Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 2.13: Số lượng các cuộc thanh, kiểm tra tài chính ngân sách của Tỉnh

Bảng 2.13: Số lượng các cuộc thanh, kiểm tra tài chính ngân sách của Tỉnh

Tải bản đầy đủ - 0trang

79

Năm 2016, Sở Tài chính hồn thành cơng tác thanh tra cho 7 cuộc thanh tra

chấp hành ngân sách nhà nước của 7 đơn vị: UBND huyện Bình Lục, UBND huyện

Kim Bảng, Sở Tài nguyên môi trường, Sở Lao động thương binh và xã hội, Ban

quản lý các khu công nghiệp tỉnh, Ban quản lý xây dựng các cơng trình dân dụng và

công nghiệp, Ban quản lý phát triển khu đơ thị mới. Qua thanh kiểm tra, Sở Tài

chính kiến nghị xử lý tài chính hơn 300 tỷ đồng, xử phạt vi phạm hành chính hơn

850 triệu đồng, số tiền đã thu nộp ngân sách nhà nước hơn 100 tỷ đồng. Nhiều vi

phạm trong quản lý, thực hiện chính sách chế độ về tài chính, ngân sách đã được

phát hiện kịp thời. Điển hình như: Huyện Bình Lục giao dự toán chi đầu tư xây

dựng cơ bản chưa đúng quy định dẫn đến mất cân đối không đảm bảo nguồn chi, nợ

xây dựng cơ bản cao. Trong công tác quản lý tài chính ngân sách, Sở Tài ngun

mơi trường tiến hành lập dự tốn còn chậm so với thời gian quy định, giao dự tốn

thu phí, lệ phí cho các đơn vị trực thuộc chưa phù hợp và thu một số khoản phí và lệ

phí cao hơn mức quy định. Qua thanh tra phát hiện Huyện Kim Bảng đã phát hiện

các sai phạm về lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh dự án tại 8 dự án với tổng số

tiền sai phạm trên 19 tỷ đồng; sai phạm về lập, thẩm định, phê duyệt điều chỉnh

tổng mức đầu tư tại 3 dự án với tổng số tiền sai phạm là 4,5 tỷ đồng; sai phạm về nợ

đọng xây dựng cơ bản tại 5 dự án với tổng số tiền gần 12 tỷ đồng và sai phạm khác

ở 5 dự án với tổng số tiền trên 1,5 tỷ đồng.

Ngoài ra, do cấp tỉnh và cấp huyện đều có chức năng thanh tra về ngân sách

(chưa kể có các cuộc thanh tra, kiểm tốn của thanh tra Bộ Tài chính, Thanh tra

Chính phủ, Kiểm toán nhà nước...) nên để tránh trùng lắp đối tượng, phạm vi và nội

dung thanh tra, các đơn vị có chức năng thanh tra phải lập kế hoạch thanh tra hàng

năm, tránh tiến hành thanh tra các đơn vị, các nội dung đã được thanh tra, kiểm

tốn. Ví dụ năm 2015, Kiểm toán nhà nước khu vực I thực hiện kiểm toán việc thực

hiện ngân sách nhà nước năm 2014 của tỉnh Hà Nam, trong đó đã thực hiện kiểm

tốn tại huyện Bình Lục, Kim Bảng và TP.Phủ Lý, thì Thanh tra Sở Tài chính khơng

thực hiện thanh tra việc thực hiện ngân sách nhà nước năm 2014 của 3 huyện nói

trên.

* Đánh giá phân cấp giám sát, thanh tra, kiểm toán



80

Việc các cơ quan HĐND và đại biểu HĐND thực hiện tốt chức năng giám sát

NSNN được coi là thước đo về tính minh bạch, hiệu quả và ngăn ngừa các biểu hiện

tham nhũng, lãng phí. Tuy nhiên, thực tế qua công tác giám sát cho thấy còn một số

tồn tại, hạn chế làm ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác giám sát NSNN như: Các

cơ quan chuẩn bị đề án, dự thảo chưa đảm bảo đúng thời gian gửi tài liệu (báo cáo,

tờ trình về ngân sách) trước thời gian họp, điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến công

tác quyế định và giám sát ngân sách cảu HĐND tại kỳ họp. Việc kiểm toán của

Kiểm toán nhà nước chưa thực hiện kịp thời hoặc thực hiện sau khi HĐND phê

chuẩn quyết tốn hoặc có những năm khơng thực hiện kiểm tốn cũng ảnh hưởng

khơng nhỏ đến việc giám sát của HĐND tỉnh bởi báo cáo kết quả kiểm toán rất

quan trọng để HĐND tham khảo xem xét, quyết định phê chuẩn NSĐP. Ngồi ra, có

nhiều chủ thể liên quan đến hoạt động thu - chi NSNN tại địa phương như Cục

trưởng Cục thuế, Giám đốc KBNN cấp tỉnh… là những vị trí và cơ quan hết sức

quan trọng trong hoạt động NSNN tại địa phương nhưng không thuộc đối tượng bị

chất vấn của HĐND.

Trong công tác thanh tra, khi thanh tra phát hiện hành vi vi phạm trong lĩnh

vực NSNN (tham nhũng, lãng phí) thì các cơ quan này chỉ có thể báo cáo và kiến

nghị, việc có tiếp tục gửi tới cơ quan điều tra hay không phụ thuộc vào người đứng

đầu tổ chức, đơn vị. Điều đó cho thấy sự khiếm khuyết và thiếu đi tính trung thực,

khách quan và đặc biệt là tính độc lập trong tổ chức bộ máy giám sát.

Khi được hỏi ý kiến đánh giá về phân cấp giám sát, thanh tra, kiểm toán

NSNN của tỉnh Hà Nam, cán bộ quản lý các cấp đưa ra tính thường xuyên và đầy

đủ trong hoạt động giám sát, thanh tra, kiểm toán NSNN với 56,25% thực hiện chưa

tốt. Nhà quản lý ngân sách các cấp cho rằng công tác giám sát, thanh tra, kiểm toán

NSNN đã được tiến hành nhưng chưa thường xuyên và đầy đủ, mới chủ yếu được

thực hiện ở một số đơn vị, hiệu quả đạt được chưa cao, xử lý chưa kiên quyết đối

với những trường hợp có sai phạm.



Bảng 2.14. Đánh giá về phân cấp giám sát, thanh tra, kiểm toán của Hà Nam

Nội dung



Mức độ đánh giá



81



Cơng tác giám sát, thanh tra, kiểm tốn

đảm bảo các nguyên tắc và quy định của

Luật Ngân sách nhà nước

Cơng tác giám sát, thanh tra, kiểm tốn

được thực hiện thường xuyên và đầy đủ

Công tác giám sát, thanh tra, kiểm tốn

đáp ứng kịp theo u cầu trong cơng tác

quản lý

Cơng tác giám sát, thanh tra, kiểm tốn,

xử lý vi phạm được thực hiện nghiêm

minh

Việc thực hiện các kết luận, kiến nghị xử

lý sau thanh tra, kiểm toán thực hiện

nghiêm túc và triệt để



Rất

tốt



Tốt



Khá



Trung

bình



Yếu



2,08



16,67



54,17



27,08



0



0



10,42



33,33



56,25



0



4.17



18,75



27,08



50



0



0



27,08



52,08



20,83



0



0



37,50



41,67



20,83



0



Nguồn: Kết quả điều tra của tác giả

Trong 5 tiêu chí đánh giá về phân cấp giám sát, thanh tra, kiểm tốn NSNN

của tỉnh Hà Nam, có tiêu chí đáp ứng kịp thời theo yêu cầu trong công tác quản lý

hiện nay được cán bộ quản lý đánh giá với quan điểm 50% trung bình và 50% tốt và

rất tốt. Cán bộ quản lý cho rằng phân cấp giám sát, thanh tra, kiểm toán NSNN của

tỉnh Hà Nam đã được chú trọng quan tâm, thực hiện có trọng tâm, trọng điểm đáp

ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của địa phương; tuy nhiên do công việc nhiều nhưng

lực lượng thực hiện giám sát, thanh tra, kiểm tốn ít chưa đáp ứng nhu cầu hiện nay.

Công tác giám sát, thanh tra, kiểm toán, xử lý vi phạm thực hiện nghiêm minh

được đánh giá ở mức 20,83% trung bình. Khi được hỏi ý kiến, các cán bộ quản lý

các cấp cho rằng việc thực hiện các kết luận, kiến nghị xử lý sau thanh tra, kiểm

toán chưa được thực hiện thực sự nghiêm túc và triệt để, chưa đảm bảo tính nghiêm

minh của pháp luật do nhiều nguyên nhân như quy định của pháp luật về thanh tra

còn bất cập, thiếu quy định về các biện pháp cưỡng chế trong xử lý sau thanh tra,

chế tài xử lý trong việc chấp hành thực hiện kết luận thanh tra, kiến nghị kiểm toán,

ý thức chấp hành pháp luật của một số tổ chức, cá nhân bị xử lý còn hạn chế.



82

2.3. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phân cấp quản lý ngân sách nhà

nước của tỉnh Hà Nam

2.3.1. Về chính sách, pháp luật

Pháp luật là phương tiện để Nhà nước quản lý KTXH. Pháp luật có khả năng

triển khai những chủ trương, chính sách của Nhà nước một cách nhanh nhất, đồng

bộ và có hiệu quả nhất, trên quy mơ rộng lớn nhất. Do tính chất phức tạp và phạm

vi rộng lớn của chức năng quản lý kinh tế, Nhà nước không thể trực tiếp tham gia

vào các hoạt động kinh tế cụ thể mà thực hiện quản lý mang tầm vĩ mơ và mang

tính hành chính - kinh tế, vì thế trong việc phân cấp quản lý NSNN khơng thể thiếu

hệ thống pháp luật. Chỉ có trên cơ sở một hệ thống pháp luật đồng bộ và đủ mạnh

Nhà nước mới phát huy được hiệu lực quản lý kinh tế, xã hội.

Thực tế giai đoạn 2011-2016, trong phân cấp quản lý ngân sách nhà nước tại

tỉnh Hà Nam, hệ thống chính sách, pháp luật ln phải tn thủ khi quản lý, điều

hành NSNN như: Luật Ngân sách nhà nước năm 2002; Nghị định 60/2003/NĐ-CP

quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách; Thông tư 59/2003/TT-BTC

Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 6 tháng 6 năm 2003 của

Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước; Quy

định về tổ chức thực hiện dự toán từng năm; Quy định về việc xử lý chuyển nguồn

ngân sách từng năm; Quy định về chi trợ cấp đảm bảo xã hội, bảo hiểm y tế, an sinh

xã hội; Quy định về thanh quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản; Quy định về chế

độ tiền lương, phụ cấp; ...

Tính đến năm 2016, tỉnh Hà Nam luôn tuân thủ đúng các quy định pháp luật

về ngân sách trong việc phân cấp quản lý ngân sách, do đó, việc điều hành ngân

sách trở lên dễ dàng và trơn tru, kết quả kiểm toán và thanh tra về ngân sách trên

địa bàn tỉnh cũng khơng có q nhiều kiến nghị. Từ đó cho thấy hiệu quả của phân

cấp quản lý ngân sách của tỉnh Hà Nam khi thực hiện đúng pháp luật về ngân sách

ngày càng cao, tăng thu cho ngân sách, điều hành chi hợp lý, từ đó mang lại lợi ích

lớn cho nhân dân và doanh nghiệp trong tỉnh.



83

2.3.2. Về tình hình phát triển kinh tế xã hội của Tỉnh

Về kinh tế, theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Hà Nam, tổng sản phẩm trong

tỉnh (GDP) tăng bình quân 10,68%/năm, GDP bình quân đầu người đạt 42,33 triệu

đồng trong cả giai đoạn 2011-2015. Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình qn

1,8%/năm; Giá trị sản xuất cơng nghiệp tăng bình quân 18,63%/năm; Thu ngân sách

trên địa bàn tăng bình quân 18,3%/năm; Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trên địa bàn

tăng bình quân 39,4%/năm; Tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội

tăng bình quân 20%/năm;Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng.

Bảng 2.15. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Hà Nam

Đơn vị: %GDP

Chỉ tiêu

Nông, lâm nghiệp

Công nghiệp- xây dựng

Dịch vụ



Năm 2011

20,7%

49,3%

30,0%



Năm 2014

12,6%

58,0

29,4%



Năm 2015

12,6%

60,6%

26,8%



Năm 2016

12,77%

60,85%

26,37%



Nguồn: Báo cáo tình hình kinh tế xã hội năm 2011-2016, Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Hà Nam



Về xã hội, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên đến 2015 đạt 8,51%; Tỷ lệ trẻ em dưới 5

tuổi suy dinh dưỡng đến 2014 giảm còn 14%; Tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chuẩn hiện

hành đến 2015 giảm còn 4,4%, bình qn giảm 1,66%/năm. Giai đoạn 2011-2015,

tồn tỉnh giải quyết việc làm mới cho 82.046 người, trong đó có 4.634 người tham

gia xuất khẩu lao động; giải quyết việc làm thêm cho 106.520 người. Riêng năm

2016, Hà Nam giải quyết việc làm mới cho18.339 lao động. Tỷ lệ lao động qua đào

tạo đến năm 2017 đạt 59%, trong đó qua đào tạo có chứng chỉ, bằng cấp đạt 49%.

Năm 2015, số xã đạt chuẩn nông thôn mới là 33 xã, năm 2016 có có 59/116 xã và

năm 2017 có 78 xã đạt chuẩn nông thôn mới.

Các yếu tố về kinh tế, xã hội của Tỉnh trong giai đoạn 2011-2016 đã thúc đẩy

công tác phân cấp quản lý ngân sách của Tỉnh mạnh mẽ hơn nữa theo hướng cần

đẩy mạnh phân cấp cho cấp dưới để thực hiện các nhiệm vụ của địa phương một

cách chủ động, phù hợp với thực tiễn cơ cấu kinh tế, đời sống của dân cư, đặc thù

xã nông thôn mới hay xã sắp đạt nông thơn mới.



84

2.3.3. Về tính đặc thù về cung cấp hàng hố cơng của Tỉnh

Ở Hà Nam, tính đặc thù trong quản lý về cung cấp hàng hố cơng của các địa

phương ảnh hưởng không nhỏ tới phân cấp quản lý ngân sách nhà nước.

Những hàng hóa, dịch vụ đòi hỏi phải có nguồn vốn lớn, phạm vi, trình độ

quản lý cao phân cấp chính quyền cấp tỉnh quản lý chẳng hạn: Sự nghiệp môi

trường bao gồm bảo vệ môi trường và khắc phục tình trạng ơ nhiễm mơi trường. Sự

nghiệp y tế, Sở Y tế trực tiếp quản lý các dịch vụ như phòng bệnh, chữa bệnh của

Bệnh viện đa khoa, Trung tâm y tế huyện, Bệnh viện chuyên ngành (mắt, lao và

phổi, phong, y học cổ truyền, tâm thần...), Y tế dự phòng... Sự nghiệp giáo dục và

đào tạo, Sở giáo dục và đào tạo thực hiện trực tiếp quản lý đối với các trường trung

học phổ thông (trường chuyên Biên Hoà, trường THPT của các huyện) và các

trường trung cấp, cao đẳng của Tỉnh.

Những hàng hóa dịch vụ mà tính chất khơng phức tạp, liên quan đến nhiều đối

tượng xã, phường, thị trấn và khơng u cầu trình độ quản lý cao như kiến thiết thị

chính, vệ sinh công cộng, sự nghiệp giáo dục các trường trung học cơ sở, tiểu học,

mầm non... phân cấp cho cấp huyện, cấp xã thực hiện.

Về cơ bản việc phân cấp quản lý hàng hóa, dịch vụ cơng là phù hợp về năng

lực cũng như trình độ quản lý của từng cấp chính quyền tuy nhiên vẫn còn bất cập.

Chẳng hạn về sự nghiệp môi trường, hiện nay tỉnh Hà Nam đã thu hút và đầu tư vào

7 khu công nghiệp chưa kể các cụm cơng nghiệp và làng nghề, vì vậy vấn đề ô

nhiễm môi trường của các xã, các làng xóm có khu cơng nghiệp và làng nghề đang

ngày càng nặng nề. Để xử lý vấn đề này chỉ có chính quyền cấp xã, cấp huyện vào

cuộc là hiệu quả nhất nhưng tỉnh Hà Nam lại chưa phân cấp cho cấp huyện và xã

mà để cấp tỉnh quản lý và thực hiện. Do đó, cần có sự phân cấp mạnh mẽ hơn về

cho cấp huyện và xã để bảo vệ mơi trường và khắc phục tình trạng ơ nhiễm mơi

trường một cách hiệu quả nhất.

Từ đó, ta thấy tính đặc thù trong quản lý về cung cấp hàng hố cơng của các

địa phương là tiền đề để phân định nhiệm vụ thu và nghĩa vụ chi cho từng cấp từng

địa phương trên địa bàn toàn tỉnh và địa phương phải tự nâng cao năng lực cũng



85

như trình độ quản lý để thực hiện hoạt động cung ứng dịch vụ công và hoàn thành

các nhiệm vụ của địa phương một cách tốt nhất.

2.3.4. Về điều kiện tự nhiên của Tỉnh

- Vị trí địa lý:Hà Nam nằm giáp với thủ đơ Hà Nội, tỉnh Hưng Yên, Thái Bình,

Ninh Bình và Nam Định. Vị trí địa lý này tạo rất nhiều thuận lợi cho phát triển kinh

tế và xã hội của tỉnh. Ngoài ra, Hà Nam có vị trí nằm trên trục giao thơng quan

trọng xun Bắc-Nam, trên địa bàn tỉnh có quốc lộ 1A và đường sắt Bắc - Nam

chạy qua và các tuyến đường giao thông quan trọng khác như quốc lộ 21, quốc lộ

21B, quốc lộ 38, đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình và Hà Nội – Hải phòng .. cộng

thêm hệ thống giao thơng liên huyện, liên xã, thị xã, thị trấn đã được rải nhựa hoặc

bê tơng hóa, các cầu đường đã được xây dựng kiên cố tạo thành một mạng lưới giao

thơng khép kín, tạo điều kiện thuận lợi về đi lại và vận chuyển hàng hóa cho các

phương tiện cơ giới. Hà Nam có vị trí chiến lược tạo ra lợi thế lớn trong phát triển

kinh tế, giao lưu văn hoá xã hội, trao đổi khoa học kỹ thuật và thu hút đầu tư, được

coi là vùng trọng điểm phát triển kinh tế Bắc Bộ.

- Về địa hình, Hà Nam là một tỉnh đồng bằng giáp núi nên địa hình có sự

tương phản giữa địa hình đồng bằng và địa hình đồi núi. Phía Tây của tỉnh (chiếm

khoảng 10 - 15% diện tích lãnh thổ tỉnh Hà Nam) là vùng đồi núi bán sơn địa với

các dãy núi đá vôi, núi đất và đồi rừng, nhiều nơi có địa hình dốc. Phía Đơng là

vùng đồng bằng do phù sa bồi tụ từ các dòng sông lớn (chiếm khoảng 85 - 90% lãnh

thổ tỉnh Hà Nam) đất đai màu mỡ. Từ đó hình thành nên các đặc thù kinh tế của

từng vùng địa hình, tạo sự đa dạng trong phát triển kinh tế và văn hoá đặc sắc của

mỗi địa phương.

- Tài nguyên, khoáng sản:

Tỉnh Hà Nam nổi bật nhất và có ý nghĩa kinh tế hơn cả là đá vôi, sét và than

bùn. Cụ thể nguồn tài nguyên, khoáng sản của Tỉnh gồm:

Trữ lượng đá vôi xi măng: 26 mỏ (huyện Kim Bảng 16 mỏ, huyện Thanh

Liêm 10 mỏ), trữ lượng đá vôi xi măng là 3.657,759 triệu tấn (1.463,104 triệu m 3).

Xác định mỏ đá vơi hóa chất, trữ lượng 32,866 triệu tấn (13,146 triệu m3).



86

Trữ lượng sét xi măng 22 mỏ (huyện Kim Bảng 04 mỏ, huyện Thanh Liêm 18

mỏ). Tổng trữ lượng sét xi măng là 539,640 triệu tấn (359,760 triệu m 3). Sét xi

măng có quy mơ, trữ lượng nhỏ hơn nhiều so với đá vôi xi măng. Hầu hết các mỏ

sét xi măng có quy mơ lớn (chiếm 88,72% tổng tài nguyên trữ lượng sét xi măng

toàn tỉnh).

Trữ lượng dolomit là 132,600 triệu tấn (53,040 triệu m 3), có 02 mỏ tại huyện

Kim Bảng. Một số mỏ đá vôi và đơlơmit chính như: Mỏ đá vơi xi măng Bút Phong,

Hồng Sơn, Đồng Ao, Thanh Tân; mỏ đá vơi hố chất Kiện Khê, Thanh Sơn, Thanh

Nghị; đá vôi xây dựng Hà Nam (Thanh Nghị) và mỏ đolomit Bút Sơn…

Tỉnh Hà Nam có hai mỏ than bùn là mỏ than bùn Ba Sao và mỏ than bùn hồ

Liêm Sơn. Đây là các mỏ than bùn nằm trong trầm tích Kainozoi, tuổi Holoxen sớm

- giữa, nguồn gốc hồ đầm lầy.

Những đặc điểm tự nhiên cho thấy những lợi thế, đặc điểm riêng có của

tỉnh Hà Nam là diện tích mặt nước ao, hồ, đầm, phá, ruộng trũng và sơng ngòi

khá lớn thuận lợi cho việc nuôi trồng, đánh bắt thủy sản và chăn ni gia cầm

dưới nước, lànơi có tài ngun thiên nhiên về vật liệu xây dựng. Phát huy được

những thế mạnh của địa phương sẽ giúp cho kinh tế phát triển, kéo theo là sự

phát triển của các mặt đời sống xã hội. Từ đó ảnh hưởng đến phân cấp quản lý

NSĐP trên địa bàn tỉnh.

2.3.5. Một số yếu tố khác

* Mức độ phân cấp quản lý kinh tế xã hội của Tỉnh

Về cơ bản tỉnh Hà Nam cũng thực hiện phân cấp quản lý kinh tế xã hội theo

quy định của các cơ quan trung ương hướng dẫn và quản lý kinh tế xã hội thực hiện

phân cấp quản lý theo các ngành, chẳng hạn:

Đối với cấp tỉnh thì sở giáo dục quản lý tất cả các trường cấp ba, trung tâm

giáo dục thường xuyên trên địa bàn toàn tỉnh; sở y tế quản lý toàn bộ các bệnh viện

tỉnh, huyện, các trung tâm y tế của tỉnh, huyện; các trạm xá phường thị trấn cả về

mặt chuyên môn và con người; Sở Nông nghiệp quản lý các trung tâm, các ban

quản lý, các chi cục trực thuộc.....



87

Đối với cấp huyện thì phòng giáo dục quản lý các trường phổ thông cấp trung

học cơ sở, các trường tiểu học và các trường mần non; phòng lao động thương binh

xã hội quản lý toàn bộ các vấn đề xã hội trên địa bàn huyện như các chính sách hiện

trợ giúp xã hội theo luật người cao tuổi, người khuyết tật, hỗ trợ tiền điện hộ nghèo

(xét duyệt các đối tượng)....

Đối với cấp xã quản lý cơ sở vật chất các trường trung học cơ sở, trường tiểu

học, trường mầm non (con người và chun mơn thì phòng giáo dục quản lý), các

trạm xá (con người và chuyên môn do sở y tế quản lý)...và một số công việc nhiệm

vụ theo phân cấp.

Với quy định phân cấp quản lý kinh tế xã hội mức độ nào thì sẽ được phân cấp

quản lý ngân sách tương ứng mức độ đó, điều đó đã dẫn đến một số bất cập trong

công tác quản lý chẳng hạn như lĩnh vực y tế xã và giáo dục mầm non xã: theo phân

cấp thì cấp xã quản lý về mặt cơ sở vật chất còn con người và chun mơn thì do

cấp huyện và cấp tỉnh quản lý đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến chính quyền

cấp xã chưa thực sự quan tâm tạo điều kiện cho khối mầm non và khối y tế xã hoạt

động và phát triển.

* Trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý ngân sách nhà nước

Đội ngũ cán bộ quản lý ngân sách của tỉnh Hà Nam bao gồm các cán bộ làm

cơng tác tài chính ngân sách ở Sở Tài chính, phòng tài chính các huyện, thành phố;

cán bộ quản lý của UBND tỉnh, Ban Kinh tế ngân sách, Ban Thường vụ HĐND

huyện...

Đánh giá về năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ trong các cơ quan quản lý

ngân sách nhà nước cấp tỉnh và huyện được thể hiện thông qua bảng sau:



Bảng 2.16: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý NSNN của

tỉnh Hà Nam năm 2016

Đơn vị tính: người



STT



Trình độ năng lực



Đơn vị cơng tác

Cấp tỉnh

Cấp huyện



88

1

2

3

4



Tiến sỹ

Thạc sỹ

Đại học

Cao đẳng, trung học chuyên nghiệp

Tổng cộng



6

47

70

0

123



0

22

64

11

97



Nguồn: Kết quả điều tra của tác giả



Hình 2.3. Trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý ngân sách nhà nước

của tỉnh Hà Nam năm 2016

Từ bảng số liệu trên, ta thấy, có 06 người đạt trình độ tiến sỹ, chiếm 2,7%; 69

người đạt trình độ thạc sỹ, chiếm 31,4%; 134 người có trình độ đại học, chiếm

60,9%, còn lại là cao đẳng, trung học chuyên nghiệp là 11 người, chiếm 5%.

Hầu hết đội ngũ CBCC đều có chun ngành về kinh tế, tài chính và được đào

tạo khá bài bản. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số cán bộ ở cấp huyện năng lực

chuyên môn chưa cao, còn yếu trong khâu tham mưu cơ chế chính sách quản lý tài

chính ngân sách.

Qua phiếu khảo sát ý kiến của các cán bộ quản lý về thứ tự ảnh hưởng của các

yếu tố ảnh hưởng tới phân cấp quản lý NSNN của tỉnh Hà Nam, các ý kiến trả lời

được tổng hợp tại hình sau:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 2.13: Số lượng các cuộc thanh, kiểm tra tài chính ngân sách của Tỉnh

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×