Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
- Các dịch vụ giá trị gia tăng khác mà khách hàng thường xuyên được bổ sung trong quá trình sử dụng.

- Các dịch vụ giá trị gia tăng khác mà khách hàng thường xuyên được bổ sung trong quá trình sử dụng.

Tải bản đầy đủ - 0trang

16

vụ chăm sóc khách hàng thơng qua tổng đài chăm sóc khách hàng (Callcenter) hoặc

các chính sách chăm sóc trực tiếp khách hàng. Đối với dịch vụ thẻ thì chăm sóc

khách hàng rất quan trọng, đặc biệt là những lúc khách hàng giao dịch thẻ ngồi giờ

hành chính hoặc ngồi điểm giao dịch của ngân hàng, ngồi ra còn các chính sách

khác cho khách hàng sử dụng cũng cần thiết như khuyến mại, chương trình tích

điểm,…

Việc khách hàng được hỗ trợ khi có vấn đề hoặc thắc mắc trong quá trình sử

dụng thẻ đóng 1 vai trò quan trọng để tạo niềm tin ở khách hàng với dịch vụ thẻ.

Khách hàng sử dụng thẻ cần được hỗ trợ ngay lập tức khi có cần, đặc biệt với những

trường hợp lỗi hệ thống, khơng thanh tốn được, tài khoản đã được hạch tốn thành

cơng nhưng giao dịch vụ từ chối,…

Đối với một số ngân hàng lớn thì họ còn th dịch vụ ngồi (outsourcing)

cho dịch vụ chăm sóc khách hàng

1.2.6. Phát triển hoạt động truyền thông marketing về giá trị, tiện ích của dịch vụ

thẻ

Truyền thông cho doanh nghiệp, cho sản phẩm của doanh nghiệp ln đóng

vai trò quan trọng trong hoạt động, nó giúp khách hàng biết đến doanh nghiệp, các

sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp và các tiện ích mà sản phẩm đó mang lại cho

khách hàng. Truyền thơng mà kém thì việc nhận diện thương hiệu của doanh nghiệp

đó trên thị trường kém, thơng thường hiện nay các doanh nghiệp bỏ ra chi phí

khoảng 20-30% chi phí sản phẩm dành cho quảng cáo và truyền thông.

Đối với ngân hàng thì cũng khơng nằm ngồi xu thế đó, ngân hàng thường

truyền thông về:

- Thương hiệu: khi khách hàng biết thương hiệu của ngân hàng thì dễ dàng

nhận biết các sản phẩm, dịch vụ mà ngân hàng đó cung cấp;

- Sản phẩm, dịch vụ: khi ngân hàng cần trọng tâm bán sản phẩm, dịch vụ nào

thì sẽ tích cực truyền thơng để khách hàng biết;



17

- Giá trị, tiện ích của dịch vụ thẻ: từ truyền thông về sản phẩm, dịch vụ khách

hàng sẽ có được thơng tin về các giá trị, tiện ích có được thơng qua việc sở hữu

chiếc thẻ của ngân hàng.

1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển dịch vụ thẻ của ngân hàng thương mại

1.3.1. Các nhân tố bên trong

- Định hướng và chiến lược phát triển của ngân hàng

Định hướng của Ban Lãnh đạo của ngân hàng là yếu tố then chốt quyết định

đến hoạt động thẻ của một ngân hàng. Khi có định hướng lâu dài, rõ ràng thì sẽ có

chiến lược phát triển hoạt động thẻ ở mức độ nào, đầu tư bao nhiêu, đầu tư cơ bản

hay đi tắt đón đầu, vị thế của ngân hàng ở đâu trên thị trường.

Mỗi ngân hàng đều có những định hướng phát triển dịch vụ thẻ của riêng

mình trong từng thời kỳ. Những định hướng này sẽ quyết định đến chiến lược kinh

doanh thẻ và từ đó tạo nên thành cơng của ngân hàng. Vậy để xác định định hướng,

chính sách phát triển đúng đắn, phù hợp với tình hình trong nước, thế giới và xu

hướng phát triển của lĩnh vực thẻ thanh tốn, ngân hàng cần phải xây dựng cho

mình những chiến lược mang tính dài hạn trên cơ sở nghiên cứu thị trường, tìm hiểu

đối thủ cạnh tranh, khảo sát các đối tượng khách hàng mục tiêu và phải dựa vào nội

lực của chính mình.

- Nguồn vốn đầu tư cho dịch vụ thẻ của ngân hàng.

Nguồn vốn của ngân hàng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán và việc

mở rộng mạng lưới thanh toán thẻ của ngân hàng. Dịch vụ thẻ là một dịch vụ ngân

hàng hiện đại, nó gắn liền với sự phát triển của kỹ thuật công nghệ. Mọi khâu trong

quy trình kinh doanh thẻ đều cần những máy móc thiết bị hiện đại như thiết bị đầu

cuối, máy rút tiền tự động ATM, máy đọc thẻ POS. Nếu như hệ thống máy móc này

gặp trục trặc thì sẽ gây ách tắc trong tồn hệ thống. Vì vậy, đã đưa ra dịch vụ thẻ,

ngân hàng phải đảm bảo hệ thống máy móc hiện đại, theo kịp với yêu cầu của thế

giới. Đồng thời, cần phải chú trọng đến việc vận hành bảo dưỡng, duy trì hoạt động

của hệ thống máy móc phục vụ cho việc phát hành và kinh doanh thẻ có hiệu quả.



18

Điều này đòi hỏi ngân hàng phải đầu tư chi phí lớn để phát triển cơ sở hạ tầng về

phát hành và thanh toán thẻ, tạo rào cản cho những đối thủ mới gia nhập ngành.

- Đội ngũ cán bộ nhân viên.

Ngành ngân hàng là ngành liên quan nhiều đến trình độ của con người ở hầu

hết các khâu hoạt động, dịch vụ ngân hàng. Con người là trung tâm của mọi hoạt

động, là yếu tố quyết định đến sự thành bại của tất cả các lĩnh vực trong nền kinh tế.

Trong việc phát triển dịch vụ thẻ, yếu tố con người cũng không phải là ngoại lệ. Thẻ

thanh tốn là một hình thức thanh tốn hiện đại, mang tính chuẩn hóa cao độ và có

quy trình vận hành thống nhất. Vì vậy, cần phải có một đội ngũ nhân lực có trình

độ, có khả năng tiếp cận với công nghệ cao. Các nhân viên phải nắm vững quy trình

phát hành và thanh tốn thẻ, hiểu biết về tin học, năng động, sáng tạo, khơng ngừng

học hỏi để nâng cao trình độ nghiệp vụ. Ngân hàng nào có sự quan tâm, có chính

sách đào tạo nhân lực trong kinh doanh thẻ hợp lý thì ngân hàng đó sẽ có cơ hội đẩy

mạnh trong việc kinh doanh thẻ trong tương lai.

-



Thương hiệu thẻ của ngân hàng trên thị trường.



Thương hiệu thẻ thể hiện ở uy tín, chất lượng sản phẩm, phong cách phục vụ,

văn hóa của ngân hàng, tất cả những điều này không thể có ngay mà là cả một q

trình phát triển của ngân hàng nói chung và hoạt động thẻ nói riêng. Thương hiệu

mang lại những giá trị vô cùng to lớn với mỗi ngân hàng, nhất là trong điều kiện

cạnh tranh khốc liệt để giành giật thị phần cung cấp dịch vụ tới nhiều khách hàng

nhất. Thương hiệu của ngân hàng mang lại sự cam kết, lòng tin và thậm chí khẳng

định đẳng cấp của người tiêu dùng. Đến một lúc nào đó, tất cả thẻ của các ngân

hàng đều mang lại những tiện ích thỏa mãn khách hàng là như nhau thì quyết định

lựa chọn sẽ do thương hiệu chi phối. Bởi vì thương hiệu sẽ mang lại sự cam kết,

lòng tin thậm chí là khẳng định đẳng cấp của người tiêu dùng.

-



Mạng lưới các đơn vị chấp nhận thẻ và máy ATM.



Khi ngân hàng có một lượng lớn khách hàng mở thẻ mà lại khơng có nhiều

máy ATM, điểm chấp nhận thanh tốn thẻ thì được xem là một sự đầu tư khơng

đồng bộ và nhanh chóng đẩy các khách hàng có thẻ chuyển sang các ngân hàng



19

khác. Vì các máy ATM và điểm chấp nhận thẻ mang lại sự tiện lợi cho việc sử dụng

thẻ của khách hàng. Ngồi việc có nhiều máy ATM và điểm chấp nhận thẻ thì

những vị của đặt máy phải thuận lợi cho khách hàng sử dụng, và những điểm chấp

nhận thẻ phải là phổ biến, đa dạng cho khách hàng sử dụng như khách sạn, nhà

hàng, siêu thị, vé máy bay.

-



Chăm sóc khách hàng.



Trong ngành dịch vụ, đặc biệt dịch vụ thẻ của ngân hàng thì “Khách hàng là

thượng đế”. Điều đó lại càng đúng trong thời buổi cạnh tranh khốc liệt ngày nay,

khi các ngân hàng cung cấp dịch vụ thẻ ngày càng nhiều, nhiều ngân hàng nước

ngoài tham gia vào thị trường. Việc có được chất lượng dịch vụ tốt, thái độ phục vụ

khiến khách hàng hài lòng, chú trọng đến việc chăm sóc khách hàng đồng thời đơn

giản hóa các thủ tục giấy tờ, tạo sự tiện lợi cho khách hàng sẽ giúp cho ngân hàng

tạo được ấn tượng tốt với khách hàng, giữ chân khách hàng của mình. Qua đó, ngân

hàng sẽ nâng cao được uy tín, cũng như lòng tin của mình đối với khách hàng.

1.3.2. Các nhân tố bên ngoài

-



Điều kiện kinh tế, xã hội.



+ Sự ổn định về chính trị có ảnh hưởng tới mọi mặt của đời sống người dân

và trong các lĩnh vực kinh tế. Nếu ổn định về chính trị, ổn định niềm tin thì người

dân tin tưởng vào ngân hàng và gửi tiền vào ngân hàng, khi đó người dân có thể có

cơ sở để mở và sử dụng các dịch vụ thẻ của ngân hàng.

+ Kinh tế phát triển ổn định kéo theo sự ổn định về tiền tệ, tăng thu nhập cho

người dân, đó là nhưng điều kiện cơ bản giúp nhu cầu sử dụng và chi tiêu thẻ tăng

lên tương ứng.

Ngoài ra, việc phát triển ổn định kinh tế sẽ kéo theo sự phát triển mạng lưới

dịch vụ thương mại như khách hàng, khu nghỉ dưỡng, nhà hàng, siêu thị,… là nhân

tố thúc đẩy nhu cầu sử dụng dịch vụ và thanh tốn bằng thẻ.

+ Trình độ dân trí của người dân cũng là yếu tố quan trọng. Vì thẻ là phương

tiện thanh tốn hiện đại, nên sự phát triển thẻ phụ thuộc vào sự am hiểu của cơng

chúng về thẻ. Đó là khả năng tiếp cận, sử dụng dịch vụ thẻ, nhận biết các tiện ích



20

của thẻ ngân hàng. Trình độ dân trí ngày càng phát triển thì khả năng sử dụng

nhưng dịch vụ do thẻ ngân hàng mang lại sẽ ngày một tăng.

Trong một xã hội trình độ dân trí cao, các phát minh, ứng dụng khoa học kỹ

thuật công nghệ cao sẽ dễ dàng tiếp cận với người dân. Tiêu dùng thông qua thẻ là

một cách tiêu dùng hiện đại. Hơn thế nữa, nếu nhận thức của người dân về những

tiện ích và rủi ro của dịch vụ thẻ được trang bị đầy đủ thì các ngân hàng sẽ dễ dàng

phát triển hơn, thay vì phải đầu tư vào chi phí cao cho quảng cáo, nâng cao nhận

thức, hiểu biết cũng như các kỹ năng về sử dụng thẻ ngân hàng cho các khách hàng

tiềm năng. Chính vì thế, nó sẽ dễ dàng xâm nhập, phát triển hơn với cộng đồng dân

trí cao và ngược lại.

Thói quen tiêu dùng của người dân cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng

đến sự phát triển của dịch vụ thẻ. Sẽ rất khó để phát triển dịch vụ thẻ ở địa bàn mà

người dân ở đó đã có thói quen sử dụng tiền mặt thanh tốn trong hầu hết các giao

dịch. Mặc dù, hiện nay, ở Việt Nam, giao dịch bằng tiền mặt vẫn chiếm tỷ trọng lớn

nhưng đã có những chuyển biến tích cực trong thói quen thanh tốn bằng thẻ của

người dân.

+ Để có thể sử dụng thẻ thì phải có tiền hoặc được ngân hàng ứng trước cho

một hạn mức sử dụng, vì vậy người dân phải có thu nhập tốt thể hiện qua mức sống

và nhu cầu tiêu dùng của người dân. Khi thu nhập thấp, nhu cầu và khả năng chi

tiêu cũng thấp, dịch vụ thanh toán thẻ là chưa cần thiết đối với người dân. Ngược

lại, khi thu nhập bình quân của quốc gia tăng thì nhu cầu và khả năng chi tiêu cũng

sẽ tăng, khối lượng các giao dịch tăng lên khiến cho việc sử dụng thẻ thanh toán là

một đòi hỏi tất yếu. Thơng thường những khách hàng có thu nhập khá trở lên sẽ có

những nhu cầu sử dụng thẻ thanh tốn, như vậy có thể thấy là chỉ khi thu nhập của

người dân tăng thì nhu cầu sử dụng thẻ thanh toán sẽ tăng tương ứng.

-



Hành lang pháp lý.



Hoạt động thẻ của ngân hàng phụ thuộc rất nhiều vào môi trường pháp lý

mỗi quốc gia. Một hàng làng pháp lý chặt chẽ thống nhất, đầy đủ, hiệu lực thì mới

có thể đảm bảo quyền lợi cho tất cả các bên tham gia hoạt động thẻ, gồm: ngân



21

hàng phát hành, người sử dụng, ngân hàng thanh toán, đơn vị chấp nhận thẻ,…, từ

đó đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh giữa các ngân hàng trên thị trường, tạo nền

tảng cho sự phát triển thẻ lâu dài.

-



Điều kiện khoa học công nghệ.



Khoa học công nghệ là yếu tốt then chốt trong hoạt động thẻ của một quốc

gia nói chung cũng như đối với ngân hàng nói riêng. Thẻ thanh tốn ra đời dựa trên

trình độ cơng nghệ thơng tin. Khoa học tiên tiến hiện đại sẽ thúc đẩy sự phát triển

của hệ thống thanh tốn thẻ. Cơng nghệ ngày nay càng được hoàn thiện và áp dụng

vào hệ thống sẽ giúp cho việc thanh toán thẻ diễn ra ngày càng tốt hơn, thuận tiện

và an toàn. Hơn nữa, ngày càng có nhiều dịch vụ thẻ gia tăng và tỷ lệ rủi ro trong

hoạt động thẻ phức tạp, khó lường, do đó yêu cầu về bảo mật ngày càng tăng theo

sự phát triển của công nghệ.

-



Cạnh tranh trên thị trường.



Cạnh tranh là một yếu tố giúp thúc đẩy bất kỳ một dịch vụ nào, khơng có

cạnh tranh thì dịch vụ khơng tốt lên và khơng hướng tới lợi ích khách hàng. Khi

cạnh tranh đòi hỏi các nhà cung cấp dịch vụ phải không ngừng cải tiến công nghệ,

gia tăng các sản phẩm dịch vụ, tiện ích cho thẻ, thực hiện tốt việc chăm sóc khách

hàng. Khi đó tạo mơi trường cạnh tranh lành mạnh và là động lực thúc đẩy thanh

tốn thẻ phát triển khơng ngừng.

1.4. Bài học kinh nghiệm từ phát triển dịch vụ thẻ tại một số ngân hàng thương

mại trong nước và các tổ chức phát hành thẻ quốc tế

1.4.1. Kinh nghiệm phát triển dịch vụ thẻ tại một số ngân hàng thương mại trong

nước

- Vietcombank: năm 1990 Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương

Việt Nam (Vietcombank) trở thành đại lý thanh toán thẻ Visa đầu tiên tại Việt Nam,

sau đó là đại lý thanh tốn thẻ Mastercard. Có thể nói Vietcombank là ngân hàng đã

đặt ra những viên gạch đầu tiên cho dịch vụ thẻ ngân hàng tại thị trường Việt Nam.

Năm 2002, Vietcombank đã triển khai phát hành thẻ ghi nợ nội địa

Connect24 và được xã hội đón nhận tích cực, từ đó các ngân hàng trên thị trường



22

liên tục tham gia vào thị trường thẻ ghi nợ nội địa nói chung và thẻ thanh tốn nói

chung. Có thể nói rằng từ khi ra đời đến nay, thẻ connect24 đã chứng tỏ một công

cụ hữu hiệu để sản phẩm thẻ của Vietcombank thâm nhập vào mọi tầng lớp dân cư,

giúp họ quen dần với dịch vụ ngân hàng bán lẻ, góp phần tạo dựng nên thanh tốn

khơng dùng tiền mặt tại Việt Nam. Và cùng nhờ sự khởi đầu tốt, Vietcombank luôn

dẫn đầu thị trường về phát triển số lượng thẻ thanh toán cũng như doanh số sử dụng,

thanh toán cho tới thời điểm bây giờ.

- Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB): Trung tâm thẻ ACB chính thức đi vào

hoạt động vào năm 1996. Từ khi đưa vào hoạt động thẻ thanh toán, ACB đã có

những nổ lực cải thiện dịch vụ và hệ thống, ứng dụng công nghệ hiện đại nhằm đáp

ứng nhu cầu thanh tốn nhanh chóng, an tồn, tiện lợi của khách hàng, từng bước

đưa chương trình thẻ tín dụng của Việt Nam hội nhập với các tổ chức tài chính trên

thế giới. ACB là một trong hai ngân hàng đầu tiên ở Việt Nam là thành viên chính

thức của hai tổ chức thẻ quốc tế hàng đầu Visa và Mastercard.

ACB cũng chú trọng vào việc đa dạng hóa các sản phẩm thẻ của mình. Hiện

nay, ACB đưa ra thị trường các sản phẩm thẻ như: thẻ Citimart, thẻ tín dụng nội địa

ACB card (ACB-Saigon Co-op, ACB-Saigon Tourist,…), thẻ tín dụng quốc tế ACB

Visa, ACB MasterCard, thẻ ACB Visa Debit/ MasterCard Dynamic, thẻ ATM2+.

Cho đến nay thương hiệu thẻ ACB đã có vị trí vững chắc trên thị trường thẻ. Có

được kết quả trên là nhờ:

Việc triển khai chương trình phát hành thẻ tín dụng cơng ty ACB- VISA

BUSSINESS, cũng như nhiều nỗ lực của ngân hàng trong việc đổi mới chính sách

cấp phát tín dụng thẻ tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng khi có nhu cầu sử dụng

thẻ thực sự đã mang lại hiệu quả đáng kể cho ngân hàng.

Sự cố gắng đặc biệt của ngân hàng trong hoạt động tiếp thị, phát triển khách

hàng, chủ động và nỗ lực tìm kiếm các giải pháp thúc đẩy kinh doanh, thường

xun rà sốt và chấn chỉnh quy trình nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của

khách hàng như đưa ra các chương trình khuyến mại, chú trọng mở rộng đại lý tại



23

các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh,... bắt đầu mở đại lý tại khu

vực khác có tập trung dân cư, có nhu cầu sử dụng thẻ cao.

Ngân hàng chủ động và linh hoạt vận dụng cơ chế tài chính, đặc biệt là trong

lĩnh vực đầu tư và thu hút khách hàng. Trong hoạch định chính sách, kế hoạch phát

triển các dịch vụ ngân hàng, ACB ln coi thẻ thanh tốn là một sản phẩm dịch vụ

chính cần phải phát triển. Để làm cho thẻ thanh tốn của ngân hàng có khả năng

cạnh tranh với các ngân hàng khác, ACB đã liên tục cho ra đời các sản phẩm thẻ

mới với chất lượng ngày càng cao phục vụ nhu cầu đa dạng của khách hàng.

Một lý do khác khiến cho số lượng khách hàng có nhu cầu sử dụng thẻ đến

với ngân hàng ngày càng nhiều là do ACB đã có những bước phát triển mạnh bạo

trong chiến lược phát triển chủ thẻ với hình thức tín chấp trong khu vực doanh

nghiệp nhà nước, các công ty cổ phần và trách nhiệm hữu hạn là khách hàng của

ACB, các cán bộ trong khu vực đại học, bệnh viện.

- Ngân hàng TNHH MTV ANZ (Việt Nam): ANZ là một trong các ngân

hàng nước ngoài đầu tiên hoạt động tại Việt Nam từ năm 1993. Trong gần 25 năm

hoạt động tại Việt Nam, ANZ đã giành được một loạt các giải thưởng trong nước và

quốc tế, nổi bật trong số đó là: 8 năm liền ANZ giành được giải thưởng Rồng Vàng

(2001-2009); liên tiếp trong các năm 2003, 2004, 2007, 2008 và 2013 ANZ giành

được giải thưởng ngân hàng bán lẻ tốt nhất Việt Nam do tạp chí The Asian Banker

trao. Ngồi ra, vị trí dẫn đầu liên tục của ANZ trong lĩnh vực quản lý tài chính và

đầu tư, cũng như sự phát triển ngày cành mạnh của mảng dịch vụ cho vay tiêu dùng

và dịch vụ thẻ tín dụng là điểm vượt trội của ANZ

Để đạt được những thành tựu xuất sắc trong hoạt động ngân hàng nói chung

và mảng dịch vụ thẻ nói riêng tại Việt Nam, ANZ đã thể hiện sự nỗ lực và chuyên

nghiệp về mọi mặt trong đó nội bật nhất là việc hoạch định và kiên trì theo đuổi một

chiến lược phát triển ngân hàng nhất quán và rõ ràng. Đây chính là đẳng cấp và kinh

nghiệm của một tập đồn tài chính hàng đầu thế giới mà các ngân hàng trong nước

cần học tập.



24

Chiến lược của ANZ toàn cầu là: Mở rộng hoạt động tại Châu Á nhằm tăng

đóng góp của khu vực này vào lợi nhuận của tập đoàn, đồng thời nắm bắt các cơ hội

trong bối cảnh thị trường tồn cầu khơng chắc chắn. Cuối năm 2007, tập đồn ANZ

cơng bố mục tiêu trở thành ngân hàng hàng đầu trong khu vực Châu Á vào năm

2012. Chiến lược này được thể hiện nhờ sự kết hợp chặt chẽ giữa nội lực phát triển

của tập đoàn ANZ với những thế mạnh riêng tại thị trường. ANZ sẽ phát triển mạng

lưới mạnh hơn cho tất cả các khách hàng và cung cấp một trải nghiệm ngân hàng

thông nhất của một thương hiệu hợp nhất, vững chắc trên tất cả các nước mà ANZ

đang hoạt động.

Như vậy, có thể thấy tuy phạm vi hoạt động trải rộng trên tồn cầu và có ưu

thế cũng như kinh nghiệm phục vụ nhiều đối tượng khách hàng, có danh mục sản

phẩm hết sức đa dạng nhưng ANZ không đầu tư dàn trải, chung chung. Chiến lược

phát triển của ANZ hết sức cụ thể và rõ ràng.

1.4.2. Kinh nghiệm của các ngân hàng ở một số nước trên thế giới

-



Tại Thái Lan:



Máy ATM đầu tiên được cài đặt ở Thái Lan năm 1981. Trong giai đoạn đầu,

các NHTM tự xây dựng lấy hệ thống ATM của riêng mình nên thẻ của ngân hàng

nào chỉ có thể rút tiền tại máy ATM của ngân hàng đó. Sau đó giữa các ngân hàng

hình thành các liên minh nhỏ lẻ cho phép thẻ của một vài ngân hàng có thể rút tiền

tại máy ATM của nhau. Đến những năm 1990, tại Thái Lan đã có 4 liên minh

chuyển mạch lớn là kết quả liên kết giữa các ngân hàng. Năm 1993, 4 liên minh trên

thống nhất lại thành 2 liên minh lớn và sau đó 2 liên minh này hợp thành duy nhất 1

liên minh là Trung tâm chuyển mạch ATM quốc gia (có tên gọi Thailand National

ATM Pool). Việc hình thành một liên minh thẻ duy nhất cho phéo khách hàng có thể

dễ dàng rút tiền tại tất cả các máy ATM. Tại Thái Lan hiện có khoảng 22.000 máy

ATM và 193.000 đơn vị chấp nhận thẻ.

-



Tại Singapore



Với dân số khoảng 4,5 triệu người, Singapore là một trong những nền kinh

tế thị vượng nhất thế giới, là đầu mối giao lưu thương mại quốc tế quan trọng. Đây



25

là quốc gia có thu nhập bình quân đầu người cao nhất thế giới, khoảng 45.000 USD/

năm. Nhờ đó thì Singapore cũng là quốc gia phát triển hàng đầu về dịch vụ thẻ

thanh toán.

Năm 1979, chiếc thẻ ATM đầu tiên được sử dụng ở Singapore và vào đầu

những năm 1980 đã được triển khai rộng rãi trên khắp cả nước. Năm 1985, mạng

chuyển tiền điện tử NETS (Network for Electric Transfer Pte,. Ltd) được thành

lập như là một nỗ lực trong việc đưa Singapore trở thành một quốc gia không

dùng tiền mặt.

Với kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh thẻ, NETS tập trung phát triển

loại hình thương mại điện tử cho cả 2 loại sản phẩm là thẻ tiền mặt (cash card) và

thẻ ghi nợ (Debit card). Đối với loại thẻ tín dụng, mặc dù cơ quan tiền tệ Singapore

hạn chế việc phát hành thẻ đối với loại sản phẩm này (các cá nhân muốn có thẻ tín

dụng phải đủ 21 tuổi trở lên và có thu nhập hàng năm từ 30.000 SGD trở lên) nhưng

trong những năm gần đây số lượng thẻ phát hành vẫn tăng một cách đều đặn. Đến

nay, tổng số thẻ tín dụng đã phát hành tại Singapre là hơn 2 triệu thẻ, trung bình mỗi

người dân sở hữu gần 3 thẻ tín dụng.

-



Cơng ty American Express tại Mỹ



Ngay từ khi chiếc thẻ American Express ra đời lần đầu tiên vào năm 1958, Tổ

chức này đã xác định cho mình thị trường chủ yếu đó là giới bình dân. Họ cho rằng

đây mới là đối tượng sử dụng thẻ chủ yếu.

Để cạnh tranh với các tổ chức lớn như Visa và Mastercard, tổ chức này đã

không ngừng nghiên cứu phát hành các loại thẻ mới nhằm đáp ứng tốt hơn cho nhu

cầu của thị trường. Năm 1987, American Express cho ra đời loại thẻ tín dụng mới có

khả năng cung cấp tín dụng tuần hồn cho khách hàng có tên là Optima Card để cạnh

tranh với Visa và Mastercard.

American Express không ngừng mở rộng thị trường bằng nhiều hình thức

quảng cáo, khuyến mại. Tháng 11 năm 1998, khi American Express tung ra thị trường

Ấn Độ thẻ tín dụng của mình, họ đã gặp rất nhiều khó khăn như: thu nhập có thể

dùng để chi tiêu của dân nước này không cao, trong đó có 30 triệu người lớn có thể



26

sử dụng thẻ tín dụng. Ngồi ra người Ấn Độ thích sử dụng tiền mặt và hầu hết người

sử dụng thẻ tín dụng đều thanh toán các hoá đơn thanh toán của họ trước khi chúng

bắt đầu phát sinh các khoản lãi phải trả ngân hàng. Đứng trước thách thức này,

American Express đã quyết tâm tập trung vào những người đang sử dụng thẻ tín dụng

bằng cách cung cấp cho họ những khoản tín dụng rẻ hơn.

Khi mới xâm nhập vào thị trường Canada, American Express thấy khách hàng ở

đây khá trung thành với ngân hàng của họ nên họ chỉ chấp nhận thẻ của hiệp hội Visa

và Mastercard đã hoạt động lâu đời ở đây. Đánh giá được thuận lợi của đối thủ,

American Express đã tạm thời hướng vào mục tiêu chính là người du lịch Canada và

ngành hàng không nước này.

Với một số những giải pháp đã thực hiện, American Express hiện nay đã thực

sự trở thành một trong các tổ chức thẻ lớn trên thế giới.

1.4.3. Bài học kinh nghiệm cho Ngân hàng thương mại TNHH MTV Dầu Khí

Tồn Cầu

Ngân hàng Thương mại cổ phần Dầu Khí Tồn Cầu (GP.Bank) triển khai dự

án thẻ ghi nợ nội địa từ tháng 7 năm 2007 và đầu năm 2008 đã bắt đầu đưa những

chiếc thẻ đầu tiên tới khách hàng với thương hiệu thẻ Hộ chiếu tài chính (Finance

Passport) với mục đích là mang cho khách hàng một chiếc hộ chiếu với đầy đủ tài

chính mà có thể sử dụng ở bất kỳ đâu.

Khi mới hình thành, Ngân hàng Dầu Khí Tồn Cầu cũng mong muốn hình

thành một liên minh thẻ với các ngân hàng tầm trung như nhau gồm GPBank, Ngân

hàng Đại dương (Oceanbank), ngân hàng Đại Á. Nhưng sau đo dự án bất thành.

Chính vì điều đó, cộng với tài chính khơng mạnh và định hướng phát triển

khơng đầu tư vào máy ATM nhiều, GPBank đã tích cực kết nối với các liên minh

thẻ gồm Smartlink (do Vietcombank đứng đầu), Banknetvn (do ngân hàng Nông

Nghiệp và phát triển Nông thôn đứng đầu) và VNBC (do ngân hàng Đông Á đúng

đầu). Và hiện nay là Công ty chuyển mạch quốc gia (Napas) đã đứng ra kết nối tất

cả các ngân hàng tại thị trường Việt Nam.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Các dịch vụ giá trị gia tăng khác mà khách hàng thường xuyên được bổ sung trong quá trình sử dụng.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×