Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 7: Vai trò của chính phủ trong hoạch định chính sách

Chương 7: Vai trò của chính phủ trong hoạch định chính sách

Tải bản đầy đủ - 0trang

Với sự lo lắng như đã nói ở trên, chúng ta khơng có gì ngạc nhiên khi chính phủ của

các quốc gia trên thế giới đã thực hiện chính sách can thiệp để giúp nơng dân và người tiêu

dùng khắc phục rủi ro có hiệu quả hơn. Trong chương này chủ yếu chúng ta sẽ xem sét lại

các vấn ñề ñược nhà nước can thiệp cần phải ñiều chỉnh, và ñánh giá rút ra kinh nghiệm ñối

với một số chính sách can thiệp thơng thường của chính phủ Mỹ.

2. Rủi ro trong nông nghiệp và khuyết tật của thị trường

Trong một thế giới lý tưởng mà các nhà kinh tế tưởng tượng, thì có một vùng mà

trong đó các thị trường tồn tại và các đơn vị kinh tế có khả năng trung hồ được rủi ro. Một

thế giới như vậy là một thế giới mà các nguồn lực trong nơng nghiệp được phân bổ và sử

dụng khơng có một rủi ro nào xảy ra và moị cá nhân có thể yên tâm tận hưởng vô tận mà

không cần suy nghĩ gì đến biến động thu nhập và giá cả.

Trong thực tế, tồn tại nhiều cơ chế dẫn ñến rủi ro, nhưng vấn ñề cơ bản mấu chốt là

khuyết tật thị trường. Câu hỏi đặt ra là đã có những phương án nào ñể quản lý rủi ro hay

chưa? và phúc lợi xã hội tổn thất lớn ñến mức nào? Trả lời các câu hỏi trên chính là cung cấp

cơ sở đánh giá sự cần thiết phải có sự can thiệp của chính phủ.

Từ góc độ của người nơng dân thì rủi ro có thể làm giảm phúc lợi qua nhiều con

ñường khác nhau. Rủi ro do dự báo sai dẫn đến sử dụng nguồn lực khơng hiệu quả, hoặc một

phần do người nông dân phải áp dụng chiến lược giảm rủi ro (ví dụ như áp dụng đa dạng

hố), có thể dẫn đến giảm năng suất bình qn và vì thế cũng giảm thu nhập bình quân.

Ở các nước ñã phát triển có nhiều tổ chức chia xẻ rủi ro với nơng dân, ví dụ nơng dân

có thể thường xuyên và dễ dàng vay ñể sản xuất và tiêu dùng kể cả năm thuận lợi cũng như

năm khó khăn. Trong nhiều trường hợp, họ ñược tiếp cận với các loại bảo hiểm, họ ñược lựa

chọn bảo hiểm cho cây trồng vật nuôi mà họ muốn. Ở các nước chậm phát triển thì các kiểu

bảo hiểm này chưa phát triển và không tồn tại khắp mọi nơi cho nông dân sản xuất nhỏ.

Người tiêu dùng cũng có nhiều lựa chọn trong quản lý biến ñộng giá lương thực thực

phẩm. Nếu biến động giá, họ có thể thay thế các lương thực thực phẩm khác trong bữa ăn

hoặc có thể bình chân, lẳng lặng mà sử dụng tín dụng hoặc sử dụng lương thực dự trữ.

Nông dân và người tiêu dùng quản lý rủi ro có hiệu quả như thế nào? và chi phí của

xã hội lớn đến mức nào? Những cảm nhận/ kinh nghiệm đã có còn q ít ỏi ñể trả lời chính

xác các câu hỏi trên. Những thiệt hại ước tính được (tổng thặng dư người sản xuất và người

tiêu dùng) (từ phản ứng ñối với rủi ro) có thể rất lớn ở phạm vi khu vực, ví dụ 5-10% trong

một mơ hình về sản xuất nơng nghiệp có tưới tiêu ở Mexico (Hazell & Scandizzo 1977) và

thậm chí còn lớn hơn nữa đối với một vài loại nơng trại. Nhưng các ước lượng đó thường là

dựa trên các mơ hình tốn học, đặc biệt là bỏ qua các chiến lược chia sẻ rủi ro như vấn ñề đa

dạng hố sản xuất, do đó dẫn đến sự sai chệch.

Phúc lợi bị thiệt hại do dự báo sai sẽ tối thiểu hố được và xác suất sẽ nhỏ nếu nông

dân chọn giá kỳ vọng hợp lý (Muth 1961; Kantor 1979; Newbery & Stiglitz 1981; Willams &

Wright 1991). Nhưng tổn thất có thể lớn hơn nếu nơng dân dự báo một cách ngây thơ rằng

giá cả, và ñặc biệt cho là rủi ro năng suất cũng giống như năm ngoái vậy. Ở các nước cơng

nghiệp phương tây nơng dân có xu hướng sử dụng chỉ tiêu doanh thu (revenue) là chỉ tiêu kỳ

vọng (Kỳ vọng hợp lý trong mơ hình kinh tế lượng), trong khi đó thì ở các nước chậm phát

triển và các nước có nền kinh tế kế hoạch hố tập trung thì khơng. Những nghiên cứu hiện

nay ñã tìm thấy các kết quả khả quan hơn về khả năng dự báo xác suất của người nông dân (

Holt & Johnson 1989; Pluske & Fraser 1995), hình như đó là kết quả của sự tích luỹ kinh

nghiệm và ñào tạo hợp lý hơn.

Hình như khuyết tật thị trường thể hiện rõ hơn khi có các thảm hoạ như hạn hán hoặc

lụt lội trên diện rộng xảy ra vì ñó là vấn ñề tác ñộng tổng thể (covariation problem). Tác động

Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi ro ----------------------------------------------117



tổng thể là vấn đề ñược khẳng ñịnh là nguyên nhân chính gây thiệt hại cho các khoản nợ

ngân hàng, thậm chí cả ở các nước đã rất phát triển như Mỹ, mặc dù nó thường khó xác định

là khoản thiệt hại do khơng có khả năng trả nợ hay do mong đợi chính phủ xoá nợ trong

những năm gặp thiên tai (Anderson & Dillon 1988). Trong những năm trước đây chính phủ

đã phản ứng q nhiều đối với khó khăn của nơng dân bằng cách xố nợ cho họ, cái đó đã

làm giảm hoạt ñộng của hệ thống tín dụng và dẫn ñến một tín hiệu sai của nơng dân về nhu

cầu lãnh chịu trách nhiệm về quản lý rủi ro của họ.

Bất ổn ñịnh giá cả không phải là vấn ñề ñáng sợ ñối với người tiêu dùng ở các nước

mà tỉ lệ chi tiêu cho lương thực thực phẩm chỉ chiếm một phần nhỏ trong thu nhập của gia

đình, điều này cũng ñúng với các nước có thu nhập khiêm tốn như Costa Rica (Hazell &

Stewart 1993). Vấn ñề trở nên nguy hiểm hơn đối với các nước có thu nhập rất thấp và nói

chung là đối với người nghèo, nơi mà có rất ít lựa chọn trong quản lý giá lương thực thực

phẩm ( Sahn & von Braun 1989).

Mặc dù không có những đánh giá định lượng một cách đầy đủ về tổn thất của khuyết

tật thị trường trong quản lý rủi ro, và vì lợi ích tiềm năng của xã hội từ bảo trợ của chính phủ,

chính phủ các nước ñã áp dụng nhiều chính sách quản lý rủi ro khác nhau. Bây giờ chúng ta

trở lại ñánh giá và rút kinh nghiệm một số chính sách can thiệp chủ yếu sau đây

3. Kinh nghiệm về các chính sách quản lý rủi ro của nhà nước

Với tính đa dạng phong phú của rủi ro và tính rộng lớn về mặt ñịa lý mà kinh nghiệm

về các chính sách bảo trợ rủi ro, khơng có gì ngạc nhiên, là rất đa dạng và khác nhau.

3.1. ðầu tư vào các tài sản công

ðầu tư vào các tài sản công không chỉ nhằm hạn chế rủi ro cho nơng nghiệp mà còn

có mục ñích khác. ðầu tư cho thuỷ lợi là một ví dụ, ngồi mục đich tưới tiêu còn có mục đích

nâng cao năng suất ñất ñai và tài nguyên nước, cũng như tăng công ăn việc làm cho nông

thôn và tăng khả năng tự cung cấp lương thực.

Tương tự, hiệu ứng hạn chế rủi ro từ chọn tạo giống cây trồng chống chịu sâu bệnh và

chịu úng, hạn sẽ ñược nhân lên thơng qua đầu tư của chính phủ cho cơng việc nghiên cứu.

Dạng ñầu tư như vậy gọi là ñầu tư vào tài sản cơng, đó là sự can thiệp cần thiết của chính

phủ. Q trình này khơng những đã mang lại thành cơng lớn trước mắt mà còn cần thiết cho

cả tương lai. Làm được việc này khơng phải là dễ vì có sự cạnh tranh về tài chính trong

nghiên cứu và phát triển ở các nước nghèo và cả ở các nước giàu. Khu vực tư nhân có vai trò

cung cấp, ít nhất là một vài dịch vụ nơng nghiệp, ví dụ như ngơ lai và đã được bảo vệ quyền

sở hữu.

3.2. Ổn ñịnh giá

Ổn ñịnh giá là một hình thức can thiểp truyền thống của chính phủ đối với khu vực

nơng nghiệp. Có nhiều cơ chế đã ñược áp dụng ñể theo ñuổi mục ñích trên và đã có nhiều

thành cơng cũng như sai lầm. Ví dụ vấn đề dự trữ, ích lợi thấy được từ dự trữ là tương ñối

nhỏ. Hơn nữa áp dụng vào thực tế có nhiều vấn đề nan giải phải khắc phục, ñó là rất khó

ñánh giá phản ứng cung ñối với việc ổn ñịnh giá ñưa ra. ðời sỗng sẽ ñơn giản hơn nếu dự trữ

khơng tốn kém gì. Nhưng khơng phải như thế, như kinh nghiêm của liên minh châu Âu về

ngũ cốc, và của Úc về kho dự trữ lơng cừu khổng lồ là bằng chứng đã chứng minh ñiều ñó.

3.3. Bảo hiểm cây trồng

Bảo hiểm cây trồng là hình thức được cả các nước kém phát triển và ñã phát triển áp

dụng. ðộng lực ñối với các chương trình này thường là bắt nguồn từ sự quan tâm của chính

phủ đối với các rủi ro do thảm hoạ như hạn, hoặc hạn chế tình trạng khơng trả được nợ nhà

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi ro ----------------------------------------------118



băng/ngân hàng. Chỉ trừ một ít trường hợp, còn đa số kết quả tài chính của bảo hiểm cây

trồng ñã trở nên tồi tệ (Hazell 1992). ðể có hiệu quả kinh tế mà khơng cần đến trợ giúp/bù lỗ

của chính phủ thì nhà bảo hiểm phải giữ ñược lượng chi bảo hiểm nhỏ hơn lượng thu phí bảo

hiểm của nơng dân. Trong thực tế, nhiều chương trình bảo hiểm cây trồng lớn trả 2,5 đơla

hoặc nhiều hơn cho 1 đơ la họ thu phí bảo hiểm của nông dân. Phần chênh lệch do nhà nước

bù lỗ (với số lượng 10-400 đơla cho một ha bảo hiểm). Với lượng bù lỗ này nhiều nơng dân

còn miễn cưỡng mua bảo hiểm. Kết quả là, nhiều chương trình bảo hiểm của chính phủ làm

là mang tính bắt buộc kể cả đối với những nơng dân trồng các cây chun mơn hố đặc biệt

(như Nhật Bản) hoặc đối với nơng dân có vay tiền từ ngân hàng nơng nghiệp như ở Mexico.

Ngun nhân ban đầu của chi phí cao của các chương trình bảo hiểm cây trồng của

chính phủ là hướng vào bảo hiểm rủi ro về thiệt hại là thuộc vấn ñề ñạo ñức (Hazell 1995a) .

Các loại rủi ro này bao gồm rủi ro do thời tiết khí hậu, sâu bệnh, những rủi ro rất khó định

lượng và đánh giá và các thiệt hại này có thể chịu ảnh hưởng bởi các hoạt ñộng quản lý của

người nơng dân. Vấn đề trở nên tồi tệ khi bảo hiểm là bảo hiểm năng suất cố định nào đó chứ

không phải là bù những thiệt hại thực sự. Nhưng ñây không phải là nguyên nhân duy nhất

của sai lầm.

Một yếu tố khác lớn hơn và là vấn ñề nhạy cảm, đó là chính phủ xây dựng một lượng

bảo đảm hiệu quả tài chính của người cung cấp bảo hiểm. Nếu nhân viên bảo hiểm biết rằng

mọi thiệt hại hoặc lỗ ñều ñược nhà nước bù ñắp một cách tự động thì họ sẽ ít nhạy cảm theo

đuổi việc kêu các hoạt động bảo hiểm khi họ làm phí bảo hiểm và ñánh giá thiệt hại. Trong

thực tế, họ sẽ tìm cái lợi trong việc thơng đồng/cấu kết với nơng dân khi đề trình các khiếu

nại rủi ro.

Bây giờ lý do thơng thường cho sai lầm của chính phủ đó là chính phủ làm suy yếu

người cung cấp bảo hiểm nhà nước vì lý do chính trị. Ví dụ ở Mexico, thống kê cho thấy tổng

số tiền bồi thường thiệt hại tăng lên ñột ngột ngay trước khi bầu cử và trong các năm có bầu

cử, và lại giảm đi ngay sau đó. Ở nước Mỹ, chính phủ Mỹ đã lập tức làm mất uy tín của các

nhà bảo hiểm cây trồng bằng cách hỗ trợ trực tiếp cho người sản xuất ở vùng bị thiệt hại. Tại

sao nông dân mua bảo hiểm cây trồng ñối với những thảm hoạ lớn (gồm cả hạn hán) khi họ

biết rằng hành lang nơng nghiệp ln ln có thể được sử dụng cho áp lực chính trị cần thiết

để trực tiếp nhận được sự ủng hộ ñối với họ trong thời gian cần thiết mà khơng mất chi phí

tài chính nào?

Lý do chi phí tốn kém khác của họ là những người cung cấp bảo hiểm cây trồng có xu

hướng chun mơn hố quá sâu, tập trung vào những cây trồng cụ thể, những vùng và những

nơng dân nhất định, đặc biệt là những bảo hiểm gắn với các chương trình tín dụng của những

nhóm nơng dân do nhà nước xác định. Nếu khơng có cơ cấu bảo hiểm tốt và đa dạng thì các

nhà bảo hiểm cây trồng dễ mắc phải các khó khăn cùng một lúc và phải đối mặt với những

tổn thất thuộc vấn đề qui mơ trong một vài năm. Từ khi các tổ chức bảo hiểm của nhà nước

thực sự có khả năng nhận được tái bảo hiểm thương mại, thì chun mơn hố làm tăng sự

phụ thuộc của nó vào nhà nước.

Các nhà bảo hiểm/các tổ chức bảo hiểm cây trồng của nhà nước cũng có xu hướng chi

phí quản lý cao, cái đó một phần là do họ thường bảo hiểm cho nơng dân có qui mô sản xuất

nhỏ, và cũng do công việc bảo hiểm có tính thời vụ rất cao và thiếu một cơ cấu bảo hiểm đa

dạng, có nghĩa là nhân viên và các trang thiết bị không sử dụng hết công suất trong năm.

Cũng khơng có bằng chứng thuyết phục nào về vấn ñề nhà nước bù lỗ bảo hiểm cây

trồng ñã làm lợi cho xã hội. Ví dụ, phân tích lợi ích-chi phí của các chương trình bảo hiểm

của Mexico và Nhật Bản cho thấy lợi ích xã hội là khơng đáng kể so với chi phí của nó

(Bassoco ; Artas & Norton 1986; Tsujii 1986), cũng khơng có nhiều bằng chứng cho thấy

làm tăng cho vay hoặc làm lợi cho ngân hàng nông nghiệp. Trong một nghiên cứu hiếm hoi,

Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi ro ----------------------------------------------119



Pomerada 1984 ñã so sánh kết quả vay bảo hiểm và không bảo hiểm trong cơ cấu vay của

ngân hàng Panama, lợi ích vay bảo hiểm rõ ràng là cao hơn và ổn định hơn khơng bảo hiểm.

Nhưng tổng thể cái ñược của ngân hàng chỉ là khiêm tốn và có thể đạt được dễ dàng hơn chỉ

đơn giản bằng cách cho phép ngân hàng nơng nghiệp tăng 2% lãi suất đối với người vay mà

khơng tốn kém gì của nhà nước. Cái đó cũng đã là rẻ hơn tỉ lệ phí bảo hiểm mà người vay

phải trả bảo hiểm bắt buộc.

Bảo hiểm tư nhân cũng phát triển ở một số nước, và phí này hàng năm khoảng chừng

trên 1 tỉ đơla (Gudger 1991). Nhìn lại bảo hiểm tư nhân thì phần lớn là dành cho bảo hiểm

thảm hoạ ñối với các trang trại sản xuất hàng hố qui mơ lớn trồng các cây có giá trị kinh tế

cao.

3.4. Trợ giúp thảm hoạ

Chính sách trợ gíup thảm hoạ, hoặc thiếu trợ giúp thảm hoạ, ñại diện cho cơ hội can

thiệp của chính phủ.

Dấu hiệu của một chính sách tốt là xoay vào các hoạt ñộng cần thiết mà khơng cần

đến (thậm chí khơng cần sự cho phép) một chính sách thuận lợi nhất. Bây giờ với những

chính sách như vậy khơng còn tạo ra sự nhạy cảm của người sản xuất trong việc tự nỗ lực

hoạch ñịnh kế hoạch chống thảm hoạ thiên tai (như hạn hán) nữa. Ví dụ ở nước Úc, sau

chặng đường dài lịch sử về can thiệp của chính phủ đối với thị trường chăn ni và cỏ khơ

dưới tiêu đề hỗ trợ quản lý hạn hán cho người sản xuất, thì hiện nay đã thực hiện một hệ

thống như thế (DPRTF 1990).

3.5.Cơng cụ chung và cơng cụ tín dụng trong can thiệp ñối với rủi ro

Một cơ chế khác ñể làm giảm bớt ñau ñớn về thiệt hại do rủi ro trong nhiều khu vực

của nền kinh tế đó là chính sách thuế thu nhập. Ở nền kinh tế mà hệ thống thuế thu nhập hoạt

động tốt, thì có thể thực hiện như sau: những người khơng có khả năng đóng thuế, trong đó

có cả nơng dân, thì quản lý dòng thu nhập sau thuế theo cách ít gây ra gánh nặng tài chính

cho họ và nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp khi phải ñối mặt với sự thay ñổi cơ may trong

sản xuất và thị trường. Ở đâu có nhiều nhóm đóng thuế thu nhập ít, thì ở đó có thể là có nhiều

cộng đồng nơng nghiệp, rõ ràng là một công cụ quản lý rủi ro bằng cơ chế quản lý rủi ro như

vậy là có nhiều hạn chế. Nhưng ý tưởng có một cơ chế chung cho tất cả các khu vực của

nền kinh tế là chính đáng.

Một cơ chế tiềm năng nữa đó là thị trường tín dụng. Tín dụng thể hiện như là một

cơng cụ tự quản lý được áp dụng rộng rãi và rất có ích ở các nước đã phát triển, nhưng lại

khơng hắn như thế và không thực sự dễ dàng ở các nước chậm phát triển, ở đâu mà người

nơng dân vay vốn bị trói buộc vào các đầu vào và phải trả nợ vào cuối vụ sản xuất kể cả khi

mùa màng thất bát. Ở các nước kém phát triển thực tế chỉ có khu vực nhà nước mới được

n tâm sử dụng tín dụng trong năm.

Thị trường tín dụng nơng thơn đã phục vụ hiệu quả cho những nơng dân sản xuất

hàng hố hơn cho nơng dân sản xuất tự cung tự cấp, nhiều người trong họ là những người

vay mượn khơng có hiệu quả vì họ đã rất tốn kém ñể ñược vay và ñặc biệt họ phải ñối mặt

với rủi ro sản xuất cao và khơng trả được nợ. Vì vậy nhiều chính phủ đã thành lập ngân hàng

phát triển nơng nghiệp ( ADBs) để cung cấp tín dụng với lãi suất ưu đãi cho nơng dân sản

xuất nhỏ. Những chi phí tốn kém và kết quả tồi tệ của các ADBs trong những năm 1970 và

1980 ñã dẫn ñến phải nỗ lực cho một cuộc cải cách. Thành tố mấu chốt của cuộc cải cách này

là tự do hố thị trường tín dụng và khuyến khích khu vực tư nhân cho vay hợp pháp ở mức

ñộ khác nhau.

Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi ro ----------------------------------------------120



Các tổ chức tín dụng thương mại, đặc biệt là cho nơng nghiệp vay ở các nước kém

phát triển, phải ñối mặt với rủi ro ñáng kể là người vay khơng có khả năng trả nợ. Trong

quản lý các nguồn lực của họ, họ ñã duy trì cung cấp tài chính đa dạng xun các khu vực và

lãnh thổ, họ ñã thành lập các tổ chức cho vay lục ñịa với các ngân hàng khác, xây dựng mối

quan hệ cá nhân với các khách hàng. Những lúc khó khăn họ sẽ làm việc với người vay ñể

xây dựng một kế hoạch cứu vãn quay vòng (rescue plan of roll-overs), ñiều chỉnh lãi suất

…v.v thế chấp thoả thuận. Nhưng sự mềm dẻo đó hiếm khi gặp ở các ngân hàng nông

nghiệp. Một hy vọng về sự tiến bộ là bảo hiểm tín dụng nơng nghiệp và các chương trình bảo

hiểm cây trồng hiện nay khả năng sẽ chuyển sang qui trình bảo hành vay. Hiện tại chưa có

nhiều bằng chứng để nói rằng cái đó giúp các ngân hàng nhiều hơn hoặc tăng lượng cho vay

ñối với nơng nghiệp nói chung và các trang trại nhỏ nói riêng, nhưng nó vẫn cho thấy là có

hiệu quả.

3.6. Tính khơng chắc chắn và xây dựng chính sách

Cho đến bây giờ chúng ta ñã tập trung vào vấn ñề xây dựng chính sách để hạn chế rủi

ro và khơng chắc chắn trong khu vực nơng thơn. Nhưng cũng có thể có nhiều ý kiến suy sét

ngược trở lại đáng được chú ý, đó là có rủi ro được tạo ra thêm trong lòng khu vực nơng thơn

là hậu quả của các chính sách can thiệp của chính phủ hay khơng ?, đã có những kết quả

khơng chắc chắn, hoặc phụ thuộc vào tần suất và sự thay đổi khơng lường trước được của

cách thiết kế và thực hiện các chính sách hay không ? (MacLaren 1980; Gardner et al. 1984).

Hiện nay các quốc gia cố gắng cải cách các chính sách ñối nội trong phạm vi hiệp

ñịnh thương mại GATT là một dẫn chứng (Witzke 1987). Mặc dù công việc đó đã được làm

do hiệu ứng của tự do hố thương mại- như Anderson & Blackhurst 1992 đã phân tích- thì

giá cả của thị trường nơng sản thế giới vẫn không chắc chắn/bấp bênh cả về ý nghĩa cũng như

sự thay đổi của nó. Ví dụ, qua việc mở cửa thương mại nông nghiệp giữa các nước ngày càng

nhiều hơn sẽ làm giảm biến ñộng giá trên thế giới do có hiệu ứng kéo- rủi ro (Risk- pooling

effect), và qua ñó làm giảm biến ñộng giá thế giới, cái ñó có thể lớn hơn số bù trừ ngăn chặn

phá gía do giảm dự trữ…là kết quả của việc giảm bù giá trong nước. Hơn nữa, nhiều quốc

gia cân bằng phản ứng của họ ñối với hiệp ñịnh GATT bằng các chính sách trong nước có lợi

cho người nơng dân và người tiêu dùng, họ ñiều chỉnh và phát triển các chính sách theo cách

hỗ trợ rủi ro ở mọi mức độ.

Một đặc điểm gợi lên trí tò mò của chính sách hạn chế rủi ro là một số nước hiện nay

đang xem xét/cân nhắc để bổ sung các chính sách quản lý rủi ro cơng cộng để giúp nơng dân

khắc phục rủi ro. Ví dụ Mỹ hiện nay đang tính ñến phương pháp bảo hiểm thu nhập, loại bảo

hiểm này sẽ bảo vệ nông dân trước mọi nguồn rủi ro thu nhập, kể cả rủi ro giá do chính phủ

thay đổi chính sách (Tweeten et al.1994). Một kinh nghiệm khơng hay của Mỹ là chính sách

bảo hiểm cây trồng tập trung vào rủi ro sinh học và khí hậu. Nếu bảo hiểm rủi ro thu nhập

được thơng qua, thì tương tự như khái niệm “nơng nghiệp chính phủ” để nâng tầm của chính

sách đó lên mà đến bây giờ chưa tưởng tượng ñược.

Một ñiểm ñáng chú ý và nổi bật là lĩnh vực nông nghiệp tràn ngập rủi ro môi trường.

Tính phức tạp của mơi trường rủi ro, từ vấn ñề sinh học ñến vấn ñề lý học, hoá học và kinh tế

xã hội , làm cho vấn ñề trở nên lẫn lộn (Walker & Gardner 1992; NSCGR 1995). Những dấu

hiệu tiềm năng liên quan ñến rủi ro gồm vấn đề hiệu ứng nhà kính, ơ nhiễm đất do sử dụng

khơng hợp lý các chất nơng hố, quản lý những vật ni mẫn cảm với bệnh tật, hoặc đơn

giản là rửa trơi đất (Anderson & Thampapillai 1990). Chính sách khơng chắc chắn trong phản

ứng ñối với các vấn ñề như chuyển cam kết quốc tế, chuyển lời hứa bầu cử thành chính sách

đối nội và những u cầu mới đối với nơng dân, là những đóng góp vào rủi ro mới của khu

vực nông nghiệp

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi ro ----------------------------------------------121



Một lĩnh vực nữa mà chính phủ có thể làm đó là các vấn ñề thuộc luật bảo vệ quyền

sở hữu nhằm hạn chế ruỉ ro, ñảm bảo tiếp cận với ñất ñai, nước tưới và các tài nguyên quan

trọng khác, cũng là một nguồn rủi ro ñáng ñáng kể. Vấn ñề quan trọng ở nhiều nước hiện

nay là vấn ñề quyền về ñất ñai, ñặc biệt là vấn ñề tiếp cận với người sở hữu truyền thống.

Bằng qui ñịnh của luật pháp đối với tiếp cận các nhóm người hiện nay khơng làm nơng

nghiệp, những người trước đây khơng phải là người có nguồn gốc tại đó, nhà nước có thể

giảm mức rủi ro trong hoạch định mơi trường. Tất nhiên nhà nước có thể bằng cách khác để

bù vào phần tăng hỗ trợ rủi ro. Các thách thức ñối với các chính sách là khơng có kết thúc,

bao gồm cả quyền đất đai khơng chắc chắn.

3.7. Nơng dân và những phản ứng đối với sự can thiệp của chính phủ

Rủi ro là hiện thực. Không ai bắt nông dân phải ở lại với nơng nghiệp, nhưng nhiều

người đã chọn như vậy. Chính phủ thấy khó lòng khơng can thiệp vào nơng nghiệp, đặc biệt

là đối với vấn đề quản lý những rủi ro chính. Bất cứ nơi nào nơng dân cũng biết nơng nghiệp

là ngành kinh doanh có nhiều rủi ro, bất kể chính phủ có làm gì hoặc đơi khi vì chính phủ

làm gì. Khu vực nơng nghiệp hình như khơng nhiều rủi ro hơn các khu vực có qui mơ kinh

doanh nhỏ khác. Kết hợp cái đó, một số ít ý kiến đề cao những đòi hỏi cơ bản đối với chính

phủ về xu hướng xới xáo lên vấn đề quản lý rủi ro của nơng dân với cái gọi là chính sách can

thiệp “đầy giúp đỡ’’ (Tweeten 1955).

Mức độ phản ứng của nơng dân đối với các chương trình của chính phủ phụ thuộc

hồn tồn vào mơi trường quyết định, và tìm kiếm những vấn đề bên trong cái đó là khơng có

kết quả lắm. Người ta thấy rằng, nếu nơng dân giàu có hơn, họ có xu hướng ít chống lại rủi ro

hơn, và ít quan tâm đến hình thức can thiệp nhằm hạn chế rủi ro của chính phủ. Phát triển

kinh tế thành cơng mới là lý do sắp tới để chính phủ cố gắng ngăn chặn khuynh hướng can

thiệp dưới khẩu hiệu chính trị là giúp khắc phục rủi ro nơng nghiệp.

Người ta đưa ra giả thuyết rằng các kỹ năng phân tích quyết định trong các phân tích

chính sách đã khơng đủ phát triển/ khơng đủ tầm để có khả năng hiểu thấu các rủi ro mà nơng

dân đã phải đối mặt cũng như khơng có khả năng thiết kế các chương trình quản lý rủi ro của

chính phủ một cách hiệu quả. Có thể các chương trước đã có một đóng góp tiến tới thay đổi

tình trạng này, và nhanh chóng mở rộng các công cụ can thiệp, tương lai của công việc làm

chính sách nơng nghiệp liên quan đến rủi ro có thể ít ảm đạm hơn thời gian qua.% %



Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi ro ----------------------------------------------122



CÂU HỎI ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN

- Hãy giải thích tại sao chính phủ phải can thiệp vào khu vực nông nghiệp!

- Hãy bàn luận về các chính sách quản lý rủi ro của chính phủ, những khía cạnh tiêu cực của

các chính sách can thiệp của chính phủ

- Chính sách bảo hiểm cây trồng và những kinh nghiệm rút ra trong thời gian qua



TÀI LIỆU THAM KHẢO:

- Jock R. Anderson, John L. Dillon and J. Brian Hardaker. Agricultural Decision Analysis.

Iowa State University Press/Ames Iowa. 344 pages

- Peter J. Barry (Editor), 1984. Risk Management in Agriculture. Iowa State University

Press/Ames Iowa. 282 pages

-J.B. Hardaker, R.B.M. Huirne and J.R. Anderson, 1997. Coping with Risk in Agriculture.

Cab Internatinal. 274 pages

-Peter H. Callkins, Dennis D. DiPietre, 1983. Farm Business Management. Macmillan

Publishing Co. Inc New York, Collier Macmillan Publishers London. 441 pages (p. 202)

- Ronald D. Kay, 1988. Farm Management (Second Edition). McGRAW-Hill Book

Company. 384 pages. (page



Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi ro ----------------------------------------------123



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 7: Vai trò của chính phủ trong hoạch định chính sách

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×