gọi điện thoại bị rớt mạch, phàn nàn bị hiện tượng xuyên âm qua đường dây điện

thoại, tốc độ truy nhập Internet chậm, chập chờn, có lúc khơng vào mạng được, dịch vụ 1080

chưa đáp ứng được nhu cầu đa dạng của khách hàng.

Nói chúng trong những năm qua dịch vụ BCVT đã đáp ứng được nhu cầu ngày càng

cao của tầng lớp dân cư, được nhân dân khen ngợi và đánh giá cao. Có những lá thư, có

những bài báo của khách hàng cảm ơn doanh nghiệp và nhân viên Bưu điện. Tuy nhiên, cũng

có những đơn vị đã để khách hàng còn kêu ca, phàn nàn về chất lượng dịch vụ, về thái độ

phục vụ chưa tốt, chưa nhiệt tình, thờ ơ, bàng quan với những khó khăn, thắc mắc, với các

khiếu nại của khách hàng.

Dịch vụ BCVT mang tính vơ hình do đó chúng ta cần phải hữu hình hóa các yếu tố

khác để tác động vào tiến trình mua sản phẩm dịch vụ của khách hàng thông qua các trang

thiết bị làm việc hiện đại, tiện nghi, thông qua cách gói bọc và niêm phong Bưu gửi chắc

chắn và thơng qua phong cách phục vụ nhiệt tình, chu đáo, niềm nở với khách hàng. Khi

khách hàng đã lựa chọn doanh nghiệp mình để mua, để sử dụng dịch vụ thì cần phải cố gắng

cung cấp cho họ một sản phẩm dịch vụ tốt nhất có thể, một sản phẩm dịch vụ hoàn chỉnh theo

ý muốn của họ.

GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ FTTH

FTTH là công nghệ kết nối viễn thông hiện đại trên thế giới với đường truyền dẫn hoàn toàn

bằng cáp quang từ nhà cung cấp dịch vụ tới tận địa điểm của khách hàng. Tính ưu việt của



công nghệ cho phép thực hiện tốc độ truyền tải dữ liệu internet xuống/lên (download/upload)

ngang bằng với nhau, điều mà công nghệ ADSL chưa thực hiện được.

Nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu truyền thông và viễn thông của mọi đối tượng sử dụng, Viễn

Thơng Khánh Hòa đem đến cho khách hàng giải pháp truy cập internet bằng cáp quang FTTH với nhiều tiện ích vượt trội

Tốc độ truy nhập Internet cao, lên đến 10 Gigabit/giây, nhanh gấp 200 lần so với ADSL 2+

Chất lượng tín hiệu ổn định, khơng bị ảnh hưởng bởi thời tiết, chiều dài cáp…

An toàn cho thiết bị (không sợ sét đánh lan truyền trên đường dây)

Nâng

cấp

băng

thông

dễ

dàng



không

cần

kéo

cáp

mới

Đáp ứng hiệu quả cho các ứng dụng Công nghệ thông tin hiện đại như: Hosting Server riêng,

VPN (mạng riêng ảo), Truyền dữ liệu, Game Online, IPTV (truyền hình tương tác), VoD

(xem phim theo yêu cầu), Video Conferrence (hội nghị truyền hình), IP Camera

SO SÁNH FTTH VÀ ADSL

Tốc độ upload của FTTH vượt qua ngưỡng của chuẩn ADSL2+ (1Mbps) hiện tại và có thể

ngang bằng với tốc độ download. Vì vậy thích hợp với việc truyền tải dữ liệu theo chiều từ

trong mạng khách hàng ra ngoài internet. Độ ổn định và tuổi thọ cao hơn dịch vụ ADSL do

không bị ảnh hưởng bởi nhiễu điện, từ trường; Khả năng nâng cấp tốc độ (download/upload)

dễ dàng.

Bên cạnh các ứng dụng như ADSL có thể cung cấp Triple Play Services (dữ liệu, truyền hình,

thoại), với ưu thế băng thơng vượt trội, FTTH sẵn sàng cho các ứng dụng đòi hỏi băng thơng

cao, đặc biệt là truyền hình độ phân giải cao (HDTV) yêu cầu băng thông lên đến vài chục

Mbps, trong khi ADSL không đáp ứng được. Độ ổn định ngang bằng như dịch vụ internet

kênh thuê riêng Leased-line nhưng chi phí thuê bao hàng tháng thấp hơn vài chục lần. Đây sẽ

là 1 gói dịch vụ thích hợp cho nhóm các khách hàng có nhu cầu sử dụng cao hơn ADSL và

kinh tế hơn Leased-line.

CHÍNH SÁCH CHĂM SĨC KHÁCH HÀNG SƯ DỤNG INTERNET QUANG FTTH

VNPT

Khánh

Hòa

đưa

ra

chính

sách

sau:

Kể từ ngày 18/06/2009 cho đến khi có quyết định mới, khách hàng ký hợp đồng lắp đặt

Internet quang FTTH sẽ được hưởng các chính sách sau:

1/ Chính sách giảm cước:

a/

Đối

với

khách

hàng

cam

kết

sử

dụng

lâu

dài:

- Thuê từ 1 năm đến dưới 3 năm: giảm 10% cước thuê kênh tháng.

- Thuê từ 3 năm trở lên: giảm 15% cước thuê kênh tháng.

b/ Đối với khách hàng lớn và khách hàng đặc biệt của VNPT Khánh Hòa: giảm 25% cước

thuê kênh tháng.

2/ Cước dịch chuyển dịch vụ FTTH từ địa chỉ này sang địa chỉ khác: thu bằng 30%

mức cước đấu nối, hòa mạng mới theo tốc độ tương ứng.

3/ Chuyển đổi sư dụng dịch vụ từ cáp đồng sang dịch vụ cáp quang FTTH: thu bằng

50% mức cước đấu nối, hòa mạng mới theo tốc độ tương ứng.

Fiber VNN - Internet cáp quang VNPT/Fiber VNN

VDC: Ra mắt dịch vụ internet cáp quang Fiber VNN

Hôm nay (25/5), tại Hà Nội, Công ty Điện Toán và Truyền Số liệu (VDC) thuộc Tập

Đoàn Bưu Chính Viễn Thơng Việt Nam (VNPT) đã chính thức ra mắt sản phẩm mới

“Dịch vụ Internet cáp quang Fiber VNN”. Dịch vụ này là bước đột phá mới trong lĩnh

vực thương mại điện tư của Việt Nam.

Với đường truyền truy nhập internet tốc độ cao (từ 8 Mbps trở lên), dựa trên công nghệ

đường dây thuê bao số bất đối xứng ADSL do Tập Đồn Bưu Chính Viễn thơng Việt Nam

(VNPT) cung cấp, kết nối mạng LAN/WAN, gọi điện thoại qua internet, đào tạo đại học và

giáo dục từ xa, truy cập những website thiết kế với chất lượng cao, xem trực tuyến bài hát,

bản tin... từ khắp mọi nơi trên thế giới, hội thảo video qua mạng: kết hợp với webcam, Fiber

VNN sẽ giúp khách hàng đàm thoại với bạn bè người thân hay đối tác kinh doanh qua

internet với âm thanh và hình ảnh chất lượng cao...



Theo đại diện VDC, đơn vị được VNPT giao chủ quản dịch vụ Fiber VNN, khách hàng mục

tiêu của dịch vụ Fiber VNN là các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng dịch vụ Internet trong

nước lớn (khoảng 70%) và nhu cầu Internet quốc tế nhỏ (30%); các doanh nghiệp vừa và nhỏ,

các đại lý Internet công cộng, hộ kinh doanh cá thể, trường học, bệnh viện...

Đa dạng về gói cước

Dịch vụ này có nhiều gói cước với tốc độ kết nối khác nhau, đáp ứng nhu cầu đa dạng của

các đối tượng khách hàng là cá nhân, hộ gia đình, các doanh nghiệp, các điểm dịch vụ

internet công cộng, game với chi phí rẻ và chất lượng.

Tốc độ truy nhập tối đa là 102.400Kbps, Fiber VNN sẽ có 6 gói dịch vụ, trong đó các gói

cước F1, F2 có hai phương thức thanh tốn trọn gói hoặc theo lưu lượng sử dụng. Các gói F3,

F4, F5, F6 thanh tốn theo phương thức trọn gói.

Cụ thể, nếu trả theo lưu lượng gửi và nhận, với tốc độ truy nhập tối thiểu lần lượt là 512

Kbps, 640 Kbps, các góiF1, F2 có mức cước thuê bao tháng lần lượt là 600.000 đồng,

800.000 đồng; cước theo lưu lượng là 60 đồng/Mbyte và 80 đồng/Mbyte; cước sử dụng tối đa

(bao gồm cước thuê bao tháng) là 2,8 triệu đồng/tháng và3,5 triệu đồng/tháng. Nếu trả

theo phương thức trọn gói, khơng phụ thuộc lưu lượng sử dụng, gói F1 có mức cước2 triệu

đồng, gói F2 là 2,5 triệu đồng, gói F3 là 3,5 triệu đồng

Với tối thiểu lần lượt là 1.024Kbps, 1.536Kbps, 2.048Kbps, cũng không phụ thuộc lưu

lượng sử dụng, các gói cước F4, F5, F6 có giá trọn gói lần lượt là 6 triệu đồng, 12 triệu

đồng và 16 triệu đồng.

Sẵn sàng về mạng lưới

Giải thích lý do vì sao đến thời điểm này VDC/VNPT mới chính thức cơng bố khai trương

dịch vụ, Phó Tổng Giám đốc VNPT Bùi Thiện Minh cho biết, dịch vụ Internet cáp

quang FTTH không phải là dịch vụ mới tại Việt Nam, song hơm nay VDC/VNPT chính

thức làm lễ cơng bố, giới thiệu dịch vụ này với tên gọi Fiber VNN để khẳng định

rằng VNPT đã sẵn sàng để đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng với một hạ tầng mạng lưới

hoàn thiện. VNPT cam kết cung cấp dịch vụ Fiber VNN về chất lượng dịch vụ, chất lượng

phục vụ và giá cả hợp lý.

Theo Phó Tổng giám đốc VNPT Bùi Thiện Minh, mục tiêu của VNPT là phải chuẩn bị một

hạ tầng mạng lưới và kỹ thuật thực sự đủ mạnh và hiện đại để có thể cung cấp dịch vụ một

cách tốt nhất. Chính vì vậy, trong 5 năm qua, mỗi năm VNPT đã đầu tư khoảng 1 tỷ USD để

phát triển một hạ tầng mạng lưới cáp quang đồng bộ và hiện đại nhất. Đến nay, mạng cáp

quang của VNPT đã được hoàn thiện ở các tuyến đi quốc tế, xa lộ nội tỉnh, liên tỉnh. Về cơ

bản, hệ thống mạng lưới của VNPT đã được chuyển sang mạng thế hệ mới.

Theo dự kiến, trong năm 2010, các node điều khiển trên mạng lưới, hệ thống quản lý chất

lượng mạng băng thông rộng sẽ được VNPT đầu tư ở mức hiện đại nhất, đồng bộ

nhất. Mạng cáp quang sẽ được triển khai tới tận cấp huyện, xã và từng điểm truy nhập. Theo

kế hoạch, sau 2 năm nữa, vào năm 2011, VNPT sẽ hoàn thành hạ tầng mạng băng thông cực

lớn, công nghệ IP hiện đại.

Được biết, FTTH là công nghệ băng thông rộng bằng cáp quang cung cấp các dịch vụ tốc độ

cao đang được triển khai khá mạnh mẽ trên thế giới. Với công nghệ FTTH, nhà cung cấp

dịch vụ có thể cung cấp tốc độ download lên đến 10 Gigabit/giây, nhanh gấp 200 lần so với

ADSL 2+.

FTTH đặc biệt hiệu quả với các dịch vụ: Hosting Server riêng, VPN (mạng riêng ảo),

Truyền dữ liệu, Game online, IPTV (truyền hình tương tác), VoD (xem phim theo yêu

cầu), Video Conferrence (hội nghị truyền hình),IP Camera… với ưu thế băng thơng truyền

tải dữ liệu cao, có thể nâng cấp lên băng thông lên tới 1Gbps, an tồn dữ liệu, độ ổn định cao,

khơng bị ảnh hưởng bởi nhiễu điện, từ trường...

Cung cấp thử nghiệm từ đầu năm 2009, dịch vụ Intenet cáp quang trên nền công

nghệ FTTH được triển khai tại hầu hết các tỉnh tỉnh trong cả nước. Tính đến đầu tháng

5/2010, tồn mạng VNPT đã có xấp xỉ 14.000 thuê baoFTTH, tốc độ tăng trưởng bình quân

đạt khoảng 25%/tháng.



Đi tìm chân dung người bán hàng chun nghiệp

Tính cách, niềm tin và sự nhiệt tình luôn là những phẩm chất quan trọng của một

người bán hàng giỏi. Tuy nhiên, với cuộc cạnh tranh trong một thế giới phẳng như hiện

nay, đó chỉ là những điều kiện cần nhưng chưa thật sự đủ. Họ - những người bán hàng

chun nghiệp khơng chỉ cần mẫn mà còn phải khôn ngoan hơn trong cách giao tiếp và

các mối quan hệ. Sau đây là 11 yếu tố cần thiết để có thể trở thành một người bán hàng

chuyên nghiệp

1. Ấn tượng đầu tiên

Người bán hàng chuyên nghiệp cần phải biết thủ thuật tạo ấn tượng cho khách hàng

ngay từ lần đầu gặp gỡ, tiếp xúc qua điện thoại hoặc phương thức giao tiếp khác. Ấn

tượng sẽ gieo vào lòng khách hàng sự tin tưởng vào triển vọng phát triển của thương

vụ. Yếu tố tạo nên ấn tượng đầu tiên mà người bán hàng buộc phải thực hành thường

xuyên là sự xuất hiện bản thân từ trang phục, ngôn ngữ cơ thể, ánh mắt, cách bắt tay,

phong cách lịch sự nhã nhặn và luôn đúng giờ.

2. Độ sâu kiến thức

Thể hiện sự hiểu biết tốt của người bán hàng về chuyên ngành đang hoạt động như sản

phẩm, công ty, các đối thủ, triển vọng của ngành. Ngoài ra, kiến thức tổng qt chung

về nền kinh tế, chính trị có liên quan đến công tác kinh doanh cũng thể hiện sự hiểu

biết của người bán hàng. Để có được độ sâu kiến thức, người bán hàng phải tự nỗ lực

rèn luyện bản thân qua sách báo, hội thảo chuyên ngành, các khóa đào tạo, hội nghị

khách hàng và biết cách lắng nghe sự phản hồi từ khách hàng.

3. Độ rộng kiến thức

Người bán hàng giỏi khi có đủ độ rộng kiến thức sẽ phát triển tư duy tổng hợp, phân

tích và sâu chuỗi các chủ đề để có thể giao tiếp tương tác sâu với khách hàng một cách

hiệu quả. Khách hàng sẽ cảm thấy thoải mái hơn khi có thể chia sẻ những mối quan

tâm chung với người bán hàng các sự kiện thể thao, văn hóa, sự kiện thế giới hoặc bất

cứ vấn đề gì khách hàng quan tâm. Độ rộng kiến thức hình thành từ thói quen đọc,

lắng nghe hiệu quả và kiên trì học tập.

4. Khả năng thích ứng

Cho thấy thiện chí và khả năng điều chỉnh thay đổi phong cách hướng đến khách hàng.

Vì phải giao tiếp với nhiều đối tượng khách hàng khác nhau nên đòi hỏi người bán

hàng phải có sự thích ứng cần thiết để phù hợp với từng đối tượng. Tính thích ứng này

khơng nên được hiểu sai là tính khơng chân thật khi người bán phải ln “chuyển

mình” chỉ nhằm phù hợp với đối tượng khách hàng nào đó. Người bán hàng khi có tính

thích ứng cao sẽ tạo cho khách hàng cảm giác thoải mái khi làm việc.

5. Tính nhạy cảm

Cốt lõi của đức tính này là khả năng thấu cảm hoặc có thể đặt mình vào vị trí của



người khác. Người bán hàng phải có sự quan tâm chân thật đến nhu cầu và các vấn đề

có liên quan của khách hàng. Khách hàng sẽ nhanh chóng cảm nhận được thái độ tích

cực của người bán hàng và sẽ có những phản hồi theo chiều hướng tích cực hơn cho

thương vụ.

Kỹ năng lắng nghe tốt cũng được xem là một khía cạnh của tính nhạy cảm. Theo sự

đánh giá chung, yếu tố dễ thất bại nhất trong một thương vụ lại là kỹ năng lắng nghe

và thấu hiểu khách hàng kém. Tâm lý chung, hầu hết chúng ta thường có khuynh

hướng thích một cuộc nói chuyện chỉ khi người khác biết lắng nghe những gì chúng ta

chia sẻ.

6. Sự nhiệt tình

Phản ánh sự tận tụy của người bán hàng trong việc giải quyết các nhu cầu của khách

hàng. Người bán hàng nên đóng vai trò là một tư vấn viên tìm kiếm giải pháp hơn là

việc chỉ hành xử như một “lái bn”. Chính sự nhiệt tình sẽ nâng tầm người bán hàng

từ mối quan hệ khách hàng thuần túy lên mối quan hệ đối tác. Khách hàng thường có

khuynh hướng phản hồi tích cực với các nỗ lực nhiệt tình từ phía người bán. Và trong

một tổ chức, người bán hàng nhiệt tình sẽ ln có nhiều cơ hội thăng tiến.

7. Lòng tự trọng

Liên quan đến nhân cách của người bán hàng, thể hiện ở mức độ “yêu nghề kính

nghiệp” và tơn trọng các sản phẩm hoặc dịch vụ mà họ đang kinh doanh. Nếu người

bán hàng không thật sự tin tưởng vào những gì họ đang chào bán thì được xem là

khơng chân thật với bản thân và khách hàng cũng khơng thể tín nhiệm sản phẩm hoặc

dịch vụ đó được. Người bán hàng phải có thái độ nghiêm túc với sản phẩm, với doanh

nghiệp và với các thông điệp bán hàng. Người thiếu sự tự trọng bản thân sẽ rất khó

thành cơng trong lĩnh vực bán hàng.

8. Ĩc khơi hài

Khơi hài sẽ giúp cho khách hàng cảm thấy thoải mái khi làm việc và nhớ đến người

bán hàng nhiều hơn. Đặc biệt trong khi đàm phán căng thẳng, tính khơi hài sẽ xua tan

bầu khơng khí ngột ngạt và phần nào hóa giải được những bước dò xét của khách

hàng, giúp cân bằng cán cân tâm lý khi thương lượng. Tuy nhiên, khoảng cách giữa

khôi hài và lố bịch rất mong manh, vì vậy người bán hàng cần thận trọng để không tạo

nên sự phản cảm khi q lạm dụng hoặc pha trò khơng đúng lúc.

9. Tính sáng tạo

Là khả năng kết nối những ý tưởng có vẻ khơng liên quan đến nhau nhưng lại đi đến

giải pháp thống nhất cho những vấn đề nảy sinh. Khả năng này rất quan trọng áp dụng

cho nhiều lĩnh vực bán hàng khác nhau từ bán hàng thương mại cho đến bán hàng kỹ

thuật vì họ thường bán cả một hệ thống hơn là việc bán một sản phẩm đơn lẻ. Một khi

người bán hàng luôn biết đề ra các giải pháp tối ưu hóa nhu cầu và tư vấn giải quyết

các vấn đề của khách hàng thì họ sẽ tạo nên sự khác biệt hóa giữa các cơng ty kinh

doanh cùng nhóm sản phẩm hoặc ngành hàng. Tính sáng tạo không chỉ dừng lại ở các



ý tưởng mà còn là chất lượng hành động để biến những ý tưởng đó thành hiện thực.

10. Dám mạo hiểm

Tính cách này thể hiện thiện chí dám chấp nhận rủi ro, hay còn gọi là “máu liều”.

Người bán hàng phải sẵn sàng đương đầu với những rủi ro khi đề ra các ý tưởng hoặc

giải pháp có thể đưa đến kết quả không như mong đợi. Mạo hiểm trong kinh doanh

nghĩa là ln tìm kiếm sự thay đổi hơn là việc chấp nhận tính đơn điệu tẻ nhạt. Người

bán hàng giỏi là người phải thường xuyên xúc tiến những ý tưởng mới, phương thức

mới và các giải pháp mới nhằm mục đích tối ưu hóa nhu cầu khách hàng, thu lợi cho

cơng ty và cho chính bản thân họ.

11. Tạo dựng mối quan hệ

Cơ hội kinh doanh luôn tiềm ẩn trong các mối quan hệ. Có những thương vụ chỉ thuần

túy là sự tương tác đơn lẻ giữa người bán và người mua. Tuy nhiên, hầu hết các hoạt

động bán hàng cá nhân đều được xây dựng nhằm hướng đến việc duy trì mối quan hệ

dài hạn với khách hàng. Xây dựng mối quan hệ tốt với khách hàng hiện tại và tiềm

năng chính là điểm mấu chốt thành cơng trong tương lai nhằm mang lại sự trân trọng

và tin cậy của khách hàng.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2- Theo vị trí của người bán hàng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×