Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 Đánh giá chung về phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng thương mại TNHH MTV Dầu Khí Toàn Cầu

3 Đánh giá chung về phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng thương mại TNHH MTV Dầu Khí Toàn Cầu

Tải bản đầy đủ - 0trang

55

Để tránh đầu tư máy ATM quá nhiều, chủ yếu là đầu tư máy ATM tại các

điểm giao dịch để tạo dựng hình ảnh của ngân hàng với khách hàng, GPBank đã tiết

kiệm được khá nhiều chi phí mua máy ATM và chi phí vận hành máy ATM. Trung

bình một máy ATM giá mua từ 500 triệu đồng đến 1 tỷ đồng và để vận hành máy

ATM cần có nhiều chi phí đi kèm như tiền thuê địa điểm (nếu không thuộc trụ sở

ngân hàng), tiền kéo đường mạng internet, tiền điện, tiền điều hòa (nếu có), camera

và đặc biệt là rủi ro khi bị các đối tượng xấu phá máy ATM đã từng xảy ra một số

trường hợp trên toàn quốc như trường hợp ở Trường Cao đẳng điện lực TP Hồ Chí

Minh tháng 2 năm 2015, kẻ gian đã phá buồng máy ATM và lấy đi gần 1 tỷ đồng, ở

Hải Phòng tháng 2 năm 2014, một nhóm đối tượng đã đốt 2 máy ATM trên đường

Lạch Tray của Ngân hàng TMCP Phát triển nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long và một

ATM trên đường Trần Nguyên Hãn của Ngân hàng TMCP Hằng Hải.

-



Đa dạng thẻ ghi nợ nội địa



Nhằm cung cấp các nhu cầu thẻ đa dạng, GPBank đã cung cấp 3 hạng thẻ

khác nhau để đáp ứng nhu cầu khác nhau của khách hàng với hạn mức rút tiền hàng

ngày cao, lên đến 5 triệu đồng 1 lần rút và các tiện ích gia tăng khác, tuy nhiên

khách hàng phải trả phí phát hành với thẻ hạng Vàng và Bạch Kim.

Đặc biệt, GPBank có thẻ My Style thể hiện sự khác biệt của thẻ với việc in

bất kỳ ảnh yêu thích nào của khách hàng lên trên mặt trước của thẻ. Đây là một

trong các loại thẻ được yêu thích, đặc biệt là giới trẻ.

-



Chính sách phí dịch vụ hướng tới khách hàng



Chính sách phí là cơng cụ mạnh cho bất kỳ hoạt động cung cấp dịch vụ nào.

Đồng thời, với việc đầu tư ít máy ATM, GPBank đã miễn phí mọi giao dịch cho

khách hàng, từ giao dịch rút tiền mặt tại máy ATM của GPBank hay ngân hàng

khác, giao dịch xem sao kê, chuyển khoản trong cùng hệ thống, trừ trường hợp in

sao kê phải thu phí theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

-



Tăng trưởng phát hành thẻ mới



Mặc dù còn khó khăn nhưng được sự quan tâm của Ban Lãnh đạo và giao chỉ

tiêu phát hành thẻ tới từng chi nhánh với yêu cầu tăng trưởng luôn ở mức tối thiểu



56

từ 30% trở lên, do đó kết quả số lượng thẻ phát hành năm sau ln cao hơn năm

trước.

-



Các tiện ích gia tăng của thẻ



Gắn với chiếc thẻ My Card, GPBank đã cung cấp các dịch vụ cho khách

hàng khi sở hữu chúng gồm:

+ Dịch vụ thông báo biến động số dư: khi có giao dịch rút tiền hoặc chuyển

khoản trên ATM, giao dịch trên Internet có báo tin nhắn về số điện thoại di động mà

khách hàng đã đăng ký với ngân hàng. Như vậy, nếu có giao dịch gian lận mà

khơng phải do chủ thẻ thực hiện thì có thể biết ngay để báo cho ngân hàng thông

qua tổng đài dịch vụ khách hàng (callcenter)

+ Dịch vụ ngân hàng trực tuyến: với dịch vụ này, khách hàng có thể đăng ký

các dịch vụ cho thẻ như cài đặt hạn mức giao dịch khi thực hiện giao dịch điện tử,

thanh toán các hóa đơn điện, nước, truyền hình, vé máy bay,…

-



Các Chương trình khuyến mại



Để phát triển thẻ thì buộc phải triển khai nhiều chương trình khuyến mại để

khuyến khích khách hàng được nhiều quyền lợi hơn khi có chiếc thẻ trong tay, đồng

thời là công cụ tốt cho các đơn vị kinh doanh phát triển khách hàng mới.

Các chương trình khuyến mại tồn hệ thống để khuyến khích khách khách

hàng mở thẻ và các chương trình khuyến mại với các đơn vị bán hàng với mục đích

kết hợp quảng bá sản phẩm dịch vụ của đơn vị bán và giảm giá cho người dùng sở

hữu thẻ của GPBank.

2.3.2 Những hạn chế, yếu kém

-



Về đầu tư trang thiết bị.



Do GPBank bị kiểm soát đặc biệt từ năm 2012 cho đến nay nên điều kiện

cho đầu tư trang thiết bị rất bị hạn chế, thậm chí khơng có ở một số lĩnh vực

khơng phải là trọng yếu, khơng có tính cấp thiết. Do đó việc đầu tư cho hoạt

động thẻ cũng bị hạn chế, chủ yếu là chi phí phục vụ cho các hoạt động duy trì

như duy trì hệ thống, bảo trì định kỳ và mua sắm một số trang thiết bị phục vụ

mở rộng dịch vụ thẻ.



57

-



Về sản phẩm thẻ.



+ Cơ cấu sản phẩm thẻ: sản phẩm thẻ chủ yếu là thẻ ghi nợ nội địa, mặc dù

các loại thẻ đa dạng, ấn tượng, chỉ có một tỷ lệ nhỏ thẻ ghi nợ quốc tế Mastercard

và chưa có thẻ tín dụng quốc tế.

+ Tiện ích của thẻ: tiện ích của thẻ vẫn sử dụng chính ở rút tiền mặt, do đặc

thù là thẻ ghi nợ nội địa, không phát huy được nhiều cho thanh tốn khơng dùng

tiền mặt theo chủ trưởng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước.

Mặc dù là hạn mức được rút 5 triệu đồng/ 1 giao dịch và khơng thu khách

hàng phí rút tiền mặt nhưng khi rút tại ATM của ngân hàng khác lại bị hạn chế số

tiền, thường là 2 triệu đồng/ 1 giao dịch, có một số ngân hàng cho phép rút 3 triệu

đồng/ 1 giao dịch.

+ Số dư trong các tài khoản thẻ: nhiều thẻ được phát hành ra theo chỉ tiêu

hoàn thành nên số dư trong thẻ khơng nhiều, có thể chỉ là số dư tối thiểu trong tài

khoản thanh toán (50.000VND) và đây cũng là một trong các nguyên nhân gây lãng

phí tài nguyên của hệ thống ngân hàng T24.

Trong khi đó, hoạt động dịch vụ thẻ của một ngân hàng để mang lại lợi

nhuận chính là ở thẻ tín dụng, vì thứ nhất: thẻ tín dụng sẽ thu được phí duy trì hàng

năm cao, khoảng từ 200.000 VND/ 1 thẻ đến vài triệu đồng/ 1 thẻ tùy theo loại thẻ

khác nhau ở các ngân hàng, thứ hai: đa phần khách hàng sử dụng thẻ khơng thanh

tốn hết dư nợ hàng tháng, chỉ thanh tốn số dư tối thiểu, vì vậy khoản dư còn tồn,

chưa thanh tốn sẽ chịu lãi suất cao, đa phần hiện nay các ngân hàng thường tính từ

20-30%/ năm kể từ ngày khách hàng giao dịch.

-



Về mạng lưới.



Cũng từ nguyên nhân là kiểm soát đặc biệt nên từ năm 2012 GPBank không

được mở thêm bất kỳ điểm giao dịch mới nào, do vậy mà GPBank khó phát triển

thêm khách hàng ở những thị trường mới ngoài các tỉnh thành hiện có. Đồng thời,

số lượng ATM q ít, chủ yếu đặt ngay tại trụ sở chi nhánh nên việc quảng bá

thương hiệu cũng bị hạn chế, khó cho khách hàng nhận biết thương hiệu.

-



Về nhân lực.



58

Được đánh giá là đội ngũ cán bộ ổn định qua nhiều năm kể từ khi bắt đầu

triển khai dự án thẻ tới bây giờ, nhưng do hạn chế về kinh phí và thị trường nên việc

va chạm các tình huống thực tế, học hỏi thêm kinh nghiệm từ các ngân hàng trong

và ngồi nước bị hạn chế. Do đó, trình độ năng lực của cán bộ vận hành và triển

khai không theo kịp với thị trường phát triển ngày một nhanh, đặc biệt đang là thời

kỳ của công nghệ 4.0

Hiện tại, GPBank cũng chưa có hệ thống chăm sóc khách hàng phục vụ 24/7

tại ngân hàng theo đúng nghĩa của Callcenter, ngoài giờ hành chính thường phải hỗ

trợ khách hàng bằng phương pháp thủ công, đôi khi không thể giải quyết các tình

huống khẩn cấp, kịp thời cho khách hàng. Đây cũng có thể gây ra các rủi ro cho

hoạt động thẻ của ngân hàng.

2.3.3. Nguyên nhân

-



Nguyên nhân khách quan.



+ Do GPBank là ngân hàng bị kiểm soát đặc biệt nên mọi hoạt động kinh

doanh nói chung và thẻ nói riêng đều bị hạn chế. GPBank không thể tự quyết định

chi tiêu với số tiền nhiều cho các hoạt động thẻ. Từ đó, việc hoạch định các chính

sách về phát triển thẻ, dịch vụ thẻ không tương xứng với tiềm năng của thị trường,

có thể làm nhỡ việc đón đầu và tiếp cận với công nghệ mới.

+ GPBank là ngân hàng triển khai thẻ muộn so với thị trường, do đó một số

ngân hàng lớn, đi đầu đã lựa chọn khách hàng và cung cấp sản phẩm thẻ cho khách

hàng tiềm năng, có nhu cầu cao. Đồng thời, thị trường tài chính ngân hàng tại Việt

Nam cạnh tranh khốc liệt với khoảng 40 ngân hàng cùng triển khai, kinh doanh thẻ,

đặc biệt là các ngân hàng lớn, có sự đầu tư lớn về tài chính về cơng nghệ thẻ, có

nhiều chương trình khuyến mại lớn tặng tiền khi sử dụng thanh toán thẻ (cashback),

quà tặng đa dạng, nhiều. Thêm vào đó là sự cạnh tranh mạnh từ các ngân hàng nước

ngoài với tiềm lực mạnh về tài chính và trình độ chun mơn cao.

+ Thói quen sử dụng tiền mặt của người dân Việt Nam noi chung vẫn chưa

có thay đổi nhiều, đặc biệt với thẻ nội địa thì đa phần khách hàng sử dụng chính là

để rút tiền, kể cả khi khách hàng đến các trung tâm mua sắm, siêu thị có lắp đặt máy



59

POS tại các đơn vị bán hàng nhưng khách hàng vẫn muốn rút tiền để thanh toán.

Đây thực sự là lãng phí lớn cho nền kinh tế nói chung và cho các chủ thể tham gia

vào quá trình đó như ngân hàng, khách hàng và đơn vị bán hàng.

-



Nguyên nhân nội tại của GPBank.



+ Chiến lược của GPBank chưa chú trọng nhiều vào lĩnh vực thẻ. GPBank

cũng như nhiều ngân hàng vẫn tập trung chính vào tín dụng để mang lại doanh thu

và lợi nhuận cao, hơn nữa ngân hàng không phải đầu tư nhiều khi phát triển, thúc

đẩy tín dụng. Nếu GPBank xem thẻ là một chiến lược để phát triển thì có thể tận

dụng mọi quan hệ sẵn có như khách hàng gửi tiền, khách hàng vay vốn, khách hàng

sử dụng các dịch vụ khác để khai thác và phát triển dịch vụ thẻ.

+ Nhân lực hạn chế. Thẻ là gắn với công nghệ và người sử dụng công nghệ

phải am hiểu và được va chạm thường xuyên, học hỏi cái mới. Tuy nhiên, nhân lực

của GPBank cho phát triển thẻ đa phần là cán bộ cũ, có sức ì nhất định, khơng được

thường xun học hỏi, khơng có động lực nhiều cho phát triển và kinh doanh thẻ.

+ Mạng lưới điểm giao dịch nhỏ. GPBank có 79 điểm giao dịch khơng thay

đổi trong các năm qua. Vì vậy, khơng có cơ hội mở rộng thị trường, thị phần, việc

khai thác thêm tập khách hàng mới bị hạn chế.

+ Nền tảng khách hàng không nhiều. GPBank có q ít khách hàng là cơng

ty nên việc phát triển hàng loạt khách hàng mở thẻ bị hạn chế, đa phần là mở thẻ

cho khách hàng cá nhân, điều này làm cho sự tăng trưởng thẻ không cao, đồng thời

gia tăng chi phí khi mở thẻ cho khách hàng.

+ Khơng có thẻ tín dụng. Đây là điểm bất lợi cho GPBank,vì hiện nay đa

phần những khách hàng có nhu cầu sử dụng thẻ đều có ít nhất một chiếc thẻ ATM

trong người, thường là thẻ ATM gắn với ngân hàng mà công ty của khách hàng sử

dụng dịch vụ chi lương qua ngân hàng. Do đó, khách hàng quan tâm nhiều hơn đến

thẻ tín dụng nếu có nhu cầu phát hành.



60

TÓM LƯỢC CHƯƠNG 2

Trong chương này, luận văn đã cho thấy bức tranh toàn cảnh về hoạt động

kinh doanh của Ngân hàng Dầu Khí Tồn Cầu cũng như thực trạng phát triển thẻ

thanh toán tại GPBank giai đoạn 2014-2016. Luận văn đã đánh giá những mặt đã

làm được, những vấn đề còn hạn chế trong phát triển dịch vụ thẻ tại GPBank và

cũng đã xác định được nguyên nhân của những hạn chế này. Những phân tích đánh

giá trong chương 2 sẽ là nền tảng cho những giải pháp ở chương 3 nhằm giúp

GPBank phát triển hơn nữa hoạt động kinh doanh thẻ trên toàn hệ thống hiện tại.



61

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ TẠI NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI TNHH MTV DẦU KHÍ TỒN CẦU

3.1. Xu hướng phát triển dịch vụ thẻ thanh toán trên thế giới và tại Việt Nam

3.1.1 Xu hướng thanh tốn khơng dùng tiền mặt ngày càng phổ biến tại các

nước trên thế giới

Theo khảo sát của Ngân hàng Thế giới (WB), thanh tốn khơng dùng tiền mặt

đã trở thành phương thức thanh toán phổ biến tại nhiều quốc gia phát triển trên thế giới

với giá trị chi tiêu của người dân chiếm tới hơn 90% tổng số giao dịch hằng ngày.

Tỷ lệ tiền mặt trong tổng lượng tiền của nền kinh tế chỉ chiếm khoảng 7,7%

ở Mỹ và 10% ở khu vực đồng Euro vào năm 2016. Hầu hết các nước đã và đang

triển khai công cuộc cải cách hệ thống thanh toán hiện đại, đáp ứng nhu cầu thanh

toán ngày càng cao của người dân.

Điển hình tại Thụy Điển cho thấy, tiền mặt chỉ chiếm khoảng 2% tổng lượng

tiền trong nền kinh tế. Con số này cho thấy Thụy Điển là quốc gia người dân rất ít

giao dịch bằng tiền mặt trong khi con số tương tự của toàn thế giới là 75%.

3.1.2 Hình thức thanh tốn bằng thẻ ngày càng đa dạng

Ngày càng có nhiều quốc gia sử dụng thẻ thơng minh trong các ngành dịch

vụ khác nhau. Có thể kể đến như thẻ sim tích hợp thanh tốn trong viễn thơng, các

ứng dụng trong việc tự động hóa thanh tốn vé xe bus, tàu điện trong giao thơng,

chứng minh thư điện tử trong lĩnh vực quản lý nhà nước, hay các loại thẻ thanh toán

của ngành ngân hàng… Trong đó, ngành Viễn thơng được đánh giá là Ngành sử

dụng thẻ thông minh nhiều nhất (dưới dạng thẻ sim).

Trong lĩnh vực ngân hàng, liên minh thẻ EMV (Euro Pay, MasterCard và

Visa) được xem là nền tảng để nhiều ngân hàng đầu tư và triển khai giải pháp phát

hành thẻ thông minh. Hầu hết các nước trên thế giới đã chuyển đổi sang sử dụng hệ

thống EMV. Đầu tiền trong việc chuyển đổi sử dụng hệ thống thẻ EMV là châu Âu

(chuyển đổi từ năm 1996), mà điển hình là Pháp và Anh.

Ở khu vực Châu Á, Nhật Bản, Hàn Quốc đã tiến hành từ những năm 20032004. Ở Đông Nam Á, Malaysia và Singapore là những quốc gia đầu tiên chuyển



62

đổi hệ thống thanh toán thẻ sang chuẩn EMV từ năm 2005, tiếp sau đó là Thái Lan,

Indonesia, Philipines và Việt Nam.

3.1.3 Thực trạng sử dụng thanh toán thẻ tại Việt Nam và xu hướng trong thời

gian tới

Thanh toán khơng dùng tiền mặt là xu hướng trên tồn thế giới và đang được đông

đảo người dân Việt Nam lựa chọn thay cho hình thức chi trả tiền mặt thơng thường.

Đến năm 2016, hầu hết các siêu thị, trung tâm mua sắm, nhà hàng, shop quần

áo,… trong cả nước cho phép người tiêu dùng thanh tốn khơng dùng tiền mặt khi

mua hàng. Hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho thanh toán thẻ đã được cải thiện, số lượng

ATM và POS có tốc độ tăng trưởng nhanh.

Với việc tất cả các chỉ số về thanh toán thẻ như tổng giá trị giao dịch qua các

máy ATM, các tài khoản thanh toán cá nhân hay qua POS đều tăng. Có thể nói xu

hướng sử dụng thẻ trong thanh toán của người Việt đang ngày càng phổ biến và

được thị trường đón nhận ngày càng cao.

Kể từ khi thị trường Việt Nam phát hành thẻ ngân hàng lần đầu tiên (vào

năm 1996), đến tháng 6/2016, số lượng thẻ phát hành đã đạt mức trên 106 triệu thẻ

(tăng gấp 3,4 lần so với cuối năm 2010) với 48 ngân hàng phát hành.

Trong đó, thẻ ghi nợ chiếm 90,66%, thẻ tín dụng chiếm 3,53%, thẻ trả trước

là 5,81%. Về mạng lưới, cơ sở hạ tầng phục vụ cho thanh toán thẻ ngân hàng được

cải thiện, số lượng các máy POS có tốc độ tăng trưởng nhanh. Đến cuối tháng

6/2016, trên tồn quốc có trên 17.300 ATM và hơn 239.000 POS được lắp đặt.

Cùng với sự gia tăng về số lượng thẻ và đầu tư cơ sở hạ tầng thanh toán, hiện

nay, các ngân hàng đã cung cấp khá tốt các tiện ích cơ bản trên ngân hàng điện tử

như: Chuyển khoản, thanh toán hoá đơn dịch vụ điện, nước, internet, điện thoại,

truyền hình cáp, mua vé máy bay, mua hàng trực tuyến, đóng phí bảo hiểm…

3.2. Định hướng và mục tiêu phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng thương mại

TNHH MTV Dầu Khí Tồn cầu

Trong điều kiện GPBank đang còn nhiều khó khăn, đặc biệt là khó khăn về

tài chính, việc tìm ra một hướng đi đúng, phù hợp không phải là dễ dàng. Tuy nhiên,



63

để tiếp tục duy trì và tăng trưởng dịch vụ thẻ thanh toán, GPBank xác định một số

mục tiêu tới năm 2020 và định hướng trong 10 năm tới, cụ thể sau.

-



Duy trì tốc độ phát triển thẻ hàng năm tăng trưởng từ 30% trở lên.



-



Kết hợp với Ngân hàng TMCP Cơng thương Việt Nam để phát hành thẻ



tín dụng như Visa hoặc Mastercard nhằm đa dạng các sản phẩm thẻ và đáp ứng nhu

cầu ngày càng tăng của khách hàng.

-



Tăng thu phí dịch vụ thanh tốn thẻ qua máy POS tại các điểm chấp nhận



thẻ với tỷ lệ tăng trưởng từ 30% trở lên. Đồng nghĩa với việc tăng số lượng máy

thanh toán và điểm chấp nhận thẻ.

-



Tiến tới thu phí đối với các giao dịch rút tiền tại máy ATM của các ngân



hàng khác để giảm chi phí

Trên cơ sở những định hướng trên, với những lợi thế có được, GPBank tiến

tới nâng cao chất lượng dịch vụ, gia tăng các tiện ích sử dụng, tăng doanh số sử

dụng thẻ và dần có vị trí trong phát triển thẻ trên thị trường.

GPBank cần đặt ra các mục tiêu cụ thể như sau.

-



Về khách hàng: Duy trì khách hàng cũ để sử dụng thẻ thường xuyên và



có hiệu quả, khai thác khách hàng từ các dịch vụ khác để mở thẻ như khách hàng sử

dụng tiền gửi, cho vay, thanh toán,… và phát triển khách hàng mới mở tài khoản,

mở thẻ thanh tốn bằng các chương trình khuyến mại hoặc các chính sách chăm sóc

khách hàng.

-



Về sản phẩm thẻ: Chủ động xác định nhu cầu từng nhóm khách hàng, đặc



biệt là nhóm khách hàng trẻ mở thẻ My Style với những đặc trưng riêng về hình ảnh

trên từng chiếc thẻ. Kết với các trường học để mở thẻ student card gắn với hình ảnh

cá nhân hóa trong thiết kế chung, có như vậy thì có thể khai thác được nhiều khách

hàng thuộc nhóm trẻ.

-



Về nhân lực: Để phát triển tốt thẻ và dịch vụ thẻ thì mỗi cán bộ phải là



người nắm rõ thẻ của GPBank và của các ngân hàng khác để nắm được lợi thế thẻ

GPBank là gì, điểm chưa tốt là gì khi tư vấn, tiếp thị cho khách hàng. Đội ngũ cán

bộ cũng phải là những người sử dụng thẻ thường xuyên để nắm chắc các tình huống



64

khi có vấn để, khi đó cán bộ hoàn thành chủ động trả lời và tư vấn cho khách hàng

nếu có khiếu nại.

-



Về quản trị rủi ro: Ngày nay, rủi ro trong công nghệ ngày càng gia tăng,



vì vậy, việc quản trị được rủi ro là điều cực kỳ quan trọng, giúp tạo dựng niềm tin

cho khách hàng yên tâm sử dụng thẻ. Trong nội bộ, cần phân chia quyền hạn, trách

nhiệm của từng bộ phận trụ sở chính, của chi nhánh để đảm bảo có thể kiểm tra

chéo trong hoạt động phát hành và kinh doanh dịch vụ thẻ.

3.3 Một số giải pháp và kiến nghị về phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng

thương mại TNHH MTV Dầu Khí Tồn cầu

3.3.1 Một số giải pháp

3.3.1.1 Giải pháp về phát triển sản phẩm, doanh thu dịch vụ thẻ

- Đa dạng sản phẩm và gia tăng các tiện ích cho thẻ. Trong điều kiện cạnh

tranh ngày càng lớn và phức tạp, GPBank nên phát huy những thế mạnh của các sản

phẩm hiện có như thẻ My Style, xây dựng những sản phẩm thẻ mới phù hợp với thị

trường, phù hợp với từng nhóm đối tượng khách hàng. Từ đó sẽ khuyến khích

khách hàng sử dụng thẻ nhiều hơn, trung thành với GPBank và có thể giới thiệu

khách hàng mới cho ngân hàng sử dụng dịch vụ thẻ.

Đẩy mạnh việc phát triển khách hàng doanh nghiệp để phát hành thẻ đồng

thương hiệu dạng thẻ My Style hoặc thẻ Gift Card. Với việc phát hành loại thẻ này

có thể giúp quảng bá rất tốt tới các khách hàng cá nhân, bởi vì những doanh nghiệp

phát hành thường sẽ trả lương, thu nhập hàng tháng cho cán bộ nhân viên, do đó bắt

buộc những khách hàng cá nhân đó sẽ sử dụng thường xuyên, tạo cho kết quả thẻ

hoạt động (active) cao.

Một lĩnh vực khác cũng có thể khai thác phát triển thẻ để đa dạng các loại thẻ

là kết hợp với các trường học để phát hành thẻ sinh viên. Với đối tượng này có lợi

thế trẻ trung, năng động, thích các hình ảnh hiện đại, do đó việc kết hợp thẻ Student

Card dạng My Style sẽ là hiệu quả cho cả nhà trường, sinh viên và ngân hàng. Tuy

nhiên, để sản xuất loại thẻ này thì chi phí cao, trong khi đối tượng sinh viên thường

chỉ quan tâm tới phát hành thẻ nếu là miễn phí. Đây là bài tốn GPBank cần tính

tốn giữa chi phí phát hành và hiệu quả từ sử dụng thẻ của khách hàng mang lại.



65

Triển khai sản phẩm thẻ tín dụng bằng việc kết hợp với Ngân hàng TMCP

Công thương Việt Nam để bảo lãnh phát hành hoặc phát hành thông qua Vietinbank,

bởi vì để phát hành được thẻ tín dụng như Visa, Mastercard thì cần số tiền đặt cọc

khá lớn (khoảng 500.000 USD đến 1 triệu đô la mỹ) trong khi GPBank còn nhiều

khó khăn về tài chính.

- Tăng cường doanh thu từ hoạt động thẻ. Nếu phát triển thẻ, mở rộng nhiều

khách hàng mà doanh thu không tăng trưởng tương ứng thì hiệu quả phát triển dịch

vụ thẻ chưa cao. Do đó, GPBank cần tính tới việc thu phí một số dịch vụ đang miễn

phí hoặc mức thu phí đanh thấp, chẳng hạn việc miễn phí rút tiền tại tất cả ATM trên

tồn quốc có kết nối đã tốn chi phí lớn cho việc vận hành thẻ, GPBank có thể bắt

đầu triển khai thu phí rút tiền (khoảng 50% so với các ngân hàng khác đang thu) tại

các ATM không thuộc GPBank.

Việc tạo ra nhiều tiện ích cho khách hàng sẽ giúp khách hàng thường xuyên

sử dụng thẻ và tất nhiên lượng tiền tích trữ trong tài khoản thanh tốn của khách

hàng sẽ tăng lên để phục vụ cho các chi tiêu của khách hàng, từ đó sẽ giúp GPBank

tận dụng được lãi tiền gửi giá rẻ (thường 1%/ năm).

Về lãi liên quan tới việc sử dụng thẻ chỉ có thể xảy ra khi GPBank có thẻ tín

dụng, khi có số dư nợ mà khách hàng khơng thanh tốn hết sẽ chịu lãi suất tiền vay

kể từ ngày khách hàng thanh toán tại đơn vị chấp nhận thẻ.

3.2.1.2 Giải pháp đẩy mạnh hoạt động marketing, mở rộng mạng lưới phân phối

thẻ

- Hoạt động tiếp thị/ marketing là không thể thiếu trong bất kỳ doanh nghiệp

nào thương mại, và ngành ngân hàng như GPBank cũng khơng là ngoại lệ. Khi có

chiến lược marketing tốt thì sự lan tỏa trong cộng động lên cao, làm cho các khách

hàng càng cảm thấy tin tưởng và gắn bó lâu dài với ngân hàng. Để làm tốt cơng tác

marketing thì GPBank cần triển khai một số nội dung sau.

+ Dựa vào khả năng tài chính hiện có xây dựng các chương trình quảng bá,

tiếp thị phù hợp, tận dụng các kênh quảng bá miễn phí sẵn có để giới thiệu thẻ của

GPBank. Trước đây GPBank đã có chương trình “Q tặng cuộc sống” nhiều năm



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Đánh giá chung về phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng thương mại TNHH MTV Dầu Khí Toàn Cầu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×