Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
File Transfer Profile: cho phép người sử dụng duyệt và hiệu chỉnh những tập tin và thư mục(object) trong hệ thống tập tin của thiết bị Bluetooth khác và chuyển giao object giữa 2 thiết bị Bluetooth. Những thiết bị phổ biến là PC, notebook và PDA.

File Transfer Profile: cho phép người sử dụng duyệt và hiệu chỉnh những tập tin và thư mục(object) trong hệ thống tập tin của thiết bị Bluetooth khác và chuyển giao object giữa 2 thiết bị Bluetooth. Những thiết bị phổ biến là PC, notebook và PDA.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Object Push Profile: cho phép người sử dụng push, pull, và trao đổi những object đơn giản như

business card giữa 2 thiết bị Bluetooth nhưPC, PDA và điện thoại di động.



Synchronization Profile: cho phép trao đổi dữ liệu về thông tin cá nhân (PIM) giữa 2 thiết bị tự

động đồng bộhóa dữ liệu(ví dụ: thành phần calendar hay phonebook). Đồng bộ hóa được dùng

giữa những thiết bị notebook, PDA và điện thoại di động

2.6. Vấn đề sử dụng năng lượng trong Bluetooth.

a) Giới thiệu.

_ Năng lượng là vấn đề cực kỳ quan trọng đối với thiết bị khơng dây vì những thiết bị này chỉ có

thể sử dụng năng lượng từ pin, và điều này làm phát sinh những vấn đề liên quan như thời gian

sử dụng pin, thời gian dự phòng và kích thước vật lý.

_ Khi kết nối bằng Bluetooth thì ta phải cần năng lượng để duy trì kết nối, năng lượng để điều

khiển bộvi xử lý thực hiện chồng nghi thức Bluetooth và năng lượng để khuếch đại tín hiệu âm

thanh đến cấp độ người sử dụng có thể nghe được. Và những thiết bị di động nhỏ thì khơng thể

sử dụng loại pin lớn nên tiêu thụ ít năng lượng là vấn đề quan tâm hàng đầu.

_ Chương trình quản lý năng lượng (power-managed application) là một ứng dụng cho phép

thiết bị thực hiện chế độ ngủ(sleep mode) ở những giai đoạn đáng kể trong quy trình hoạt động.

Sleep mode khơng làm tốn năng lượng của thiết bị, thật ra thì điều này khơng đúng lắm vì vẫn có

vài chức năng ln cần năng lượng, tuy nhiên vẫn ít hơn khi thiết bị thật sự“thức giấc” (awake),

nói chung quản lý năng lượng sẽ là quản lý thời gian bỏphí.

_ Một đặc điểm thêm nữa của việc quản lý năng lượng ở cấp độ ứng dụng là không ảnh hưởng

xấu đến sự thực thi ứng dụng và việc lưu giữ năng lượng bằng trình ứng dụng không phụ thuộc

vào kỹ thuật bên dưới ngay cả khi phần cứng được cải tiến để giảm thiểu sử dụng năng lượng.

_ Kỹ thuật Bluetooth thực hiện việc quản lý năng lượng đồng thời ở mức phần cứng (hardware)

và phần mềm (software). Mặt hạn chế là thời gian ứng (response time) của các ứng dụng tăng lên

và nếu như không dùng đúng thì việc quản lý năng lượng sẽ làm cho trình ứng dụng khơng còn

21



đáp ứng nhanh nữa. Bluetooth cung cấp một số chế độ năng lượng thấp và mội độ thích hợp với

những loại ứng dụng khác nhau.

_ Trước khi chọn power management mode để sử dụng, độ trễ lớn nhất và mơ hình radio traffic

được mong chờ của ứng dụng phải được tính tốn trước.

b) Việc sử dụng và quản lý năng lượng trong công nghệ Bluetooth

1. Tổng quan:

_ Bluetooth cung cấp 3 chế độ có năng lượng thấp (low power mode) cho những lập trình viên

sử dụng là hold, sniff, và park. Mỗi chế độ đều có những đặc điểm riêng và thuận lợi cho những

lớp khác nhau của ứng dụng.

_ Hold mode thì thuận lợi cho những ứng dụng dự báo và điều khiển thời gian cho lần truyền dữ

liệu kế tiếp. Khi mà khoảng thời gian giữa 2 lần truyền được thương lượng một cách độc lập bởi

lần tiếp theo thì chế độ này vơ cùngthích hợp để ứng dụng giám sát thường xun kết nối và có

thể tăng hoặc giảm “thời gian ngủ” (sleep time) cho phù hợp. Hold mode không thể tự biến mất

và do đó khơng nên dùng cho những ứng dụng có nhu cầu hard latency.

_ Sniff mode cho phép một thiết bị Bluetooth-enabled lưu trữ năng lượng bằng cách giảm đi số

slot mà master có thể truyền, bằng cách đó có thể giảm số mà slave phải nhận. Chế độ này có vẻ

thuyết phục hơn so với hold mode khi nó có thể tốt ra bất kỳ lúc nào. Slave sẽ lắng nghe một

cách định kỳ số slot và điều này làm cho sniff mode đặc biệt thuận lợi hơn đối với những ứng

dụng mà dữ liệu đòi hỏi được truyền ở những khoảng thời gian cách đều. Ứng dụng khơng thích

hợp với sniff mode là những loại cần truyền lượng dữ liệu lớn một cách liên tục và điều này bắt

buộc thiết bị phải giữ nguyên tình trạng awake.

_ Park mode là chế độ cho phép lưu giữ năng lượng ở mức tối đa. Chế độ này thuận lợi nhất đối

với những ứng dụng có mơ hình lưu lượng sóng vơ tuyến (radio traffic) khơng thể dự đốn trước

và độ trễ của việc thiết lập kết nối được giới hạn bởi những hạn định cao hơn (upper limit). Ví dụ

ở Headset profile, liên kết RFCOMM phải được unparked càng sớm càng tốt khi có một yêu cầu

cần được gửi đi thông qua Audio Gateway để đến headset.

_ Các chế độ low power của Bluetooth khác nhau trong việc hỗ trợ quản lý năng lượng và do đó

khơng có chế độ nào thật sự tốt nhất để sử dụng. Để định chế độlow power được dùng thì phải

dựa vào dãy các nhân tố phụ thuộc vào loại ứng dụng và những nhu cầu của nó.

Những nhân tố chính là:

• Ứng dụng sử dụng vịêc quản lý năng lượng có tiện lợi khơng.

• Độ trễ tối đa mà ứng dụng có thể chấp nhận.

• Mơ hình radio traffic được mong chờ: nhẫu nhiên(random), định kỳ(periodic), truyền loạt

(bursty),…

22



2. Các chế độ năng lượng.





Active mode



_ Trong chế độ Active, thiết bị tham gia hoạt động trên kênh sóng radio. Master sắp xếp các q

trình truyền phát dữ liệu, các gói tin được chuyển phát trên những băng tần được xác định và

Slave phải lắng nghe các gói tin ở những khe thời gian được dành riêng cho chúng. Chế độ này

là một tiêu chuẩn kỹ thuật để so sánh với hiệu năng của những chế độ năng lượng thấp bởi vì nó

khơng những tiêu tốn hầu hết năng lượng mà còn có thông lượng dữ liệu truyền phát lớn nhất.

Sự tiêu thụ năng lượng của thiết bị phụ thuộc nhiều vào nhà sản xuất thiết bị và ứng dụng đang

chạy trên nó.

_ Những ứng dụng mà thích hợp với chế độ Active thì sẽ khơng có lợi hoặc khơng thể sử dụng

bất kỳ chế độ năng lượng thấp nào khác (Hold, Park, Sniff).





Hold mode



_ Đây là chế độ đơn giản nhất trong những chế độ năng lượng thấp của Bluetooth. Master và

Slave sẽ thỏa thuận với nhau trong suốt thời gian mà thiết bị Slave ở trong chế độ này. Khi một

kết nối thiết lập trong chế độ này, nó khơng hỗ trợ những gói dữ liệu trên kết nối đó và có thể tiết

kiệm năng lượng, lắng nghe định kỳ một khoảng thời gian lâu hơn hoặc cũng có thể tham gia vào

một Piconet mới. Điều quan trọng là thời gian Hold sẽ được thỏa thuận trước mỗi khi chế độ

Hold được thiết lập.



Hình 2-34 Hold Mode Interaction

_ Hình trên cho thấy sự tương tác giữa những thiết bị sử dụng chế độ Hold. Một khía cạnh quan

trọng hơn của chế độ Hold là mỗi lần chế độ này được thiết lập nó sẽ khơng bị hủy bỏ,và khoảng

thời gian Hold phải kết thúc trước khi sự truyền thơng có thể tái kích hoạt trở lại.

_ Vậy những ứng dụng nào thì đạt hiệu quả khi sử dụng chế độ Hold? Nếu ứng dụng của bạn có

thể quyết định hoặc điều khiển thời gian truyền phát dữ liệu ở lần kế tiếp thì ứng dụng có thể sử

dụng chế độ Hold cho việc quản lý năng lượng. Một ví dụ là hệ thống phân phát e-mail không

dây. E-mail không phải là một phương tiện truyền thông đồng bộ và những thông điệp được phân

23



phát đến đích sau vài giây hoặc đến vài giờ. Quan trọng hơn, người sử dụng không biết được sự

phân phát e-mail có thể xảy ra ngay lập tức và do đó bỏ qua độ trì hỗn nhỏ cho việc kéo dài thời

gian sử dụng năng lượng của thiết bị.

_ Một khía cạnh riêng biệt khác của chế độ Hold là sử dụng liên kết SCO mà không cần gửi trao

đổi các gói dữ liệu. Hơn nữa nếu ứng dụng khơng quan trọng chất lượng audio lắm, nó có thể sử

dụng ít hơn số khe thời gian do đó giảm được năng lượng. Ví dụkiểm tra sự hoạt động của những

thiết bị phát ra âm thanh (chỉcần có liên kết SCO hoạt động không cần sử dụng liên kết ACL).

Bằng cách đặt liên kết ACL trong chế độ Hold cho những khoảng thời gian vừa phải, và giảm

chất lượng của liên kết SCO, ứng dụng có thể tiết kiệm năng lượng hơn.

_ Bây giờ chúng ta hảy xem xét qua những ứng dụng mà khơng thích hợp cho việc sử dụng chế

độ Hold. Chế độ Hold khơng thích hợp cho những ứng dụng yêu cầu thời gian phản hồi nhanh và

khn mẫu lưu thơng khơng thể đốn biết trước.Ví dụ như thiết bịcảm biến, truy cập Web qua

liên kết khơng dây (trình duyệt Web khơng đốn biết được khuôn mẫu lưu thông của ứng dụng).

Nhớ rằng khi chế độ Hold được thiết lập, nó khơng thể bị hủy bỏ cho đến khi thời gian Hold thỏa

thuận kết thúc.





Sniffmode



_ Chế độ năng lượng thấp này tiết kiệm năng lượng bằng cách giảm số lượng khe thời gian mà

Master bắt đầu q trình truyền phát dữ liệu và do đó cũng giảm số khe thời gian mà Slave phải

lắng nghe. Tsniff là khoảng thời gian giữa những khe thời gian được thỏa thuận giữa Master và

Slave khi chế độ Sniff được thiết lập. Khi Slave lắng nghe trên kênh truyền, nó làm việc trong

24



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

File Transfer Profile: cho phép người sử dụng duyệt và hiệu chỉnh những tập tin và thư mục(object) trong hệ thống tập tin của thiết bị Bluetooth khác và chuyển giao object giữa 2 thiết bị Bluetooth. Những thiết bị phổ biến là PC, notebook và PDA.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×