Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Đối với dịch vụ thẻ, GPBank hiện tại đang cung cấp không nhiều các giá trị gia tăng cho khách hàng, cụ thể như sau:

Đối với dịch vụ thẻ, GPBank hiện tại đang cung cấp không nhiều các giá trị gia tăng cho khách hàng, cụ thể như sau:

Tải bản đầy đủ - 0trang

51

- Các chương trình khuyến mại dành cho chủ thẻ đa phần là liên kết với các

đơn vị bán hàng. Với các chương trình này GPBank và đối tác phối hợp chia sẻ

thông tin qua lại trên các kênh sẵn có, theo đó khách hàng dùng thẻ của GPBank sẽ

được chiết khấu và tận hưởng ưu đãi các tiện ích mà đơn vị bán hàng cung cấp.

- Chương trình tích điểm cho thành viên. Hiện tại, GPBank chưa có chương

trình tích điểm dành cho các thành viên sở hữu thẻ My Card;

- Chương trình hỗ trợ, chăm sóc dành cho khách hàng có tần suất sử dụng

thường xuyên và doanh số sử dụng cao. Do còn khó khăn về tài chính nên Ngân

hàng Dầu Khí Tồn Cầu rất ít chương trình chăm sóc thực sự rộng khắp dành cho

các khách hàng sử dụng thẻ, chủ yếu là các chương trình đơn lẻ, dành cho những

đối tượng khách hàng thân thiết (VIP) thực của các Chi nhánh/Phòng giao dịch

trung tâm;

- Thời gian qua, GPBank liên tục kết hợp với Công ty cổ phẩn chuyển mạch

quốc gia NAPAS để bổ sung các tiện ích cho chủ thẻ như thanh tốn vé máy bay

Vietjetair, AirAsia, đặc biệt gần đây là thanh toán vé máy bay Vietnam Airlines

thông qua website của Vietnam Airlines, thanh toán vé đỗ xe Iparking.

2.2.2.4 Phát triển mạng lưới phân phối dịch vụ thẻ GPBank

GPBank có mạng lưới hoạt động tại 10 tỉnh thành trên tồn quốc, trong đó có

đầy đủ các tỉnh/ thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn, Đà Nẵng,… trong đó có 24 chi

nhánh và 55 phòng giao dịch, tập trung phần lớn tại Hà Nội (46 điểm giao dịch/ 79

tồn hệ thống). Đây chính là mạng lưới chính mà GPBank phát triển, phân phối thẻ

thanh tốn tới các khách hàng thơng qua 2 hình thức: thứ nhất là khách hàng tới

giao dịch tại ngân hàng và đăng ký mở thẻ thanh toán, thứ hai là đội ngũ cán bộ

kinh doanh phát triển các khách hàng doanh nghiệp có tiền gửi hoặc có nhu cầu vay

ngân hàng hoặc có nhu cầu đổ lương cho cán bộ nhân viên theo định kỳ, trường học

để phát triển hàng loạt đơn vị đối tác.

Với lợi thế có mặt ở các thành phố lớn nên trình độ dân trí cao, thuận tiện

cho việc phát triển khách hàng sử dụng thẻ, lắp đặt các máy cà thẻ POS, phát triển

các điểm ưu đãi dành cho chủ thẻ của GPBank và các tiện ích khác của thẻ.



52

Hiện tại, GPBank có đội ngũ nhân viên trẻ và nhiều kinh nghiệm, ln nhiệt

tình chăm sóc khách hàng và hướng dẫn, tư vấn khách hàng chi tiết trong việc phát

hành, sử dụng và hỗ trợ khi có vấn đề trong q trình sử dụng.

Song song với việc tiếp cận, chăm sóc khách hàng tiền gửi, khoảng 200.000

khách hàng cá nhân, cán bộ GPBank đã biết tận dụng các mối quan hệ tốt có sẵn để

khai thác sử dụng các dịch vụ khác trong đó có dịch vụ phát hành thẻ ATM. Đồng

thời, bằng việc giao chi tiêu hàng năm với sự tăng trưởng ít nhất 30% cũng đã tạo ra

áp lực cho các chi nhánh và giúp hoàn thành các kế hoạch năm toàn hệ thống.

2.2.2.5 Phát triển dịch vụ hỗ trợ, tư vấn chăm sóc khách hàng sử dụng thẻ

- Tổng đài chăm sóc khách hàng: Thời gian qua, Ngân hàng Dầu Khí Tồn Cầu

đã nỗ lực cải thiện dịch vụ chăm sóc khách hàng thơng qua tổng đài miễn phí cuộc gọi

đến 1800585866 nhưng GPBank hiện chưa phân loại khách hàng để chăm sóc, chưa có

chính sách chăm sóc đặc biệt cho khách hàng sử dụng thẻ ngồi các chương trình

khuyến mại. Tổng đài chăm sóc khách hàng cũng chưa onsite 24/7 nên việc hỗ trợ

khách hàng còn khó khăn, đơi khi có thể rủi ro cho khách hàng và ngân hàng.

- Về dịch vụ tư vấn cho khách hàng tại các điểm giao dịch chưa có, chưa

được phân cấp dịch vụ khách hàng tại điểm giao dịch mà chính các giao dịch viên là

người tư vấn, hướng dẫn khách hàng sử dụng và giải quyết các vướng mắc trong

quá trình sử dụng thẻ GPBank.

2.2.2.6 Phát triển hoạt động truyền thông marketing về giá trị, tiện ích của dịch vụ

thẻ GPBank

- Truyền thơng thương hiệu của Ngân hàng Dầu Khí Tồn Cầu thời gian qua

rất hạn chế, khơng có nhiều thơng tin tích cực về ngân hàng, đặc biệt là những tin

về việc kiểm soát đặc biệt và bị Nhà nước mua bắt buộc với giá 0 đồng.

- Đối với truyền thông về dịch vụ thẻ chủ yếu truyền thông trên các kênh

miễn phí sẵn có, gồm:

+ Giới thiệu dịch vụ thẻ, các tiện ích của thẻ My Card, My Style trên fanpage

của ngân hàng.

+ Giới thiệu trên website chính thức của ngân hàng www.gpbank.com.vn



53

+ Quảng bá dịch vụ thẻ cho các khách hàng có đăng ký email thơng tin email

chăm sóc khách hàng info@gpbank.com.vn

2.2.2.7 Tăng doanh thu từ lượng dịch vụ thẻ thanh tốn

Doanh thu từ các giao dịch thẻ có tính chất sống còn của dịch vụ thẻ ngân

hàng, giúp ngân hàng tăng lợi nhuận, từ đó có thêm tiền để đầu tư vào công nghệ để

nâng cấp chất lượng thẻ, dịch vụ.

Doanh thu của dịch vụ thẻ GPBank đến từ các mảng sau.

Phí phát hành thẻ

Là phí mà khách hàng phải trả khi phát hành thẻ đối với cả thẻ chính và thẻ

phụ. Hiện tại, GPBank khơng thu phí phát hành đối với thẻ My Card hạng chuẩn,

hạng thẻ hướng tới phân khúc khách hàng phổ biến trên thị trường, và thu phí phát

hành đối với thẻ My Card hạng Vàng và hạng Bạch kim tương ứng là 30.000 VND/

1 thẻ hạng Vàng và 50.000 VND/ 1 thẻ hạng Bạch kim, cụ thể theo bảng sau:

Bảng 2.11: Biểu phí phát hành thẻ GPBank

Loại thẻ



Phí phát hành



Phí phát hành



thường cho thẻ



nhanh cho thẻ



Phí phát hành



thẻ phụ

chính

chính

My Card hạng Chuẩn

Miễn phí

20,000 VND

Miễn phí

My Card hạng Vàng

30,000 VND

50,000 VND

30,000 VND

My Card hạng Bạch Kim

50,000 VND

80,000 VND

50,000 VND

My Style

50,000 VND

Student Card

Thỏa thuận

Gift Card vô danh

25,000 VND

Gift Card định danh

50,000 VND

Nguồn: Quyết định số 500/2016/QĐ-TGĐ ngày 21/06/2016 của GPBank

Thẻ Mastercard thì miễn phí phát hành để khuyến khích nhiều khách hàng sử

dụng thẻ ghi nợ quốc tế, chỉ thu phí với trường hợp phát hành nhanh.

Phí duy trì/ thường niên thẻ đối với thẻ Mastercard

Đây là nguồn thu chính của thẻ Mastercard mà GPBank thu được, cụ thể như sau.

Bảng 2.12: Biểu phí thường niên thẻ GPBank

Loại phí

Phí phát hành lại/ thay thế thẻ



Mức phí



54

Thẻ Vision Debit Mastercard hạng chuẩn

100,000 VND

Thẻ Vision Debit Mastercard hạng Bạch kim

200,000 VND

Phí thường niên

Thẻ Vision Debit Mastercard hạng chuẩn

Thẻ chính

150,000 VND

Thẻ phụ

100,000 VND

Thẻ Vision Debit Mastercard hạng Bạch kim

Thẻ chính

300,000 VND

Thẻ phụ

100,000 VND

Nguồn: Quyết định số 500/2016/QĐ-TGĐ ngày 21/06/2016 của GPBank

-



Phí từ dịch vụ thanh tốn thẻ tại Đơn vị chấp nhận thẻ



Theo đó Đơn vị chấp nhận thẻ phải hồn trả ngân hàng từ 1%-2.5%/ doanh

số thanh tốn thẻ.

Bảng 2.13: Biểu phí chiết khấu tại đơn vị chấp nhận thẻ

Loại phí

Phí chiết khấu thanh tốn thẻ nội địa tại đơn vị

chấp nhận thẻ của GPBank

Thẻ nội địa của GPBank

Thẻ nội địa của Napas

Phí chiết khấu thanh tốn thẻ quốc tế tại đơn vị



Mức phí



0.5%/ giá trị giao dịch

0.5%/ giá trị giao dịch



chấp nhận thẻ của GPBank

Thẻ Visa/ Mastercard

2,1%/ giá trị giao dịch

Thẻ UnionPay

1,9%/ giá trị giao dịch

Thẻ JCB

2,5%/ giá trị giao dịch

Thẻ Discovery/ Diners Club

2,9%/ giá trị giao dịch

Nguồn: Quyết định số 500/2016/QĐ-TGĐ ngày 21/06/2016 của GPBank

Tại GPBank thì phí phát hành và duy trì/ thường niên là loại phí mang lại doanh thu

lớn nhất trong các phí dịch vụ mà ngân hàng thu từ khách hàng. Tuy nhiên, thực

chất phí phát hành là bù đắp cho chi phí phơi thẻ, đặc biệt loại thẻ chip và loại thẻ

Chip này cũng là yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các ngân hàng

áp dụng cho cả các thẻ ghi nợ nội địa chậm nhất là 31/12/2020.

2.3 Đánh giá chung về phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng thương mại TNHH

MTV Dầu Khí Tồn Cầu

2.3.1. Những kết quả đạt được

-



Định hướng đầu tư vào máy ATM phù hợp



55

Để tránh đầu tư máy ATM quá nhiều, chủ yếu là đầu tư máy ATM tại các

điểm giao dịch để tạo dựng hình ảnh của ngân hàng với khách hàng, GPBank đã tiết

kiệm được khá nhiều chi phí mua máy ATM và chi phí vận hành máy ATM. Trung

bình một máy ATM giá mua từ 500 triệu đồng đến 1 tỷ đồng và để vận hành máy

ATM cần có nhiều chi phí đi kèm như tiền th địa điểm (nếu không thuộc trụ sở

ngân hàng), tiền kéo đường mạng internet, tiền điện, tiền điều hòa (nếu có), camera

và đặc biệt là rủi ro khi bị các đối tượng xấu phá máy ATM đã từng xảy ra một số

trường hợp trên toàn quốc như trường hợp ở Trường Cao đẳng điện lực TP Hồ Chí

Minh tháng 2 năm 2015, kẻ gian đã phá buồng máy ATM và lấy đi gần 1 tỷ đồng, ở

Hải Phòng tháng 2 năm 2014, một nhóm đối tượng đã đốt 2 máy ATM trên đường

Lạch Tray của Ngân hàng TMCP Phát triển nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long và một

ATM trên đường Trần Nguyên Hãn của Ngân hàng TMCP Hằng Hải.

-



Đa dạng thẻ ghi nợ nội địa



Nhằm cung cấp các nhu cầu thẻ đa dạng, GPBank đã cung cấp 3 hạng thẻ

khác nhau để đáp ứng nhu cầu khác nhau của khách hàng với hạn mức rút tiền hàng

ngày cao, lên đến 5 triệu đồng 1 lần rút và các tiện ích gia tăng khác, tuy nhiên

khách hàng phải trả phí phát hành với thẻ hạng Vàng và Bạch Kim.

Đặc biệt, GPBank có thẻ My Style thể hiện sự khác biệt của thẻ với việc in

bất kỳ ảnh yêu thích nào của khách hàng lên trên mặt trước của thẻ. Đây là một

trong các loại thẻ được yêu thích, đặc biệt là giới trẻ.

-



Chính sách phí dịch vụ hướng tới khách hàng



Chính sách phí là công cụ mạnh cho bất kỳ hoạt động cung cấp dịch vụ nào.

Đồng thời, với việc đầu tư ít máy ATM, GPBank đã miễn phí mọi giao dịch cho

khách hàng, từ giao dịch rút tiền mặt tại máy ATM của GPBank hay ngân hàng

khác, giao dịch xem sao kê, chuyển khoản trong cùng hệ thống, trừ trường hợp in

sao kê phải thu phí theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

-



Tăng trưởng phát hành thẻ mới



Mặc dù còn khó khăn nhưng được sự quan tâm của Ban Lãnh đạo và giao chỉ

tiêu phát hành thẻ tới từng chi nhánh với yêu cầu tăng trưởng luôn ở mức tối thiểu



56

từ 30% trở lên, do đó kết quả số lượng thẻ phát hành năm sau ln cao hơn năm

trước.

-



Các tiện ích gia tăng của thẻ



Gắn với chiếc thẻ My Card, GPBank đã cung cấp các dịch vụ cho khách

hàng khi sở hữu chúng gồm:

+ Dịch vụ thông báo biến động số dư: khi có giao dịch rút tiền hoặc chuyển

khoản trên ATM, giao dịch trên Internet có báo tin nhắn về số điện thoại di động mà

khách hàng đã đăng ký với ngân hàng. Như vậy, nếu có giao dịch gian lận mà

khơng phải do chủ thẻ thực hiện thì có thể biết ngay để báo cho ngân hàng thông

qua tổng đài dịch vụ khách hàng (callcenter)

+ Dịch vụ ngân hàng trực tuyến: với dịch vụ này, khách hàng có thể đăng ký

các dịch vụ cho thẻ như cài đặt hạn mức giao dịch khi thực hiện giao dịch điện tử,

thanh tốn các hóa đơn điện, nước, truyền hình, vé máy bay,…

-



Các Chương trình khuyến mại



Để phát triển thẻ thì buộc phải triển khai nhiều chương trình khuyến mại để

khuyến khích khách hàng được nhiều quyền lợi hơn khi có chiếc thẻ trong tay, đồng

thời là công cụ tốt cho các đơn vị kinh doanh phát triển khách hàng mới.

Các chương trình khuyến mại tồn hệ thống để khuyến khích khách khách

hàng mở thẻ và các chương trình khuyến mại với các đơn vị bán hàng với mục đích

kết hợp quảng bá sản phẩm dịch vụ của đơn vị bán và giảm giá cho người dùng sở

hữu thẻ của GPBank.

2.3.2 Những hạn chế, yếu kém

-



Về đầu tư trang thiết bị.



Do GPBank bị kiểm soát đặc biệt từ năm 2012 cho đến nay nên điều kiện

cho đầu tư trang thiết bị rất bị hạn chế, thậm chí khơng có ở một số lĩnh vực

khơng phải là trọng yếu, khơng có tính cấp thiết. Do đó việc đầu tư cho hoạt

động thẻ cũng bị hạn chế, chủ yếu là chi phí phục vụ cho các hoạt động duy trì

như duy trì hệ thống, bảo trì định kỳ và mua sắm một số trang thiết bị phục vụ

mở rộng dịch vụ thẻ.



57

-



Về sản phẩm thẻ.



+ Cơ cấu sản phẩm thẻ: sản phẩm thẻ chủ yếu là thẻ ghi nợ nội địa, mặc dù

các loại thẻ đa dạng, ấn tượng, chỉ có một tỷ lệ nhỏ thẻ ghi nợ quốc tế Mastercard

và chưa có thẻ tín dụng quốc tế.

+ Tiện ích của thẻ: tiện ích của thẻ vẫn sử dụng chính ở rút tiền mặt, do đặc

thù là thẻ ghi nợ nội địa, không phát huy được nhiều cho thanh tốn khơng dùng

tiền mặt theo chủ trưởng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước.

Mặc dù là hạn mức được rút 5 triệu đồng/ 1 giao dịch và khơng thu khách

hàng phí rút tiền mặt nhưng khi rút tại ATM của ngân hàng khác lại bị hạn chế số

tiền, thường là 2 triệu đồng/ 1 giao dịch, có một số ngân hàng cho phép rút 3 triệu

đồng/ 1 giao dịch.

+ Số dư trong các tài khoản thẻ: nhiều thẻ được phát hành ra theo chỉ tiêu

hồn thành nên số dư trong thẻ khơng nhiều, có thể chỉ là số dư tối thiểu trong tài

khoản thanh toán (50.000VND) và đây cũng là một trong các nguyên nhân gây lãng

phí tài nguyên của hệ thống ngân hàng T24.

Trong khi đó, hoạt động dịch vụ thẻ của một ngân hàng để mang lại lợi

nhuận chính là ở thẻ tín dụng, vì thứ nhất: thẻ tín dụng sẽ thu được phí duy trì hàng

năm cao, khoảng từ 200.000 VND/ 1 thẻ đến vài triệu đồng/ 1 thẻ tùy theo loại thẻ

khác nhau ở các ngân hàng, thứ hai: đa phần khách hàng sử dụng thẻ khơng thanh

tốn hết dư nợ hàng tháng, chỉ thanh toán số dư tối thiểu, vì vậy khoản dư còn tồn,

chưa thanh tốn sẽ chịu lãi suất cao, đa phần hiện nay các ngân hàng thường tính từ

20-30%/ năm kể từ ngày khách hàng giao dịch.

-



Về mạng lưới.



Cũng từ nguyên nhân là kiểm soát đặc biệt nên từ năm 2012 GPBank không

được mở thêm bất kỳ điểm giao dịch mới nào, do vậy mà GPBank khó phát triển

thêm khách hàng ở những thị trường mới ngồi các tỉnh thành hiện có. Đồng thời,

số lượng ATM quá ít, chủ yếu đặt ngay tại trụ sở chi nhánh nên việc quảng bá

thương hiệu cũng bị hạn chế, khó cho khách hàng nhận biết thương hiệu.

-



Về nhân lực.



58

Được đánh giá là đội ngũ cán bộ ổn định qua nhiều năm kể từ khi bắt đầu

triển khai dự án thẻ tới bây giờ, nhưng do hạn chế về kinh phí và thị trường nên việc

va chạm các tình huống thực tế, học hỏi thêm kinh nghiệm từ các ngân hàng trong

và ngồi nước bị hạn chế. Do đó, trình độ năng lực của cán bộ vận hành và triển

khai không theo kịp với thị trường phát triển ngày một nhanh, đặc biệt đang là thời

kỳ của công nghệ 4.0

Hiện tại, GPBank cũng chưa có hệ thống chăm sóc khách hàng phục vụ 24/7

tại ngân hàng theo đúng nghĩa của Callcenter, ngồi giờ hành chính thường phải hỗ

trợ khách hàng bằng phương pháp thủ công, đôi khi không thể giải quyết các tình

huống khẩn cấp, kịp thời cho khách hàng. Đây cũng có thể gây ra các rủi ro cho

hoạt động thẻ của ngân hàng.

2.3.3. Nguyên nhân

-



Nguyên nhân khách quan.



+ Do GPBank là ngân hàng bị kiểm soát đặc biệt nên mọi hoạt động kinh

doanh nói chung và thẻ nói riêng đều bị hạn chế. GPBank không thể tự quyết định

chi tiêu với số tiền nhiều cho các hoạt động thẻ. Từ đó, việc hoạch định các chính

sách về phát triển thẻ, dịch vụ thẻ không tương xứng với tiềm năng của thị trường,

có thể làm nhỡ việc đón đầu và tiếp cận với công nghệ mới.

+ GPBank là ngân hàng triển khai thẻ muộn so với thị trường, do đó một số

ngân hàng lớn, đi đầu đã lựa chọn khách hàng và cung cấp sản phẩm thẻ cho khách

hàng tiềm năng, có nhu cầu cao. Đồng thời, thị trường tài chính ngân hàng tại Việt

Nam cạnh tranh khốc liệt với khoảng 40 ngân hàng cùng triển khai, kinh doanh thẻ,

đặc biệt là các ngân hàng lớn, có sự đầu tư lớn về tài chính về cơng nghệ thẻ, có

nhiều chương trình khuyến mại lớn tặng tiền khi sử dụng thanh toán thẻ (cashback),

quà tặng đa dạng, nhiều. Thêm vào đó là sự cạnh tranh mạnh từ các ngân hàng nước

ngồi với tiềm lực mạnh về tài chính và trình độ chun mơn cao.

+ Thói quen sử dụng tiền mặt của người dân Việt Nam noi chung vẫn chưa

có thay đổi nhiều, đặc biệt với thẻ nội địa thì đa phần khách hàng sử dụng chính là

để rút tiền, kể cả khi khách hàng đến các trung tâm mua sắm, siêu thị có lắp đặt máy



59

POS tại các đơn vị bán hàng nhưng khách hàng vẫn muốn rút tiền để thanh tốn.

Đây thực sự là lãng phí lớn cho nền kinh tế nói chung và cho các chủ thể tham gia

vào q trình đó như ngân hàng, khách hàng và đơn vị bán hàng.

-



Nguyên nhân nội tại của GPBank.



+ Chiến lược của GPBank chưa chú trọng nhiều vào lĩnh vực thẻ. GPBank

cũng như nhiều ngân hàng vẫn tập trung chính vào tín dụng để mang lại doanh thu

và lợi nhuận cao, hơn nữa ngân hàng không phải đầu tư nhiều khi phát triển, thúc

đẩy tín dụng. Nếu GPBank xem thẻ là một chiến lược để phát triển thì có thể tận

dụng mọi quan hệ sẵn có như khách hàng gửi tiền, khách hàng vay vốn, khách hàng

sử dụng các dịch vụ khác để khai thác và phát triển dịch vụ thẻ.

+ Nhân lực hạn chế. Thẻ là gắn với công nghệ và người sử dụng công nghệ

phải am hiểu và được va chạm thường xuyên, học hỏi cái mới. Tuy nhiên, nhân lực

của GPBank cho phát triển thẻ đa phần là cán bộ cũ, có sức ì nhất định, khơng được

thường xun học hỏi, khơng có động lực nhiều cho phát triển và kinh doanh thẻ.

+ Mạng lưới điểm giao dịch nhỏ. GPBank có 79 điểm giao dịch khơng thay

đổi trong các năm qua. Vì vậy, khơng có cơ hội mở rộng thị trường, thị phần, việc

khai thác thêm tập khách hàng mới bị hạn chế.

+ Nền tảng khách hàng khơng nhiều. GPBank có q ít khách hàng là cơng

ty nên việc phát triển hàng loạt khách hàng mở thẻ bị hạn chế, đa phần là mở thẻ

cho khách hàng cá nhân, điều này làm cho sự tăng trưởng thẻ khơng cao, đồng thời

gia tăng chi phí khi mở thẻ cho khách hàng.

+ Khơng có thẻ tín dụng. Đây là điểm bất lợi cho GPBank,vì hiện nay đa

phần những khách hàng có nhu cầu sử dụng thẻ đều có ít nhất một chiếc thẻ ATM

trong người, thường là thẻ ATM gắn với ngân hàng mà công ty của khách hàng sử

dụng dịch vụ chi lương qua ngân hàng. Do đó, khách hàng quan tâm nhiều hơn đến

thẻ tín dụng nếu có nhu cầu phát hành.



60

TĨM LƯỢC CHƯƠNG 2

Trong chương này, luận văn đã cho thấy bức tranh toàn cảnh về hoạt động

kinh doanh của Ngân hàng Dầu Khí Tồn Cầu cũng như thực trạng phát triển thẻ

thanh toán tại GPBank giai đoạn 2014-2016. Luận văn đã đánh giá những mặt đã

làm được, những vấn đề còn hạn chế trong phát triển dịch vụ thẻ tại GPBank và

cũng đã xác định được nguyên nhân của những hạn chế này. Những phân tích đánh

giá trong chương 2 sẽ là nền tảng cho những giải pháp ở chương 3 nhằm giúp

GPBank phát triển hơn nữa hoạt động kinh doanh thẻ trên toàn hệ thống hiện tại.



61

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ TẠI NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI TNHH MTV DẦU KHÍ TỒN CẦU

3.1. Xu hướng phát triển dịch vụ thẻ thanh toán trên thế giới và tại Việt Nam

3.1.1 Xu hướng thanh tốn khơng dùng tiền mặt ngày càng phổ biến tại các

nước trên thế giới

Theo khảo sát của Ngân hàng Thế giới (WB), thanh tốn khơng dùng tiền mặt

đã trở thành phương thức thanh toán phổ biến tại nhiều quốc gia phát triển trên thế giới

với giá trị chi tiêu của người dân chiếm tới hơn 90% tổng số giao dịch hằng ngày.

Tỷ lệ tiền mặt trong tổng lượng tiền của nền kinh tế chỉ chiếm khoảng 7,7%

ở Mỹ và 10% ở khu vực đồng Euro vào năm 2016. Hầu hết các nước đã và đang

triển khai công cuộc cải cách hệ thống thanh toán hiện đại, đáp ứng nhu cầu thanh

tốn ngày càng cao của người dân.

Điển hình tại Thụy Điển cho thấy, tiền mặt chỉ chiếm khoảng 2% tổng lượng

tiền trong nền kinh tế. Con số này cho thấy Thụy Điển là quốc gia người dân rất ít

giao dịch bằng tiền mặt trong khi con số tương tự của tồn thế giới là 75%.

3.1.2 Hình thức thanh tốn bằng thẻ ngày càng đa dạng

Ngày càng có nhiều quốc gia sử dụng thẻ thông minh trong các ngành dịch

vụ khác nhau. Có thể kể đến như thẻ sim tích hợp thanh tốn trong viễn thơng, các

ứng dụng trong việc tự động hóa thanh tốn vé xe bus, tàu điện trong giao thông,

chứng minh thư điện tử trong lĩnh vực quản lý nhà nước, hay các loại thẻ thanh toán

của ngành ngân hàng… Trong đó, ngành Viễn thơng được đánh giá là Ngành sử

dụng thẻ thông minh nhiều nhất (dưới dạng thẻ sim).

Trong lĩnh vực ngân hàng, liên minh thẻ EMV (Euro Pay, MasterCard và

Visa) được xem là nền tảng để nhiều ngân hàng đầu tư và triển khai giải pháp phát

hành thẻ thông minh. Hầu hết các nước trên thế giới đã chuyển đổi sang sử dụng hệ

thống EMV. Đầu tiền trong việc chuyển đổi sử dụng hệ thống thẻ EMV là châu Âu

(chuyển đổi từ năm 1996), mà điển hình là Pháp và Anh.

Ở khu vực Châu Á, Nhật Bản, Hàn Quốc đã tiến hành từ những năm 20032004. Ở Đông Nam Á, Malaysia và Singapore là những quốc gia đầu tiên chuyển



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đối với dịch vụ thẻ, GPBank hiện tại đang cung cấp không nhiều các giá trị gia tăng cho khách hàng, cụ thể như sau:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×