Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thời gian qua KBNN đã có nhiều nổ lực, nghiên cứu cải cách thủ tục trong lĩnh vực KSC NSNN. Trong đó có việc thực hiện quy trình kiểm soát thanh toán vốn đầu tư XDCB, đã góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn NSNN cho ĐTPT, thúc đẩy phát triển kinh

Thời gian qua KBNN đã có nhiều nổ lực, nghiên cứu cải cách thủ tục trong lĩnh vực KSC NSNN. Trong đó có việc thực hiện quy trình kiểm soát thanh toán vốn đầu tư XDCB, đã góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn NSNN cho ĐTPT, thúc đẩy phát triển kinh

Tải bản đầy đủ - 0trang

CHƯƠNG 3: THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ GIẢI PHÁP

HỒN THIỆN KẾ TỐN CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI KHO BẠC

NHÀ NƯỚC NAM ĐỊNH

3.1. Các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu tại kho bạc nhà nước Nam Định

3.1.1. Những kết quả đạt được

3.1.1.1. Về vận dụng cơ chế chính sách chi NSNN

Cơ chế chính về quản lý kinh tế tài chính phát sinh, về hệ thống kiểm sốt

chi NSNN, về cơng tác kế tốn NSNN và hoạt động nghiệp vụ KBNN nhìn chung

được KBNN Nam Định chấp hành nghiêm chỉnh và vận dụng linh hoạt.

Khi thực hiện triển khai các qui định về chế độ, chính sách quản lý NSNN và

cơng tác kế tốn NSNN, KBNN Nam định đã cụ thể hóa bằng cách tự xây dựng các

qui chế làm việc của đơn vị, về qui trình kiểm soát chi NSNN, hướng dẫn nghiệp

vụ kế toán, hướng dẫn cơng tác chuyển số dư và sổ kế tốn đầu năm, quyết toán

NSNN hàng năm...theo hướng tuân thủ đúng, đủ cơ chế chính sách của nhà nước,

phù hợp với điều kiện của đơn vị, của địa phương, đơn giản, dễ thực hiện và thuận

lợi cho khách hàng.

KBNN Nam Định áp dụng cơ chế chính sách một cách đồng bộ, công khai,

minh bạch theo hướng cải cách thủ tục hành chính tạo được sự đồng thuận giữa

KBNN Nam Định với các cấp, các ngành và các đối tượng thụ hưởng ngân sách

liên quan. Từ đó khẳng định cơng tác kế tốn NSNN thực sự là cơng cụ hữu hiệu để

quản lý NSNN một cách chặt chẽ và hiệu quả.

3.1.1.2. Về tổ chức bộ máy kế toán chi NSNN

Cùng với sự lớn mạnh không ngừng của KBNN Nam Định trong hơn 20 năm

qua, bộ máy kế toán KBNN Nam Định ngày càng được hoàn thiện và phát triển,

đáp ứng yêu cầu quản lý quỹ NSNN trên địa bàn hiệu quả, chặt chẽ.

Bộ máy kế toán KBNN Nam Định được tổ chức theo nguyên tắc tập trung,

thống nhất tương ứng với tổ chức bộ máy quản lý của đơn vị gồm kế toán KBNN

tỉnh, kế toán KBNN huyện. Các đơn vị kế toán cấp dưới chịu sự chỉ đạo nghiệp vụ



của đơn vị kế toán cấp trên. Các đơn vị kế toán phải chấp hành nghiêm chỉnh các

qui định của pháp luật về chuẩn mực kế tốn nói chung và chế độ kế toán NSNN và

hoạt động nghiệp vụ KBNN hiện hành nói riêng.

Hiện nay, KBNN Nam Định đã có đội ngũ kế tốn đơng đảo về số lượng với

chất lượng cao. Số lượng cán bộ nhân viên phòng kế tốn là 54 người, trong đó tỷ

lệ tốt nghiệp đại học và sau đại học chiếm 95%.

Bắt đầu triển khai thí điểm từ tháng 4-2009 theo Quyết định số 2538/QĐBTC ngày 16/10/2009 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, đến nay cán bộ, nhân viên kế

toán KBNN Nam Định đã triển khai và vận hành hiệu quả hệ thống TABMIS (Hệ

thống Thông tin Quản lý Ngân sách và Kho bạc) từng bước cung cấp hệ thống các

báo cáo phục vụ cho yêu cầu quản lý, điều hành của cơ quan tài chính và chính

quyền các cấp trên địa bàn tỉnh.

3.1.1.3. Về tổ chức kế toán chi NSNN

- Chứng từ kế toán được sử dụng đúng theo mẫu qui định. Việc tiếp nhận,

lập, kiểm soát, xử lý các chứng từ kế toán, tổng hợp số liệu kế tốn được thực hiện

đúng qui trình nghiệp vụ, phù hợp thực tế và đảm bảo chặt chẽ, khoa học.

- Việc vận dụng tổ hợp tài khoản kế toán một cách hợp lý, logic theo nội

dung kinh tế của từng lĩnh vực hoạt động, từng cấp ngân sách, từng đơn vị sử dụng

ngân sách đã tạo thuận lợi cho việc quản lý. Đồng thời, thuận tiện cho việc thu

thập, xử lý và cung cấp thông tin phục vụ cơng tác lãnh đạo kịp thời, chính xác.

- Hệ thống sổ kế tốn, báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị được

khai thác từ hệ thống TABMIS đảm bảo đầy đủ, đúng mẫu theo qui định. Báo cáo

thực hiện đúng thời gian và nộp đúng nơi qui định, tạo điều kiện thuận lợi cho các

cấp, các ngành khai thác thông tin, phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành kịp thời của

cấp trên.

Công tác lưu trữ hồ sơ, tài liệu, chứng từ, sổ kế toán, báo cáo kế tốn khoa

học theo qui định, an tồn, dễ khai thác, sử dụng.

- Cơng tác kiểm sốt các khoản chi NSNN thực hiện chế độ tự chủ theo Nghị

định 130/2005/NĐ- CP ngày 17/10/2005 một cách chặt chẽ, góp phần quản lý một

cách hiệu quả chi NSNN trên địa bàn tỉnh.

Nình chung, kế toán chi NSNN tại KBNN Nam Định về cơ bản đã đảm bảo

thực hiện chế độ kế toán do nhà nước ban hành; đáp ứng được yêu cầu kiểm tra,



kiểm soát các khoản chi NSNN và cung cấp thông tin về ngân sách cho lãnh đạo

KBNN Nam Định nói rieegn và KBNN nói chung. Tuy nhiên, kế tốn chi NSNN

tại KBNN Nam Định vẫn còn tồn tại một số hạn chế sau.

3.1.2. Những mặt hạn chế, tồn tại và nguyên nhân

3.1.2.1. Những mặt hạn chế

* Về vận dụng cơ chế, chính sách

Sự gắn kết giữa các khâu quản lý quỹ NSNN với các khâu khác của chu trình

quản lý NSNN, đặc biệt là khâu lập dự toán và phân bổ ngân sách chưa cao.

Hiện nay, sau khi đã đưa vào vận hành hệ thống TABMIS cho kế toán NSNN

nhưng cơ chế chính sách để triển khai và thực hiện chưa đồng bộ trong cam kết chi,

dẫn đến công tác quản lý chi NSNN chưa thật hiệu quả. Hơn nữa, hiện nay chưa

chấm dứt được tình trạng nhà nước nợ vốn trong XDCB lớn và kéo dài; kiểm soát

chi NSNN vẫn thực hiện dựa trên yếu tố đầu vào, chưa thực hiện kiểm soát chi theo

kết quả đầu ra.

Việc tổ chức qui trình kiểm sốt chi NSNN chưa thống nhất, việc phân định

trách nhiệm chưa thực sự chặt chẽ khi đang còn nhiều cơ quan, đơn vị tham gia vào

q trình kiểm sốt chi NSNN (như cơ quan tài chính cấp phát bằng lệnh chi tiền);

một số khoản chi NSNN từ nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) chưa

được kiểm soát, thanh toán qua KBNN.

Mặc dù, thời gian qua các cấp các ngành đã có nhiều cố gắng thực hiện cải

cách thủ tục hành chính trong cơng tác chi NSNN như xây dựng các qui trình kiểm

sốt chi theo cơ chế ”một cửa”; niêm yết bộ thủ tục về chi NSNN trên cổng thông

tin của UBND tỉnh, niêm yết tại trụ sở KBNN tỉnh và KBNN các huyện; thiết lập

đường dây nóng để tiếp thu, xử lý thông tin từ nhân dân, từ khách hàng trong công

tác quản lý NSNN...nhưng do các văn bản của nhà nước qui định, hướng dẫn về chi

NSNN còn chồng chéo và thường xuyên thay đổi; do việc chỉ đạo triển khai thực

hiện giữa các KBNN trên địa bàn chưa thống nhất dẫn đến qui trình nghiệp vụ xử

lý cơng việc, u cầu cung cấp hồ sơ, chứng từ phục vụ cho cơng tác kiểm sốt chi

giữa các đơn vị KBNN chưa thống nhất. Từ đó, gây phiền hà cho khách hàng đến

giao dịch nhất là đối với trường hợp khách hàng giáo dịch đồng thời với hai đơn vị

KBNN trở lên.



Việc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm soát chi NSNN

chưa cao, chưa đạt hiệu quả như mong muốn.

Chế độ, định mức chi tiêu của nhà nước qui định thập hơn nhiều so với thực

tế, điều này dẫn đến tình trạng lập chứng từ khống, sửa chữa nội dung chi nhằm đối

phí với cơ quan KBNN và các cơ quan quản lý.

Thông tư số 79/2003/TT-BTC của Bộ tài chính qui định đối với các khoản

tạm ứng chi thường xun, khi thanh tốn hồn tạm ứng, cơ quan KBNN chỉ thực

hiện kiểm soát thanh toán qua bảng kê chứng từ do các đơn vị sử dụng NSNN lập.

Mặt khác, các khoản chi thường xuyên đều được tạm ứng, điều này dẫn đến có

nhiều khoản chi NSNN khơng được cơ quan KBNN kiểm soát chi, tạo lỗ hổng

trong kiểm soát đầu ra của NSNN. Một số nội dung của thông tư này cũng chưa cụ

thể như: khi qui định về các khoản mua sắm nhỏ lại không qui định mức giá trị cụ

thể là bao nhiêu dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng triển khai. Việc chưa phân

biệt rõ khái niệm về sửa chữa lớn và sửa chức thường xuyên làm cho khi có những

khoản chi sửa chữa lớn TSCĐ phát sinh với giá trị lớn nhưng các đơn vị SDNS lại

lập hồ sơ thực hiện sửa chữa thường xuyên để tránh không thực hiện công tác đấu

thầu (theo chế độ quản lý tài chính hiện hành) mà chỉ thực hiện hợp đồng A-B áp

dụng cho hình thức sửa chữa thường xuyên, gây nên sự thiếu chặt chẽ trong quản lý

NSNN. Qui định về các khoản được thực hiện bằng lệnh chi tiền chưa được chặt

chẽ. Vì vậy, có nhiều khoản chi được áp dụng hình thức lệnh chi tiền khơng đúng

qui định nhằm tránh sự kiểm sốt của cơ quan KBNN.

Những tồn tại hạn chế về chế độ, chính sách trong quản lý NSNN nêu trên đã

trở ngại lớn trong cơng tác kiểm sốt chi của KBNN Nam Định, tạo sự khơng thống

nhất trong kiểm sốt chi giữa các đơn vị KBNN và gây phiền hà cho đơn vị sử

dụng NSNN đồng thời dẫn đến việc quản lý chi NSNN chưa chặt chẽ.

Chương trình TABMIS là phần mềm quản lý thông tin về ngân sách và kho

bạc, cung cấp thông tin tổng hợp và bao quát phục vụ cơng tác chỉ đạo điều hành

nhưng hiện nay chương trình đang còn những hạn chế chưa khắc phục được như cơ

sở hạ tầng (máy chủ) chưa đảm bảo tương thích nên thường xảy ra nghẽn mạng, lỗi

hệ thống dẫn tới cơng tác kế tốn thường bị gián đoạn, chậm kết xuất báo cáo,

thông tin cung cấp phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo về quản lý NSNN chậm. Một

số tính năng như tuy cập số dư hiện thời của các TK nói chung chậm.



* Về tổ chức bộ máy kế tốn

Bộ máy kế tốn KBNN Nam Định nhìn chung đã đáp ứng yêu cầu quản lý

kinh tế tài chính, hoạt động có hiệu quả, trình độ chun mơn khơng ngừng nâng

cao nhưng vẫn còn một số cán bộ xử lý cơng việc còn lúng túng.

Một số cán bộ kế toán, đặc biệt là cán bộ nhân viên kế toán lướn tuổi thực

hiện tác nghiệp trên chương trình kế tốn máy còn chậm và sai sót.

Với điều kiện chỉ tiêu biên chế cán bộ nhân viên kế toán thấp như hiện nay,

cộng thêm nhu cầu thường xuyên học tập, nâng cao trình độ của bộ phận này dẫn

đến số lượng cán bộ thực tế có mặt hàng ngày để giải quyết cơng việc rất ít, cán bộ

kế tốn phải đảm nhiệm thêm nhiều công việc khác nhau dẫn đến vi phạm nguyên

tắc bất kiêm nhiệm trong kế toán.

* Về tổ chức kế toán chi NSNN

- Về hệ thống chứng từ kế toán

Hệ thống chứng từ kế toán hiện nay về cơ bản đã đáp ứng yêu cầu phản ánh

nội dung nghiệp vụ kinh tế phát sinh và hoàn thành nhưng một số nội dung trên

chứng từ còn thiếu thơng tin cần thiết phục vụ công tác ghi chép, phản ánh và nhập

sữ liệu ban đầu vào máy. Ví dụ, trên chứng từ chi đầu tư phát triển, theo qui định

hiện hành các đơn vị KBNN thu thuế giá trị gia tăng của các nhà thầu ngay trong

mỗi lần thanh toán giá trị khối lượng hoàn thành nhưng chứng từ giấy rút vốn C301/NS chưa có nội dung này để cán bộ kiểm sốt chi ghi vào.

Qui trình xử lý chứng từ chưa thật chặt chẽ. Mặc dù đối với một TK thanh

toán, sau khi kế toán trưởng ký kiểm soát chứng từ, kế tốn visn vẫn có thể nhập

thêm hoặc bớt đi một số nội dung thanh toán kèm theo giá trị bằng tiền. Như vậy,

việc kiểm soát chứng từ của kế tốn trưởng chưa thật có ý nghĩa quyết định.

Việc ghi chép trên chứng từ còn nhiều sai sót về mục lục ngân sách, chứng từ

còn tẩy, xóa.

Tình trạng chứng từ kế tốn lập khơng ghi ngày, tháng còn phổ biến; số tiền

bằng chữ và sô không khớp nhau; việc đóng chứng từ để lưu chiểu khơng đúng qui

định; lập bảng liệt kê chứng từ sai, chứng từ thiếu so với liệt kê.

- Về tổ hợp tài khoản kế tốn

Nhìn chung, tổ hợp tài khoản kế tốn theo hệ thống TABMIS đáp ứng được

việc ghi chép, phản ánh chi tiết các nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhưng vẫn còn một



số hạn chế như việc tra cứu các bút tốn q khứ rất khó khăn. Khi kế tốn có sai

sót trong việc hạch tốn mã chương, mã ngành, mã nội dung kinh tế thì việc tìm sai

sót để khắc phục rất khó nhất là đối với chủ đầu tư (Ban quản lý) quản lý đồng thời

nhiều cơng trình XDCB.

Việc khơng phân quyền đóng, mở kỳ kế tốn cho KBNN tỉnh như hiện nay của

KBNN đã gây khó khăn cho cơ sở trong việc điều chỉnh các bút toán sai.

Một số tài khoản như tài khoản tiền mặt, tài khoản tiền gửi ngân hàng chưa

được quản lý chặt chẽ. Tiền có thể chi vượt số dư nhưng chương trình khơng báo

lỗi.

Thông tin số dư hiện thời của các tài khoản chỉ có được sau khi cơng tác kết sổ

kế tốn - cơng việc thường được kế tốn trưởng nghiệp vụ thực hiện vào cuối ngày

làm việc dẫn đến khó khăn trong công tác nắm chắc thông tin để điều hành ngân

quỹ trong tồn đơn vị.

Dự tốn ngân sách xã theo qui yêu cầu lập chi tiết đến chương, loại. Trong q

trình dự tốn cần có sự điều chỉnh linh hoạt giữa các nội dung chi mà ngân sách xã

hạn hẹp dẫn đến việc điều chỉnh chương, loại trên tài khoản theo dõi dự tốn nhiều

lần, gây khó khăn về việc theo dõi dự toán cũng như gia tăng khối lượng cơng việc

cho cán bộ nhân viên kế tốn KBNN.

Việc nhập dự toán vào tài khoản theo dõi dự toán chi thường xuyên của các

đơn vị sử dụng NSNN vào hệ thống TABMIS của cơ quan tài chính vẫn còn nhiều

sai sót, cơ chế phối hợp trong q trình nhập, điều chỉnh dự tốn giữa cơ quan tài

chính và KBNN chưa thật nhịp nhàng, chưa có qui định cụ thể về trách nhiệm của

cơ quan tài chính và cơ quan KBNN trong việc xử lý cơng việc trong chuỗi qui

trình nghiệp vụ. Vì vậy, chuỗi qui trình nghiệp vụ chưa được thơng suốt, hiệu quả.

- Về hệ thống sổ kế tốn

Sổ chi tiết được mở để theo dõi chi tiết các đối tượng kế tốn nhằm mục đích

phục vụ u cầu quản lý. Tuy nhiên, tại KBNN Nam Định sổ chi tiết mở chưa đầy

đủ, ảnh hưởng đến công tác quản lý.

Trong XDCB, sổ chi tiết chỉ mở cho chủ đầu tư có dự án thanh tốn tại

KBNN. Do vậy, những chủ đầu tư có từ hai dự án, cơng trình XDCB trở lên thì kế

tốn kho bạc khơng thể cung cấp số liệu chi tiết cho từng dự án cụ thể được.

- Về hệ thống báo cáo kế toán



Do chưa hình thành hệ thống kế tốn nhà nước thống nhất, kế toán chi NSNN

chủ yếu dựa vào phương pháp tiền mặt chưa thực hiện kế tốn dồn tích nên một số

hạn chế về việc xác định phạm vi, đối tượng. Các phạm vi và ngun tắc kế tốn

chưa có sự ổn định giữa các thời kỳ. Hệ thống tài khoản kế tốn, báo cáo tài chính

giữa KBNN, cơ quan tài chính cũng như với các cơ quan sử dụng ngân sách chưa

thống nhất dẫn đến khó khăn trong việc đối chiếu số liệu, sử dụng số liệu chéo giữa

KBNN, tài chính và các cơ quan sử dụng ngân sách.

Báo cáo kế tốn quản trị chưa đánh giá được tình hình chi NSNN; chưa thực

sự cung cấp đầy đủ thông tin phục vụ báo cáo chuyên đề, báo cáo đánh giá chi tiết

công tác chi NSNN theo nguồn vốn. Việc tạo lập báo cáo tổng hợp báo cáo quyết

toán quý, năm của KBNN Nam Định chưa đi sâu vào đánh giá, phân tích. Do vậy,

chưa tham mưu đắc lực cho các cấp, các ngành trong việc quản lý, điều hành

NSNN trên địa bàn.

Nhu cầu thông tin báo cáo cung cấp cho cơ quan tài chính, kho bạc, các cơ

quan SDNS và các cơ quan khai tách thông tin khác không đồng nhất. Hiện nay,

chương trình TABMIS chưa đáp ứng được yêu cầu khai thác thông tin của tất cả

các cơ quan trên.

Ngoài ra, báo cáo chi NSNN theo mẫu B3-01 chưa chính xác, số chi cho đầu

tư phát triển bị kết xuất lặp. Vì vậy, tạo số cao hơn nhiều so với thực tế.

Hệ thống TABMIS chưa thật hoàn hảo nên việc khai thác báo cáp rất chậm,

có lúc hơn hai ngày mới kết xuất được báo cáo chi NSNN làm ảnh hưởng đến việc

cung cấp thông tin, phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành NSNN của cáp cấp, các

ngành hữu quan.

3.1.2.2. Nguyên nhân hạn chế

- Về cơ chế, chính sách

Một số nội dung chi trong Luật NSNN hiện hành chưa rõ ràng và chưa đúng

với bản chất của chi NSNN như các khoản chi chuyển nguồn, chi bổ sung giữa các

cấp NSNN.

Các văn bản hướng dẫn kiểm soát chi NSNN ngồi thơng tư 79/2003/TTBTC của Bộ tài chính còn nhiều văn bản hướng dẫn nữa dẫn đến khó khăn trong

việc thực hiện kiểm soát chi thường xuyên, phiền hà cho khách hàng.



Việc nhà nước khơng bố trí đủ tồn ngân quỹ cho cơng tác chi trả, thanh tốn

vào thời điểm cuối năm, đồng thời chưa có cơ chế xử lý nghiêm minh các trường

hợp thực hiện chi chuyển nguồn không đúng quy định nên dễ phát sinh tiêu cực từ

phía cán bộ KBNN, chủ đầu tư (ban quản lý), cơ quan tài chính...

- Sự phân cấp quản lý, phân cơng trách nhiệm của các cơ quan tham gia chu

trình quản lý NSNN chưa chặt chẽ, đặc biệt là giữa cơ quan tài chính với kho bạc,

UBND xã, phường, thị trấn làm cho công tác quản lý điều hanh và swe dụng

NSNN còn nhiều vướng mắc, chậm tháo gỡ.

- Một số đơn vị SDNS, các chủ đầu tư, Ban quản lý dự án đầu tư XDCB và

đội ngũ kế toán xã, kế toán các trường miền núi năng lực quản lý còn hạn chế, ảnh

hưởng khơng nhỏ đến cơng tác kế toán chi NSNN.

- Một số cán bộ nhân viên kế tốn KBNN Nam Định trình độ chun mơn

còn hạn chế, tư duy và lề lối làm việc cũ, chưa bắt kịp với yêu cầu đổi mới chuyên

môn quản lý và hiện đại hóa hoạt động KBNN.

Hiện nay, KBNN đang đẩy mạnh thực hiện chính sách tinh giản biên chế,

trong khi đó khối lượng cơng việc giao ngày càng tăng, hơn nữa nhu cầu đào tạo

của cán bộ nhân viên rất lớn dẫn đến áp lực thiếu cán bộ thực tế để xử lý cơng việc

hàng ngày, đó cũng là nguyên nhân dẫn đến việc vi phạm nguyên tắc bất kiêm

nhiệm trong kế tốn.

- Mặc dù chương trình TABMIS đã cải thiện rất nhiều trong công việc quản

lý thông tin về NSNN và KBNN nhưng hiện nay vẫn chưa hoàn chỉnh; cơ sở hạ

tầng đường truyền tại cấp trung ương chưa thật đồng bộ đã gây nghẽn, tắc, gián

đoạn trong q trình xử lý thơng tin của tồn hệ thống đặc biệt là thời điểm cuối

năm tài chính.

- Trong cơng tác tổ chức quản lý của hệ thống KBNN, việc giao phòng bộ

phận kế tốn nhà nước thực hiện cơng tác kiểm sốt chi trong khi KBNN các cấp

đều có bộ phận (vụ, phòng, tổ) kiểm sốt chi riêng biệt là chưa thật khoa học gây áp

lực về khối lượng công việc lớn, đồng thời không tách bạch nhiệm vụ kiểm sốt chi

và nhiệm vụ kế tốn thanh tốn có thể dẫn đến nhũng nhiễu từ một bộ phận cán bộ

có phẩm chất đạo đức kém.



- Cơng tác thanh tra, kiểm tra có lúc thiếu thường xuyên; việc xử lý sau khi

phát hiện sai sót chưa nghiêm, dẫn đên các lỗi về sai sót nghiệp vụ lặp đi lắp lại

thường xuyên, mức độ nghiêm trọng của lỗi vi phạm không giảm.

- Vệc tuân thủ qui trình nghiệp vụ của một số cán bộ kế toán chưa cao dẫn

đến xảy ra nhiều sai sót trong xử lý nghiệp vụ.

- Nền kinh tế đang trong q trình chuyển đổi, đơi lúc khn khổ pháp lý

chưa đồng bộ và chưa theo kịp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, cơ chế

chính sách và triển khai thực hiện còn thiếu tính cơng khai, minh bạch.

- Lộ trình cải cách trong lĩnh vực hành chính của một số ngành còn chậm và

chưa đồng bộ đã ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lý, sử dụng NSNN

- Cơ sở hạ tầng công nghệ và kỹ thuật vẫn còn hạn chế.

3.2. Các giải pháp hồn thiện kế tốn chi ngân sách nhà nước tại kho bạc nhà

nước Nam Định

3.2.1. Hoàn thiện về cơ chế, chính sách chi NSNN

3.2.1.1. Về chi thường xuyên

Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội từ 2011 đến 2012 được thơng qua tại

Đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ XI nêu rõ: chính sách tài chính quốc gia phải

được nêu hợp lý, phân phối và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển

kinh tế- xã hội, phân phối lợi ích cơng bằng.

Để đạt được định hướng trên, trong công tác quản lý NSNN, cần phải hồn

thiện cơ chế, chính sách đảm bảo chi NSNN đảm bảo được vai trò là cơng cụ chủ

yếu về phân phối, sử dụng nguồn lực chủ yếu của nhà nước. Chi NSNN phải đáp

ứng được yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo

quốc phòng, an ninh và tăng cường cơng tác đối ngoại, đồng thời để nguồn lực tài

chính nhà nước được sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, cần đẩy mạnh cơ chế kiểm tra,

kiểm soát chặt chẽ của các khoản chi NSNN. Gắn kết với việc thực hiện Luật

phòng - chống tham nhũng và tiết kiệm chống lãng phí. Đồng thời chi NSNN phải

được xây dựng thống nhất từ khâu lập dự toán và thực sự gắn kết giữa các khâu từ

khâu đầu tiên cho đến khâu cuối cùngquyết toán NSNN.

Trong khâu phân bổ ngân sách, tăng cường hệ thống định mức và các tiêu chí

phân bổ đảm bảo khoa học, phù hợp thực tế và đảm bảo tiết kiệm, tiến tới việc phân



bổ theo cơ chế “xin - cho” khá phổ biến như hiện nay. cần phân định rõ thẳm

quyền, trách nhiệm và quyền hạn giữa các cơ quan, các cấp cấp ngân sách trong

việc quản lý, sử dụng kinh phí NSNN đúng mục đích, đúng đối tượng và có hiệu

quả. Xác định nâng cao hơn vai trò, trách nhiệm quyền hạn của người chuẩn chi,

vai trò của thủ trưởng đơn vị trong việc sử dụng NSNN, đồng thời phân định rõ

trách nhiệm của cơ quan KBNN với vai trò kiểm sốt chi, từ đó hạn chế được thực

trạng hiện nay như: cán bộ kiểm soát chi của KBNN hướng dẫn cho đơn vị sửa

chữa chứng từ để “hợp thức hóa” chứng từ, phù hợp với chế độ quản lý chi tiêu

NSNN do nhà nước qui định, mặc dù các khoản chi ấy thực tế là chi sai mục đích,

vượt định mức pho phép....

Cam kết chi là việc KBNN thực hiện kiểm soát và giữ lại một khoản dự toán

NSNN đã được duyệtcủa các đơn vị SDNS để đảm bảo khả năng tính tốn cho các

hợp đồng đã được ký kết giữa các đơn vị và các nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ.

Quy trình thủ tục kiểm sốt chi NSNN phải đảm bảo tính khoa học, đơn giản,

rõ ràng, công khai và minh bạch, thuận lợi cho người kiểm soát, người được kiểm

soát, đồng thời phải bảo đảm các yêu cầu quản lý. Trong điều kiện chúng ta chưa

thể quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra, việc hồn thiện quy trình thủ tục, các

định mức, tiêu chuẩn chi ngân sách là đòi hỏi phải đầy đủ, tỷ mỉ và rõ ràng, để nâng

cao hiệu quả kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN.

Cải tiến quy trình cấp phát, thanh toán NSNN, bảo đảm nguyên tắc mọi

khoản chi của NSNN đều phải được cấp phát trực tiếp từ KBNN tới đối tượng sử

dụng ngân sách. Ở đây, KBNN là cơ quan đầu mối được nhà nước giao nhiệm vụ

kiểm sốt chi NSNN, kho bạc có quyền từ chối thanh đối với khoản chi sai chế độ

và phải hoàn tồn chịu trách nhiệm về quyết định của mình; trực tiếp thanh toán

mọi khoản chi đối với NSNN theo hướng:cải tiến và mở rộng phương thức thanh

toán hiện đại và theo thông lệ quốc tế. Mở rộng phương thức thanh tốn sao cho hệ

thống KBNN khơng cần phải sử dụng tới tiền mặt, kể cả thanh toán lương cho các

đối tượng hưởng lương từ NSNN.

Phải đảm bảo sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả các nguồn kinh phí chi

NSNN. Hiện nay, cơ chế kiểm soát chi NSNN đã bộc lộ nhiều nhượcđiểm. Khi

kiểm sốt biết có khoản chi chưa thực sự hiệu quả hoặc chưa minh bạch, nhưng

KBNN không thể từ chối chi được. Vì vậy, cơ chế cấp phát và kiểm soát chi thường



xuyên NSNN mới phải đạt được mục tiêu cấp đúng, cấp đủ, kiểm soát chặt chẽ việc

sử dụng góp phần loại bỏ tiêu cực nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Có cơ chế xử

phạt người chuẩn chi, nếu để tình trạng chi NSNN lãng phí, khơng hiệu quả.

3.2.1.2. Về chi đầu tư phát triển

Ngồi việc phải hồn thiện về cơ chế, chính sách như chi thường xuyên cần

phải hoàn thiện chi đầu tư phát triển, cụ thể:

Để khắc phục tình trạng gây nhũng nhiễu, áp lực từ cơ quan quản lý NSNN,

đối với các nhà thầu cung cấp hàng hóa, dịch vụ và khác phục tình trạng nợ vốn

cơng trình XDCB phổ biến như hiện nay, cần sớm nghiên cứu để thực hiện cơ chế

kiểm soát thanh toán chi NSNN theo cam kết chi.

Để KBNN thực hiện vai trò tổng kế tốn nhà nước theo chiến lược phát triển

phát triển đã được phê duyệt, chính phủ cần có cơ chế tập trung tất cả số khoản chỉ

từ nguồn vốn Hỗ trợ chính thức (ODA) về KBNN đề được thống nhất kiểm soát

chi, tránh gây phiền hà cho các đơn vị SDNS, đồng thời tránh gây thất thốt, lãng

phí NSNN.

3.2.2. Hồn thiện về tổ chức cơng tác kế tốn chi NSNN

3.2.2.1. Hồn thiện về tổ chức cơng tác kế tốn chi thường xun

- Về chứng từ kế toán

Chứng từ kế toán là tài liệu chứa đựng thơng tin về nghiệp vụ kinh tế, tài

chính phát sinh là yếu tố đầu của việc hạch toán kế tốn. Do đó, các thơng tin

chứng từ kể tốn phải đầy đủ, chính xác thỉ kế tốn mới có thể ghi chép, phản ứng

thơng tin một cách chi tiết, chính xác. Mặt khác, các thông tin trên chứng từ kế tốn

cần phải được mã hóa chuẩn và thống nhất đảm bảo cho thông tin đầu ra phục vụ

tốt yêu cầu quản lý.

- Về tài khoản kế tốn

Để có thơng tin kế tốn ngân sách đầy đủ, chính xác thi ngồi việc trang bị

chương trình kế tốn máy tiên tiến, cần có sự phân cơng, phân cấp phân quyền phù

hợp giữa các cơ quan, đơn vị SDNS cần quán triệt công tac nhập dữ liệu vào các

trường khai báo một cách đầy đủ thông tin, tạo cơ sở dữ liệu cho việc kết xuất báo

cáo đầy đủ thông tin phục vụ công tác quản lý, điều hành.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thời gian qua KBNN đã có nhiều nổ lực, nghiên cứu cải cách thủ tục trong lĩnh vực KSC NSNN. Trong đó có việc thực hiện quy trình kiểm soát thanh toán vốn đầu tư XDCB, đã góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn NSNN cho ĐTPT, thúc đẩy phát triển kinh

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×