Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 5: Chiến lược giảm rủi ro trong sản xuất và Marketing

Chương 5: Chiến lược giảm rủi ro trong sản xuất và Marketing

Tải bản đầy đủ - 0trang

ñộng mạnh ñến rủi ro kinh doanh như biến ñộng về giá cả và sở thích của người tiêu

dùng.

Năm loại chiến lược sản xuất ñể giảm rủi ro là: Lựa chọn ngành sản xuất ổn định, đa dạng

hố, linh hoạt trong sản xuất, tham gia bảo hiểm và các cách khác. Chiến lược sản xuất

xem xét rủi ro liên quan ñế các số liệu kỹ thuật cần thiết cho việc ra những quyết ñịnh

kinh tế.

2.1. Lựa chọn ngành sản xuất ổn ñịnh

Ngành sản xuất ổn ñịnh là những ngành mang lại kết quả thu nhập ổn ñịnh trong các thời

kỳ sản xuất khác nhau. Bảng 5.2 trình bày thu nhập trung bình trên 100 USD chi phí cho

thức ăn của bốn ngành sản xuất: nuôi lợn thịt từ lúc cai sữa cho tới lúc tiêu thụ bằng

chuồng trại liên hoàn, ni bò bằng phương pháp chăn thả, ni bê bằng thức ăn cơng

nghiệp và ni bò sữa. Trong thời kỳ 1965-1974, ngành bò sữa và ngành lợn thịt có thu

nhập trung bình khá cao và gần bằng nhau, sau đó là ngành ni bê bằng thức ăn cơng

nghiệp. Có thể kết luận rằng lựa chọn ngành chăn nuôi bê bằng thức ăn cơng nghiệp có

thể được chấp nhận, tất nhiên phụ thuộc vào kỹ năng quản lý của người ñiều hành trang

trại.

Nhưng nếu chỉ nhìn vào thu nhập trung bình hoặc thu nhập kỳ vọng thì chưa thoả đáng.

Chúng ta phải so sánh sự biến ñộng thu nhập của 4 ngành này nếu chúng ta quan tâm ñến

vấn ñề rủi ro. Bảng 5.2. chỉ ra rằng ni bò chăn thả và ni bê bằng thức ăn cơng nghiệp

có sự biến ñộng lớn nhất trong giai ñoạn từ 1965-1974, gấp hơn hai lần so với ngành bò

sữa dựa trên giá trị phương sai. ðến đây người điều hành khơng muốn rủi ro thì anh ta sẽ

thích ngành bò sữa hơn.



Bảng 5.2. Giá trị thu nhậphàng năm, giá trị thu nhập trung bình, phương sai và hệ số biến

động thu nhập trên 100 USD chi phí thức ăn trong ngành chăn ni giai đoạn 1965-1974

Ngành chăn ni

Năm

Lợn thịt

Bò chăn thả

Bê ni nhốt

Bò sữa

1965

189

154

136

160

1966

198

123

153

168

1967

173

128

160

182

1968

180

151

171

199

1969

209

152

180

197

1970

186

119

184

200

1971

151

150

182

194

1972

218

172

203

206

1973

193

139

239

184

1974

140

63

131

145

Trung bình

183

135

175

184

Phương sai

583,67

905,44

1.025,33

399,00

Hệ số biến động

0,13

0,22

0,18

0,11

Nguồn: Stoneberg và cộng sự, 1978

Giá trị trung bình và phương sai thường được cơng bố trong các tạp chí nghiên cứu và

khuyến nơng. Nhưng chúng khơng đủ điều kiện để đưa ra những quyết ñịnh phù hợp khi

tính ñến rủi ro. Như ñã biết, ñể ño ñược hệ số biến ñộng cần phải tính ñược phương sai

(σ2), tìm giá trị ñộ lệch chuẩn (σ) và sau đó chia cho giá trị trung bình để tìm được hệ số

biến động:

CV = σ /E

Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi ro ---------------------------------------56



Với CV là hệ số biến ñộng, σ2 là phương sai, σ là ñộ lệch chuẩn, E là giá trị trung bình.

ðây chỉ là một cách để tìm ra ngành nào có biến động so sánh (tương đối) thấp nhất. Vì

vậy người quản lý trang trại cần thận trọng khi đọc các tạp chí nêu trên, thực tế thường ít

ñi ñến bước cuối cùng ñể tính hệ số biến ñộng.

Trong ví dụ này, nếu lựa chọn dựa vào tổng phương sai hoặc hệ số biến động thì đều có

cùng một kết luận là: ngành bò sữa có biến động thấp nhất. Nhưng Bảng 5.3 lại đưa ra

một ví dụ so sánh thu nhập kỳ vọng và phương sai của ngơ và đậu tương. Trong giai đoạn

1965-1974 ngơ cho thu nhập trên một đơn vị diện tích gấp khoảng 1,5 lần so với đậu

tương. Giá trị phương sai của ngơ lớn nói lên rằng thu nhập từ ngơ biến động hơn và như

vậy người ñiều hành trang trại bắt buộc lựa chọn giữa rủi ro cao và thu nhập cũng cao.

Nhưng nếu tiếp tục tính hệ số biến động của hai cây trồng này thì ngơ chỉ cho giá trị 1,6

và đậu tương gần gấp hai lần. Vì vậy ngơ sẽ được hầu hết người sản xuất ưa thích, khi mà

họ quan tâm tới vấn ñề rủi ro.

Bảng 5.3.: Giá trị thu nhập thuần hàng năm, giá trị thu nhập thuần trung bình, phương sai

và hệ số biến động thu nhập thuần của ngơ và đậu tương từ năm 1965-1974.

Năm

Ngơ

1965

2,59

1966

12,19

1967

4,03

1968

-4,26

1969

7,48

1970

-4,52

1971

15,26

1972

93,66

1973

62,66

1974

12,06

Giá trị trung bình

20,12

Phương sai

1032,96

Hệ số biến động (CV)

1,60

Nguồn: Bộ mơn kinh tế trường ðH Iowa, 1975



ðậu tương

0,13

7,77

-3,81

-4,08

-8,06

-11,40

-0,88

1,53

1,53

26,90

8,48

686,33

3,09



2.2. ða dạng hoá

ða dạng hố để đối phó với rủi ro bằng việc phối hợp các ngành có tương quan thuận

thấp hoặc tương quan nghịch với nhau, cũng như phối hợp thu nhập của chúng với nhau.

Ta có thể kết hợp hai cây trồng ví dụ như ngơ và đậu tương trong một cơng thức ln

canh hỗn hợp để giảm biến động thu nhập so với trồng riêng ngô. Một trông những giải

pháp chúng ta có thể lựa chọn phối hợp ni bò sữa với nuôi lợn thịt, hoặc trồng một vài

cây ngắn ngày với chăn ni gia súc để giảm mức độ rủi ro và ñạt ñược lợi nhuận và sử

dụng lao ñộng hợp lý. Bảng 5.4 tổng hợp tương quan thống kê ñơn giản về thu nhập giữa

cặp ngành trong Bảng 5.2 và 5.3. Trong đó xem xét tổ hợp tương quan nghịch và tương

quan thuận thấp khi phối hợp các ngành, thì thành cơng nhất là bò sữa và đậu tương, mặc

dù phối hợp đậu tương với bò chăn thả hoặc lợn thịt cũng là một chiến lược tốt. Hầu hết

những tổ hợp này có tương quan nghịch còn lại là các tổ hợp có tương quan thuận thấp

(trong khoảng 0 và 0,3) ñược ñánh dấu 1 trong Bảng 5.44.5. Trong số đó, phối hợp lợn

thịt và bò sữa là sự phối hợp tốt, còn bê ni nhốt và bò sữa, bò chăn thả và bò sữa, bò

sữa với ngơ cũng có hứa hẹn. Nhìn chung phối hợp giữa bò sữa hoặc ñậu tương với các

ngành khác là cách tốt ñể ñạt ñược thu nhập ít biến ñộng.



Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi ro ---------------------------------------57



Bảng 5.4. Hệ số tương quan thu nhập giữa gia súc và cây trồng từ 1965- 1974 của Iowa

Phối hợp các ngành

Lợn thịt và bò chăn thả

Lợn thịt và bê ni nhốt

Lợn thịt và bò sữa

Lợn thịt và ngơ

Lợn thịt và đậu tương

Bò chăn thả và bê ni nhốt

Bò chăn thả và bò sữa

Bò chăn thả và ngơ

Bò chăn thả và đậu tương

Bê ni nhốt và bò sữa

Bê ni nhốt và ngơ

Bê ni nhốt và đậu tương

Bò sữa và ngơ

Bò sữa và đậu tương

Ngơ và đậu tương

Nguồn: Bộ mơn kinh tế, ðH Iowa,1978

(1) Tổ hợp có hệ số tương quan dương thấp



Hệ số tương quan

0,658

0,442

0,1791

0,445

-0,079

0,472

0,2541

0,352

-0,237

0,248

0,648

0,476

0,2661

-0,309

0,481



Có những lựa chọn khác trong những tình huống mà ở đó liên quan tới các yếu tố quản lý

như sử dụng lao ñộng mùa vụ, bảo vệ nguồn đất đai, và trình độ quản lý. Rủi ro không chỉ

là yếu tố cạnh tranh với lợi nhuận mà còn ảnh hưởng tới lợi nhuận trong những quyết

ñịnh của người quản lý. Thực tế cho thấy các yếu tố quản lý khác có thể bổ trợ cho

đường năng lực sản xuất giữa hai ngành. Nhờ đó mà người điều hành có thể tăng lợi

nhuận trong khi vẫn giảm được rủi ro.

Ngun tắc tương tự có thể áp dụng đối với ngành trồng trọt. Bảng 5.5 trình bày hệ số

tương quan năng suất hàng năm giữa ngô, ñậu tương, yến mạch, kê, lúa mì và cỏ cho gia

súc. Tất cả những cây trồng này có phản ứng khác nhau với biến động thời tiết và điều

kiện mơi trường (các yếu tố ñầu vào ngẫu nhiên như lượng mưa, nhiệt độ…). Ở đây

khơng có tương quan nghịch và tất cả các cây trồng bị ảnh hưỏng trong những năm thời

tiết xấu. Nhưng yến mạch và ñậu tương, kê và cỏ có tương quan dương thấp nhất. Trong

khi đó, ngơ và đậu tương có tương quan cao nhất. Do vậy, công thức luân canh truyền

thống ngô-yến mạch- cỏ-cỏ-cỏ (COMMM) ñược áp dụng ở nhiều nơi với ưu ñiểm là ñể

giảm rủi ro do biến ñộng năng suất.

Quả thực bằng bài tốn quy hoạch tuyến tính hai bước cũng có thể xác định cơng thức

ln canh COMMM, mặc dù khơng phải là công thức cho lợi nhuận cao nhất nhưng

chúng lại được nhiều người nơng dân chấp nhận bởi vì dung hồ được lo ngại của nơng

dân về rủi ro ở những cách đồng có độ dốc từ 5 độ trở lên.



Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi ro ---------------------------------------58



Bảng 5.5 Hệ số tương quan về năng suất hàng năm của một số cây trồng ở Iowa từ 19591975

NS ngơ

NS đậu NS yến NS kê

NS lúa mì NS cỏ

tương

mạch

NS ngơ

1,0000

0,8333

0,5966

0,6971

0,7193

0,7647

NS đậu

tương

NS yến

mạch

NS kê



1,0000



NS lúa mì

NS cỏ



0,4963



0,6530



0,8597



0,7999



1,0000



0,5459



0,6682



0,6627



1,0000



0,6412



0,4289



1,0000



0,7669

1,0000



Nguồn: Miranowski, John A, 1980

2.3.Tính linh hoạt

Tính linh hoạt liên quan ñến xây dựng kế hoạch hoạt ñộng của trang trại vì vậy nếu có

một kế hoạch linh hoạt thì ở bất kỳ thời điểm nào người nơng dân cũng dễ dàng thay ñổi

ngành mới hoặc kỹ thuật sản xuất. Có bốn kiểu linh hoạt:

2.3.1 Linh hoạt về chi phí.

Người nơng dân có thể tìm kiếm việc duy trì tỷ lệ chi phí biến đổi cao trong tổng chi phí.

Ví dụ, ngành trồng trọt ở Cao ngun, trong đó ngơ có tính linh hoạt hơn đậu tương bởi vì

nó chỉ có khoảng 52% chi phí cố định trong khi ñậu tương chi phí cố ñịnh lên tới 62%.

ðối với ngành chăn nuôi, việc lựa chọn phụ thuộc vào kiểu chăn nuôi – chăn thả hoặc

nuôi nhốt. Tất nhiên số liệu thực tế chỉ ra rằng ni lợn nái nhìn chung có tính linh hoạt

cao hơn, chi phí biến đổi chiếm tới 91% tổng chi phí, trong khi đó ni bò 83%.

Một cách khác để đạt được sự linh hoạt về chi phí đó là th mướn các nguồn lực hơn là

tự mua sắm, ví dụ việc sử dụng những dịch vụ cho các hoạt ñộng thu hoạch hoặc phun

thuốc trừ sâu hoặc th đất và máy móc hơn là mua. ðây cũng là một cách mà mục tiêu là

ñẩy ñường chi phí cố ñịnh và tăng chi phí biến đổi ra xa khi chi phí trung bình khơng đổi

như hình vẽ 5.1. Chiến lược này có tác dụng tăng ñiểm “ñóng cửa” từ S ñến S’ trong

ngắn hạn, và dành những nguồn lực này ñầu tư cho những ngành khác của trang trại. (Về

dài hạn điểm hồ vốn b vẫn giữ ổn định).



Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi ro ---------------------------------------59



Chi phí

đầu vào

MC



b

ATC

AVC’

s’

AVC

s



AFC

AFC’



Mức ñộ ñầu ra



Hình 5.1: Tác ñộng của việc tăng mức ñộ linh hoạt của chi phí

2.3.2 Mức ñộ linh hoạt của cơ sở vật chất

Người nơng dân có thể xây dựng các cơng trình kiến trúc và các cơ sở vật chất kỹ thuật

khác ñể sử dụng cho ña mục tiêu hoặc có thể thay đổi từ sản xuất sản phẩm này sang sản

xuất sản phẩm khác. Ví dụ một xưởng máy có thể sửa chữa để trở thành chuồng trại nuôi

gia súc. Dựa trên nguyên tắc này nhiều nông dân ñã xây dựng những chuồng trại theo

kiểu chăn thả hoặc bán chăn thả trong ngắn hạn trước khi chúng trở thành một ngành chăn

ni chính của trang trại. Mặc dù theo cách này họ có thể đạt được hiệu quả chăn ni

thấp, nhưng họ có thể hạn chế được rủi ro về thu nhập mà ngành này gây ra.

2.3.3 Mức linh hoạt trong sản phẩm

Khái niệm này trong thực tiễn liên quan đến duy trì lựa chọn các sản phẩm sẽ ñược sử

dụng như thế nào hoặc bán dưới dạng sản phẩm nào. Ví dụ người chăn ni có thể bán

gia súc giống dưới dạng bê/nghé non, bò bắt ñầu trưởng thành hoặc bò ñã ñến thời kỳ

khai thác sữa. Những người sản xuất trồng cây lương thực và ni gia súc có cách lựa

chọn tiêu thụ sản phẩm hoặc là lương thực hoặc là dùng lương thực ñể chăn nuôi và bán

sản phẩm chăn nuôi. Tằng một số sản phẩm hàng hố có khả năng dự trữ, như ngơ, cũng

tăng tính linh hoạt trong kế hoạch tiêu thụ sản phẩm của người nơng dân.

2.3.4. Mức độ linh hoạt về thời gian

Người nơng dân có thể tập trung sản xuất nơng sản hàng hố ngắn hạn để tăng khoảng

cách giữa chi phí biến đổi và chi phí cố định như trong hình 1.5. Ví dụ, sản xuất thịt bò

u cầu nhiều thời gian hơn so với nuôi gà thịt. Cây ăn quả đòi hỏi nhiều thời gian để ra

sản phẩm hơn là cây hàng năm. Tất nhiên chúng ta nên biết có 2 trở ngại đến việc duy trì

tính linh hoạt: (a) càng chọn nhiều phương án càng nhiều lỗi; và (b) kinh doanh nơng

nghiệp có tính linh hoạt cao hơn, thường là sử dụng nguồn lực kém hiệu quả hơn nhưng

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi ro ---------------------------------------60



bù vào đó người nơng dân có thể điểu chỉnh nhanh chóng việc phân bổ nguồn lực khơng

đúng.

2.4. Bảo hiểm

Các chiến lược nhằm giảm rủi ro sản xuất trên đây có thể xem như 3 loại bảo hiểm khơng

chính thức. Còn bảo hiểm chính thức, ngược lại có 5 cách chung là:

2.4.1. Bảo hiểm nhân thọ

Trong thực tế nhất là ở nước ngoài, nhiều tổ chức kinh doanh còn quan tâm tới những

thiệt hại tiềm tàng do cái chết của một nhân vật chủ chốt, một nhân viên quan trọng, một

người hùn vốn kinh doanh, hay một chủ nhân của doanh nghiệp. Cái chết của người đó có

thể gây ra thiệt hại về tín dụng ngân hàng có giá trị lớn hay những giao dịch kinh doanh

có thể sinh lợi. Nó cũng có thể dẫn tới sự tổn thất về doanh thu hay làm gia tăng chi phí

sản xuất, do đó tác động đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Việc tham gia bảo hiểm nhân

thọ là bảo vệ quyền lợi của người ñược bảo hiểm chống lại sự tổn thất tài chính phát sinh

do cái chết của người đó. Bảo hiểm nhân thọ khơng những ñược các tổ chức kinh doanh

sử dụng mà các cá nhân cũng áp dụng nó để bảo vệ chính họ và gia đình họ chống lại

những thảm hoạ về tài chính.

Có nhiều loại hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, tuy nhiên về mặt chức năng, chúng ta có thể

phân chia thành ba loại chính: bảo hiểm có thời hạn, bảo hiểm tồn bộ cuộc đời và bảo

hiểm nhân thọ ấn định trước thời hạn trả tiền.

a. Bảo hiểm có kỳ hạn

Hợp đồng bảo hiểm có thời hạn cam kết bồi thường cho người mua bảo hiểm trong một

khoảng thời gian nhất ñịnh. Nếu người ñược bảo hiểm sống qua thời gian này, thì khi hợp

đồng mãn hạn cơng ty bảo hiểm khơng phải trả cho người đó khoản tiền nào cả. Nếu

người đó chết trong thời hạn của hợp ñồng, những người thừa kế sẽ ñược trả một khoản

tiền cố ñịnh (số tiền bồi thường theo hợp ñồng bảo hiểm). Có hai hình thức mua loại bảo

hiểm này:

- Phí bảo hiểm ñược nộp một lần tại thời ñiểm bắt ñầu thời hạn của hợp ñồng.

- Phí bảo hiểm ñược trả làm nhiều lần vào những thời ñiểm ñịnh trước trong suốt thời

hạn của hợp ñồng.

Các hợp ñồng bảo hiểm có thời hạn thường có hiệu lực trong những khoảng thời gian

ngắn, thí dụ: một năm, hai năm, hay năm năm chẳng hạn. Song có những hợp đồng thời

hạn dài hơn.

Phí bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm có thời hạn thường thấp hơn các hình thức hợp đồng

bảo hiểm nhân thọ khác. Chúng phù hợp với những người có nhu cầu cần một khoản tiền

bồi thường lớn, trong một khoảng thời gian nhất định nào đó và họ khơng có khả năng trả

những khoản phí bảo hiểm cao hơn thuộc các hình thức bảo hiểm khác.

Hình thức đặc biệt của bảo hiểm có thời hạn là hợp đồng bảo hiểm có thời hạn giảm dần

Loại bảo hiểm này có ñặc ñiểm là tổng số tiền ñược bảo hiểm giảm dần mỗi năm.

Chẳng hạn, một người ñã vay tiền ñể mua một căn nhà với ñiều kiện thế chấp quyền sở

hữu nó trong 20 năm, có thể sử dụng hình thức bảo hiểm này ñể bảo vệ sinh mạng của

người ñó trong suốt thời hạn thế chấp. Bảo hiểm ñược thu xếp ñể khi thế chấp ñáo hạn,

thời hạn bảo hiểm cũng kết thúc. Nếu người đó chết trước thời hạn thế chấp ñược thanh

lý, hợp ñồng sẽ tài trợ tiền để hồn trả những khoản nợ có thế chấp.



Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi ro ---------------------------------------61



b. Bảo hiểm tồn bộ cuộc đời

Hợp đồng bảo hiểm tồn bộ cuộc đời là hình thức bảo hiểm có hiệu lực vĩnh viễn, nó bảo

hiểm suốt cả cuộc ñời của người ñược bảo hiểm. ðể nhận ñược sự bảo vệ chống lại những

thiệt hại về tài chính, người được bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm trong suốt cuộc đời.

Một số cơng ty đưa ra những hợp đồng bảo hiểm nhân thọ trả tiền có giới hạn. Loại hợp

ñồng này cho phép người ñược bảo hiểm đóng phí bảo hiểm với số lượng năm có giới hạn

được tính từ thời điểm bắt đầu của hợp đồng cho ñến khi người ñược bảo hiểm lên 80 hay

85 tuổi. Khi đó ơng ta đã q già để tiếp tục đóng bảo hiểm.

Hợp đồng nhân thọ tồn bộ thích hợp với nhu cầu của nhiều người. Một số người mua

những hợp đồng loại này để giúp cho gia đình của họ trả tiền nhà ở nhờ lĩnh tiền bồi

thường cho cái chết của họ. Nhiều người khác mua loại bảo hiểm này với mục đích duy

nhất là để giúp ñỡ các thành viên của gia ñình trong trường hợp họ bị chết yểu.

Bên cạnh những hợp ñồng nhân thọ trả tiền có giới hạn, còn có loại hợp đồng nhân thọ

toàn bộ chung phần. Theo thoả thuận của hợp ñồng chung phần, người ñược bảo hiểm

nhận một phần thưởng ñược chia từ những lợi nhuận tích luỹ từ vốn bảo hiểm của công

ty. Một số công ty thưởng bằng tiền mặt cho khách hàng. Một số công ty khác thưởng

phần lợi tức chia thêm mà họ có quyền thu hồi lại. Một số cơng ty còn đưa ra loại hợp

ñồng bảo hiểm cho phép một người khai bảo hiểm nhưng tích dần lại và thanh tốn tổng

phí bảo hiểm cùng lúc với số tiền bối thường vào thời ñiểm xảy ra sự cố.

c. Bảo hiểm nhân thọ ấn ñịnh trước thời hạn chi trả

Hợp ñồng bảo hiểm ấn ñịnh trước thời hạn chi trả cung cấp phạm vi bảo hiểm trong suốt

thời gian ñịnh trước và chú trọng yếu tố tiết kiệm. Tổng số tiền bồi thường của công ty

bảo hiểm ñược trả vào thời ñiểm cuối cùng của thời hạn ấn ñịnh cho người ñược bảo hiểm

nếu người đó vẫn còn sống, hay trả cho những người thừa kế nếu người đó đã chết trong

thời hạn bảo hiểm.

Phí bảo hiểm của các hợp ñồng này thường cao hơn phí bảo hiểm của hai hình thức bảo

hiểm nhân thọ ñã ñề cập ở trên. Nguyên nhân của sự cao hơn này là do người mua bảo

hiểm ñược chia một khoản tiền “tiết kiệm” gộp vào tổng số tiền bối thường sẽ trả vào thời

ñiểm kết thúc thời hạn ñã định. Bởi vậy, cơng ty bảo hiểm phải thu phí bảo hiểm cao hơn

để tích luỹ đủ bù đắp số tiền thanh tốn cuối kỳ. Nói cách khác, loại bảo hiểm này có thời

hạn trong khoảng thời gian sao cho số tiền tiết kiệm ñược ñủ tài trợ số tiền thanh toán

cuối kỳ.

2.4.2. Bảo hiểm y tế (sức khoẻ và bệnh tật)

Trong trường hợp chủ doanh nghiệp hoặc vợ chồng trang trại bị ốm và khơng tham gia

sản xuất, thì bảo hiểm này không chỉ chi trả cho tiền thuốc men mà đối với một số nước

cơng ty bảo hiểm còn trả chi phí để th lao động thay thế người ốm. Vì vậy ở nhiều nước

nhiều nơng dân tham gia loại bảo hiểm này.

2.4.3. Bảo hiểm về khả năng trả nợ

Ở nhiều nước nếu người nơng dân có th người làm, thì người lao động sẽ được trả bảo

hiểm nếu người làm th đó bị bệnh tật hoặc điều trị tại bệnh viện do tai nạn xảy ra trong

trang trại. Chính vì thế mà nhiều chủ trang trại trên thế giớ thường tham gia vào chương

trình trả thù lao cho người làm thuê và các loại bảo hiểm về khả năng trả nợ khác.

2.4.4. Bảo hiểm tài sản



Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi ro ---------------------------------------62



Loại bảo hiểm này chi trả cho những thiệt hại hoặc đổ vỡ những cơng trình xây dựng,

máy móc và vật ni v.v… Nó có thể còn giúp cho việc chống lại thảm hoạ do thiên tai

gây ra và sự cố bất thường trong trang trại.

2.4.5. Bảo hiểm cây trồng

Trong nhiều nước loại bảo hiểm này chia làm hai loại: bảo hiểm tất cả các rủi ro và bảo

hiểm một vài rủi ro. Hiện nay khơng có một cơng ty bảo hiểm tư nhân độc lập nào có thể

thực hiện bảo hiểm tất cả các rủi ro cho người nơng dân bởi vì trong sản xuất nơng nghiệp

q nhiều rủi ro và lượng tiền chi trả trong một năm quá lớn (ngoại trừ những chương

trình lớn của quốc gia). Do vậy người chủ trang trại phải dựa vào chi trả tất cả rủi ro của

chính phủ tồn liên bang ñể bù ñáp tất cả các rủi ro. Nhưng hiện nay ở nhiều nước chính

phủ cũng khơng có khả năng thực hiện cho tất cả các ngành hoặc thậm chí cho các cây

trồng của tất cả các khu vực.

2.5. Chiến lược sản xuất khác

Ngoài bốn chiến lược sản xuất chính để giảm rủi ro kinh doanh, người chủ trang trại nên

biết thêm ba chiến lược nữa. Thứ nhất, người chủ trang trại có thể đầu tư vào cơng nghệ

ổn ñịnh năng suất ñể cho phép hoạt ñộng của trang trại diễn ra một cách liên tục thậm chí

cả trong ñiều kiện thời tiết bất thường. Những ñầu tư như vậy bao gồm lựa chọn những

giống cây trồng chịu hạn, chống sâu bệnh, lắp ñặt hệ thống thuỷ lợi tưới và tiêu, xây dựng

các chuồng trại nuôi nhốt gia cầm và gia súc, mua những máy có cơng suất lớn. ðầu tư và

tăng chi phí hoạt động hàng năm có thể ñược bổ sung bằng việc ổn ñịnh thu nhập từ năm

này qua năm khác.

Thứ hai người nơng dân có thể dự trữ các yếu tố ñầu vào ñể ñối phó với giai đoạn cung

thị trường thấp và/hoặc việc tăng giá mạnh. Các yếu tố đầu vào đó bao gồm dầu máy,

phân bón và hố chất nơng nghiệp khác cũng như là thức ăn cho gia súc như cỏ khô, ngũ

cốc. Cùng với việc ñầu tư về thiết bị bảo quản cho những yếu tố đầu vào này thì việc ñiều

chỉnh lượng yếu tố ñầu vào sử dụng một cách tiết kiệm cũng có ý nghĩa quan trọng.

Thứ ba, người chủ trang trại nên xây dựng cho mình một cơ sở/ nền tảng kiến thức. Dựa

trên cơ sở những thông tin và trình độ của mình thì anh ta có khả năng đối phó nhanh

chóng và cụ thể đối với sự biến ñộng về giá cả, năng suất và các yếu tố khác trong năm.

ðể có được những kiến thức này họ cần được tiếp cận với các khố đào tạo về chun

mơn, tiếp cận được với thơng tin thơng qua sách báo, tạp chí, câu lạc bộ v.v…

2.6. Bảo hiểm nông nghiệp của nươc ta

Mua bảo hiểm là biện pháp tài chính quan trọng nhằm hạn chế rủi ro cho người mua bảo

hiểm. Nền kinh tế càng phát triển, các hình thức bảo hiểm càng đa dạng. Bảo hiểm nông

nghiệp là một sản phẩm bảo hiểm truyền thống trong hơn 500 sản phẩm bảo hiểm phi

nhân thọ hiện nay trên thị trường bảo hiểm thế giới ( bao gồm trên 250 sản phẩm bảo

hiểm tài sản, gần 200 sản phẩm bảo hiểm con người và gần 100 sản phẩm bảo hiểm trách

nhiệm). Ngành bảo hiểm nước ta nói chung còn non trẻ, chưa có nhiều loại bảo hiểm như

các nước đã có nền kinh kế phát triển.

Bảo hiểm nơng nghiệp Việt nam ñã ñược triển khái cách ñây trên 20 năm. Năm 1982, bảo

Việt đã thí điểm bảo hiểm nông nghiệp tại 2 huyện Nam Ninh và Vụ Bản tỉnh Nam ðịnh.

Sau 2 năm triển khai do có chuyển ñổi cơ chế từ kinh tế Hợp tác xã sang kinh tế hộ nông

dân nên Bảo Việt tạm dừng lại.

ðến năm 1993 Bảo Việt lại tiếp tục triển khai thí ñiểm bảo hiểm cây lúa tại 16 tỉnh trên

phạm vi cả nước, điển hình là tỉnh Hà Tĩnh, nơi chịu ảnh hưởng của rủi ro thiên tai nhiều

nhất. Trong suất thời gian từ 1994-1998, Bảo Việt ñã nhận bảo hiểm cho 2000ha lúa thu

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi ro ---------------------------------------63



phí được 13 tỉ ñồng nhưng bồi thường hết 14,4 tỉ ñồng. Từ 1999 trở ñi, Bảo Việt ñã

ngừng bào hiểm cho cây lúa do thua lỗ.

Bên cạnh bảo hiểm cho cây lúa, Bảo Việt còn xúc tiến bảo hiểm vật ni, một số cây

cơng nghiệp như cao su, cây bạch đàn làm nguyên liệu giấy nhưng chỉ ở qui mô nhỏ, hiệu

quả cũng hạn chế.

Theo Vụ Bảo Hiểm, Bộ Tài Chính, tỉ trọng tham gia bảo hiểm nông nghiệpở Việt nam ở

mức rất thấp, chỉ chiếm chưa tới 1% tổng diện tích cây trồng và số vật ni. Tính đến hết

năm 2001, mới chỉ có 0,19% diện tích cây trồng, 0,24% số trâu bò, 0,1% đàn lợn và

0,04% số gia cầm được bảo hiểm.

Nhìn chung bảo hiểm nơng nghiệp của nước ta còn gặp nhiều khó khăn vì những lý do

sau:

- Nơng dân chưa có thói quen tham gia bảo hiểm, nhiều người còn chưa tin tưởng, chưa

có nhận thức đầy đủ về lợi ích và vai trò của bảo hiểm trong việc duy trì ổn định sản xuất

kinh doanh và đời sống

- ðiều kiện kinh tế xã hội tại một số địa phương còn thấp, nhiều hộ khơng đủ khả năng tài

chính để tham gia bảo hiểm

- Việc giải quyết bồi thường bảo hiểm còn chậm, thủ tục phiền hà, gây khó khăn cho

người tham gia bảo hiểm

- Chi phí cho việc bán bảo hiểm nông nghiệp lớn, việc kiểm tra, giám định tổn thất và bồi

thường gặp nhiều khó khăn, trong khi đó hoa hồng lại thấp ...do đó khơng hấp dẫn ñối với

các doanh nghiệp bảo hiểm.

ðể bảo hiểm nơng nghiệp Việt Nam có bước khởi đầu mới cần có chính sách của Nhà

nước , cần đào tạo cán bộ bảo hiểm, hỗ trợ doanh nghiệp triển khai bảo hiểm, hỗ trợ

người dân tham gia bảo hiểm và có sự tham gia của các tổ chức, các ngành.

3. Chiến lược marketing

Chiến lược marketing ñể quản lý rủi ro tập trung vào hai trong sáu loại rủi ro trong kinh

doanh: biến ñộng giá cả ñầu vào - ñầu ra và thay đổi sở thích của người tiêu dùng. Có sáu

chiến lược marketing đó là tiêu thụ sản phẩm dàn trải, rào chắn, ñịnh giá dựa trên các yếu

tố ñầu vào, ký kết hợp ñồng tiêu thụ, và liên kết dọc. Những chiến lược marketing cho

quản lý rủi ro đòi hỏi các số liệu kinh tế cho việc ra quyết ñịnh.

3.1. Tiêu thụ sản phẩm theo hướng dàn trải

Thay vì tiêu thụ 100% sản phẩm của trang trại vào ngày 11/5 hoặc 2/1 và chịu rủi ro cao

hơn (thậm chí đã biết ñược dự báo giá và xu hướng biến ñộng) thì lượng sản phẩm đó có

thể bán ở thời kỳ khác tuy với giá thấp hơn nhưng ít rủi ro hơn, ví dụ người nơng dân có

thể phân chia làm 4 lần bán mỗi lần bán 25% sản lượng.

Bảng 6.5 chỉ ra kết quả của một nghiên cứu ñược tiến hành ñể ño lường tác ñộng của

chiến lược marketing này bằng chỉ tiêu thu nhập bình qn và mức độ rủi ro. Mỗi tháng

bán 25% sản lượng bao gồm các tháng 11, 2, 4 và 7, thu nhập bình quân và sự biến ñộng

thu nhập so sánh với việc tiêu thụ 100% sản lượng chỉ trong 1 tháng. Các số liệu trong

bảng gồm thu nhập/giạ lúc bảo quản, lãi suất và chi phí hao hụt và vì vậy chúng ta có thể

so sánh tồn bộ các tháng. Chiến lược tiêu thụ dàn trải khơng tạo ra thu nhập trung bình

cao nhất. Trong trường hợp cụ thể này, giữ sản phẩm lại và bán tồn bộ ở tháng 7 thì sẽ

có lợi nhuận cao nhất. Nhưng chiến lược bán dàn trải cũng không phải là cách bán kém

thành công nhất nếu chúng ta so sánh thu nhập trung bình trong tháng 4. Nếu người nơng

dân đó chỉ quan tâm tới lợi nhuận, thì phương pháp này khơng phải là tốt nhất. Tất nhiên,

nếu biến ñộng thu nhập ñược ño bởi hệ số biến động, thì việc tiêu thụ ở thời điểm thu

hoạch và thậm chí giữ lại cho tới tháng 2 kết quả kỳ vọng cũng kém ổn ñịnh so với bán

25% ở mỗi tháng. Người nông dân cũng không dự trữ toàn bộ 100% sản lượng tới tháng

Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi ro ---------------------------------------64



4 và tháng 7 ở đó thu nhập ít biến ñộng hơn, mà chỉ lựa chọn cách bảo quản với một

lượng tương ứng là 50% và 25%. Nếu 100% sản lượng để lại đến tháng 7 thì lại u cầu

một hệ thống kho tàng bảo quản lớn hơn. Trong ví dụ này, nếu tiêu thụ 100% sản lượng ở

tháng 7 thì đây là chiến lược tốt hơn chiến lược tiêu thụ dàn trải. Nhưng trong trường hợp

khác thì hồn tồn khơng phải như vậy, mà thường người ta đưa ra quy tắc chung là

người nơng dân có thể nhận được lợi nhuận ít hơn nhưng lại an tồn hơn khi áp dụng

chiến lược tiêu thụ dàn trải này.

Bảng 6.5: Giá ngơ nhận được và sự biến động khi so sánh chiến lược tiêu thụ dàn

trải và chiến lược bán tập trung một tháng

Năm

tiêu

Tháng tiêu thụ

thụ

Tháng 11

Tháng 2

Tháng 4

1970-71

1,24

1,313

1,228

1971-72

0,94

0,982

0,983

1972-73

1,14

1,196

1,203

1973-74

2,14

2,576

2,229

1974-75

3,27

2,69

2,437

Trung bình

1,7146

1,751

1,616

σ

0,9688

0,8145

0,6655

C.V.

0,55

0,47

0,41

Nguồn: Peter và Dennis, 1990



Bán dàn trải

Tháng 7

1,131

0,945

1,789

2,659

2,359

1,776

0,7460

0,42



1,228

0,963

1,332

2,401

2,689

1,722

0,7695

0,45



3.2 Tạo ra rào chắn trong thị trường tương lai

Sử dụng thị trường tương lai cho phép người chủ trang trại chuyển rủi ro do thay ñổi giá

sang người khác. Những chức năng quan trọng khác của thị trường tương lai là trợ giúp

về tài chính cho hoạt đơng dự trữ sản phẩm và phổ biến rộng rãi giá cả thị trường và

những thông tin có liên quan khác.

Tạo ra rào chắn trong thị trường tương lai cho phép người chủ trang trại có nhiều phương

án lựa chọn để bình ổn thu nhập. Một số giải pháp như có thể xây dựng giá cây trồng vật

nuôi trước khi tiêu thụ, không bán bê con mà vỗ béo chúng, dự kiến chi phí của các yếu tố

đầu vào trong chăn ni trước khi mua chúng.

Q trình rào chắn liên quan tới việc đặt vị trí ngang nhau và ñối diện nhau ñối với thị

trường tiền mặt trong thị trường tương lai. Ở cả vị trí người mua và người bán, người chủ

trang trại có thể rào chắn một cách hiệu quả ở bất kỳ mức giá nào. Khi giá tăng, có lợi khi

bán sản phẩm nhưng lại mất khi mua. Tương tự khi giá giảm thì lỗ khi bán và có lợi khi

mua sản phẩm .

Hoàn thành rào chắn giá thị trường là các hợp ñồng mua bán trong tương lai. Một hợp

ñồng mua bán tương lai là sự thoả thuận được chuẩn hố giữa hai bên mua và bán về một

khối lượng và chất lượng hàng hố nhất định được phân phối tại một thời điểm và một vị

trí xác định với một giá ñã ñược thoả thuận. Hợp ñồng tương lai cũng xác ñịnh rõ ai là

người trả chi phí giao hàng và quy ñịnh rõ thưởng hoặc phạt ñối với những hàng hố khi

giao khơng đáp ứng đúng các điều khoản đã nêu trong hợp đồng. Việc tiêu chuẩn hố

hợp đồng này cho phép hàng hố được bn bán khơng ảnh hưởng bởi biến ñộng trong

thực tế hoặc tạo ra hệ thống kiểm tra hàng hố cho đến ngày giao hàng.

Chỉ một số rất ít hợp đồng mua bán trong tương lai khơng thực hiện được do giao nhận

hàng, còn phần lớn khơng thực hiện được là do lý do khả năng thanh tốn. Hầu hết các

hợp đồng khơng thực hiện được thì phải đền bù. Nếu như bạn có thể mua hợp đồng tương

lai, thì bạn cũng có thể bán nó, tức là bạn từ bỏ trách nhiệm nhận phân phối bằng việc bán

hợp đồng đó trước thời hạn giao hàng. Tất nhiên, thông báo trước việc phân phối là cực

kỳ quan trọng trong việc duy trì mối quan hệ thích hợp giữa giá tiền mặt và giá tương lai

Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi ro ---------------------------------------65



đồng thời giúp ích cho thị trường tương lai để đạt được mục đích tạo ra rào chắn. Thiếu

khả năng phân phối thì khơng thể mong có được một mối quan hệ ổn định và khơng thể

dự báo được giá hiện tại và giá tương lai.

Q trình bn bán trong thị trường tương lai bắt ñầu bằng việc trao đổi với những người

mơi giới hàng hố. Chỉ những người này mới có chỗ trong sàn giao dịch để có thể bn

bán trực tiếp các hợp đồng. Số lượng chỗ trong mỗi sàn giao dịch là có hạn. Bước thứ hai

là ký kết thoả thuận mà luật pháp cho phép người mơi giới mua hoặc bán hợp đồng tương

lai ñối với người nông dân. Bước thứ ba ñưa ñơn đặt hàng và giải thích rõ cho người mơi

giới về nội dung hợp ñồng mua hoặc bán. Bước này sẽ khơng được thực hiện cho tới khi

bạn tiến hành xong phân tích lợi ích tiềm năng từ hoạt động này. Bước thứ tư đặt cọc cho

người mơi giới. ðiều này ñảm bảo rằng bạn có thể bù ñắp ñược khoản lỗ của mình nếu

sự thay đổi giá cả xảy ra khơng thuận lợi. Tiền đặt cọc thường nằm trong khoảng từ 7 –

15% của giá trị hợp đồng và có thể thay ñổi giữa các lần ký kết. Bước thứ năm thực hiện

trao đổi bn bán ở tương lai có nghĩa kết thúc cuộc trao ñổi này tại một ngày nào đó ở

tương lai. ðiều này sẽ được thực hiện giao - nhận hàng hoá trong thị trường tương lai

hoặc là phải ñền bù, phụ thuộc vào lần giao dịch đầu tiên. Bước cuối cùng là trả lệ phí

mơi giới. Lệ phí này thay đổi phụ thuộc vào loại hàng hố, ví dụ đối với hợp đồng ngũ

cốc là 40 USD/5000 giạ.

Các bước chuẩn bị cho việc tạo ra rào chắn

Có một số bước chuẩn bị trước khi tiến hành giao dịch ñầu tiên trong thị trường tương lai.

Thứ nhất, giá tương lai sẽ ñược ñiều chỉnh tương ứng với giá hiện tại ở thị trường địa

phương của người nơng dân. Chênh lệch giữa giá tương lai và giá hiện tại ñịa phương

ñược gọi là giá trị “cơ sở” (basis). Thông thường giá trị cơ sở này liên quan trực tiếp tới

phí vận chuyển từ khu vực địa phương đến thị trường tương lai. Chi phí bảo quản nơng

sản cho tới ngày thanh lý hợp ñồng là một khoản mục quan trọng khác trong giá trị cơ sở

này.

Bước chuẩn bị thứ hai trước khi tạo ra rào chắn là việc ước tính khối lượng cần trao đổi

của bạn ở thị trường hiện tại. Khối lượng bán trong thị trường tương lai nên gần bằng với

khối lượng sản phẩm mà bạn ước tính. Bước tiếp theo là phân tích rào chắn trước khi nó

xảy ra đó là ước lượng thu nhập thuần khi có rào chắn để xác định việc này có tạo ra một

lợi nhuận thoả mãn hay khơng. Trong thị trường tương lai rất dễ dàng chuyển từ tình

trạng lỗ sang tình trạng lãi. Bước bốn nghiên cứu báo cáo về thị trường ñể xác ñịnh xu

hướng giá cả của sản phẩm mà bạn hy vọng rào chắn. Bước thứ năm ước tính thu nhập

nếu khơng được rào chắn. Bước sáu bạn so sánh thu nhập giữa có và khơng có rào chắn

để đánh giá khả năng của bạn ñối phó với rủi ro ở thị trường hiện tại nếu bạn quyết định

khơng rào chắn. Bước cuối cùng lựa chọn hành động thích hợp hơn: rào chắn hoặc tham

gia vào thị trường hiện tại.

Thị trường tương lai có thể tạo điều kiện cho người nơng dân tự mình có thể đảm bảo về

mức giá chính đáng mà anh ta có thể nhận được khi bán hoặc mua một sản phẩm tại thời

điểm thu hoạch hoặc sau đó. ðiều này ñược thực hiện bằng việc bán các hợp ñồng tương

lai trong lúc ñang mùa gieo trồng. Tại thời ñiểm thu hoạch người chủ trang trại bán sản

phẩm ở thị trường hiện tại (trao ñổi tiền mặt) và mua lại các hợp ñồng tương lai. Việc

mua lại các hợp ñồng ñã bán lúc gieo cấy ñược biết như là bù lại vị trí tương lai ban

đầu. Nếu giá ở thị trường tương lai giảm thì sẽ được bù xấp xỉ ở thị trường hiện tại. Ở vị

trí ngược lại trong hai thị trường thì lỗ trong thị trường hiện tại sẽ ñược ñền bù xấp xỉ

một lượng thu ñược ở thị trường tương lai.

Xem xét ví dụ trong Bảng 7.5 giả sử hợp đồng tương lai của ngơ trong tháng 12 ñang bán

với giá 3,1USD/giạ tại thời ñiểm ñầu tháng 6 ở sàn giao dịch. Người sản xuất này tính

ngược lại giá thị trường hiện tại địa phương của mình. Mức cơ sở đối với thị trường địa

phương của người nơng dân được cộng với chi phí mơi giới và lãi suất/giạ. Lấy giá bán

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Giáo trình Qủan trị rủi ro ---------------------------------------66



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 5: Chiến lược giảm rủi ro trong sản xuất và Marketing

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×