Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 2.5: Tổng hợp thu, chi NS của khối huyện, thành phố thuộc Tỉnh

Bảng 2.5: Tổng hợp thu, chi NS của khối huyện, thành phố thuộc Tỉnh

Tải bản đầy đủ - 0trang

57

Thực tế giai đoạn 2011-2016, thu từ thuế, phí là nguồn thu quan trọng quyết

định của NSNN nói chung và ngân sách địa phương nói riêng. Giai đoạn 2011-2016

nguồn thu từ lĩnh vực này đều tăng ở cả 3 cấp ngân sách tỉnh, huyện, xã điều này

khẳng định tình hình sản xuất kinh doanh của tỉnh phát triển theo chiều hướng tốt

đồng thời khẳng định vai trò của các cấp chính quyền trong việc quản lý và phát

triển các nguồn thu.

Hình 2.2. Thu tiền sử dụng đất giai đoạn 2011-2016 tỉnh Hà Nam

Nguồn: Báo cáo quyết toán thu NSNN 6 năm (2011-2016), Sở Tài chính tỉnh Hà Nam

Thu tiền sử dụng đất tỉnh Hà Nam giai đoạn 2011-2016 có xu hướng ngày

càng giảm. Đây cũng là tính tất yếu bởi quỹ đất của địa phương ngày càng cạn kiệt

kết hợp với giai đoạn khó khăn của nền kinh tế trong nước làm cho giao dịch bất

động sản trầm lắng hoặc có giao dịch nhưng các giao dịch phát sinh ít và nhỏ.

Như vậy, thu ngân sách nhà nước giai đoạn 2011-2016 có bước tiến bộ năm

sau so với các năm trước, tỷ lệ huy động thu ngân sách hàng năm đều tăng so cùng

kỳ và ln hồn thành dự tốn thu hàng năm được Hội đồng nhân dân và Ủy ban

nhân dân tỉnh giao, kinh tế có sự tăng trưởng liên tục (bảng 2.4), trong đó: Thu từ

nội địa để cân đối giai đoạn 2011-2016 tốc độ tăng bình quân là 15%/năm, thu từ

thuế phí tăng 20%/năm. Các huyện, thành phố hàng năm đều đạt và vượt dự toán

thu NSNN từ 5% đến 15%/năm, từ đó các huyện thành phố đã có nguồn để chủ

động trong chi tiêu ngân sách cấp mình (luật ngân sách quy định số tăng thu từ thuế

phí phải dành 50% để thực hiện cải cách tiền lương và 50% được để lại cho đơn vị

bố trí vào các nhiệm vụ chính trị của địa phương). Đây là nhân tố quan trọng đảm

bảo cho sự phát triển kinh tế-xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh và ổn định chính

trị trên địa bàn.

Giai đoạn 2011-2016 nền kinh tế cả nước nói chung và tỉnh Hà Nam nói riêng

gặp nhiều khó khăn thách thức, sản xuất kinh doanh phục hồi chậm, nhiều doanh

nghiệp giải thể hoặc tạm ngừng sản xuất, thị trường bất động sản trầm lắng... đã tác



58

động không thuận lợi tới thu ngân sách. Thêm vào đó, thực hiện Nghị Quyết số

02/NQ-CP ngày 7/1/2013 của Chính Phủ về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn

trong sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu... và một số văn bản

khác như Nghị định số 121/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 về miễn giảm 50% tiền

thuê đất... cũng đã ảnh hưởng không nhỏ đến số thu ngân sách nhà nước của tỉnh Hà

Nam. Tuy nhiên cơ chế phân cấp quản lý ngân sách hiện hành đã làm cho các cấp

chính quyền địa phương từ tỉnh, huyện đến xã bước đầu quan tâm khai thác, nuôi

dưỡng nguồn thu.

2.2.2.2. Phân cấp nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước

Nhiệm vụ chi của tỉnh Hà Nam được phân cấp cho 3 cấp ngân sách (ngân sách

cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện, ngân sách cấp xã) thuộc ngân sách Tỉnh trong giai

đoạn 2011-2016 như sau:

Thứ nhất là nhiệm vụ chi của ngân sách cấp tỉnh:

Đơn vị thực hiện nhiệm vụ chi ngân sách cấp tỉnh là các cơ quan lập pháp,

hành pháp và tư pháp cấp tỉnh; các cơ quan Đảng cấp tỉnh; các tổ chức chính trị xã

hội và tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp cấp tỉnh. Nhiệm vụ chi ngân sách cấp

tỉnhdo các đơn vị trên thực hiện, bao gồm:

- Chi đầu tư phát triển: Tỉnh Hà Nam phân cấp cho ngân sách cấp tỉnh thực

hiện chi đầu tư xây dựng (ĐTXD) các cơng trình kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội

khơng có khả năng thu hồi vốn thuộc tỉnh quản lý (ví dụ như cơng trình dự án thuộc

lĩnh vực y té, giáo dục; các dự án quy hoạch, đo đạc, chỉnh lý bản đồ địa chính; các

cơng trình, dự án trong kế hoạch đầu tư công trung hạn...); chi đầu tư và hỗ trợ

doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính khác theo qui định của pháp

luật; Chi đầu tư phát triển trong các chương trình mục tiêu quốc gia do các cơ quan

cấp tỉnh thực hiện (ví dụ như dự án phát triển đô thị loại vừa- tiểu dự án TP Phủ Lý;

dự án xử lý khẩn cấp sự cố sạt lở bờ hữu sông hồng, bảo vệ dân cư, đất đai huyện

Lý Nhân;Dự án đường cứu hộ, cứu nạn Phú Đông ....); và các khoản chi đầu tư khác

theo qui định của pháp luật.



59

- Chi thường xuyên: Nhiệm vụ chi thường xuyên của ngân sách nhà nước cấp

tỉnh bao gồm: Chi sự nghiệp kinh tế (giao thông; thuỷ lợi; nông lâm nghiệp; chi di

dân đi vùng kinh tế nội tỉnh; chi quản lý đất đai; Lập quy hoạch sử dụng đất đai và

dự án điều chỉnh, bổ sung quy hoạch sử dụng đất đai 5 năm; các sự nghiệp kinh tế

khác); Chi các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hố thơng

tin, thể thao, phát thanh, truyền hình; Chi hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước,

cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam và các đoàn thểdo cấp tỉnh quản lý; Các nhiệm vụ về

quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội do ngân sách cấp tỉnh thực hiện theo qui

định của Chính phủ.

Ngồi ra còn có các khoản chi sự nghiệp thuộc chương trình mục tiêu quốc gia

do cơ quan cấp tỉnh thực hiện (ví dụ như Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn

thực hiện CTMT hỗ trợ dạy nghề cho lao động nông thôn, thực hiện khắc phục hậu

quả hạn hán vụ Đông Xuân 2016-2017; Sở Lao động thương binh và xã hội thực

hiện CTMTQG giảm nghèo bền vững, Thực hiện CTMT giáo dục nghề nghiệp việc làm và an toàn lao động năm 2017...); Chi trợ giá theo chính sách của Nhà

nước; Chi trả gốc và lãi tiền vay theo khoản 3 điều 8 của Luật ngân sách Nhà nước;

Chi bổ sung quĩ dự trữ tài chính địa phương; Chi chuyển nguồn ngân sách cấp tỉnh.

Thứ hai là nhiệm vụ chi ngân sách cấp huyện, thành phố:

Tỉnh Hà Nam gồm có 1 thành phố Phủ Lý và 5 huyện Bình Lục, Lý Nhân,

Duy Tiên, Kim Bảng, Thanh Liêm. Các huyện, thành phố trên thực hiện các nhiệm

vụ chi được giao tương đối giống nhau theo sự phân cấp, tuy nhiên tuỳ đặc điểm

phát triển kinh tế xã hội từng huyện và đặc biệt là thành phố Phủ Lý được giao thêm

những nhiệm vụ chi khác riêng biệt hơn.

Về chi đầu tư phát triển: Cả 6 huyện, thành phố đều thực hiện chi ĐTXD các

công trình kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội khơng có khả năng thu hồi vốn thuộc

huyện, thành phố quản lý bao gồm: Trụ sở làm việc, đường giao thông, cơng trình

thuỷ lợi, văn hố, thể thao, điện chiếu sáng và các cơng trình cộng cộng khác thuộc

huyện quản lý. Riêng thành phố Phủ Lý được phân cấp nhiệm vụ chi ĐTXD các



60

trường giáo dục phổ thông quốc lập gồm mầm non, tiểu học, trung học cơ sở trên

địa bàn phường.

Về chi thường xuyên, cả 6 huyện thành phố đều thực hiện nhiệm vụ chi cho:

Các hoạt động sự nghiệp kinh tế do huyện, thành phố quản lý (giao thông; nơng lâm

nghiệp; thuỷ lợi; quản lý đất đai; thị chính); Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào

tạo, hoạt động văn hoá, phát thanh, truyền thanh, đảm bảo xã hội ở cấp huyện, thành

phố; Chi cho các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam và các

đoàn thể thuộc huyện, thành phố; Chi thực hiện các nhiệm vụ về quốc phòng, an

ninh, trật tự an toàn xã hội do ngân sách huyện, thành phố thực hiện theo qui định của

Chính phủ; Chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới; và chi chuyển nguồn ngân sách cấp

huyện, thành phố.

Thứ ba là nhiệm vụ chi ngân sách cấp xã, phường, thị trấn:

Tỉnh Hà Nam gồm có 6 huyện, thành phố và 116 xã, phường, thị trấn. Cụ thể:

thành phố Phủ lý có 11 phường và 10 xã; huyện Bình Lục có 1 thị trấn và 18 xã;

huyện Duy Tiên có 2 thị trấn và 16 xã; huyện Kim Bảng có 2 thị trấn và 16 xã;

huyện Lý Nhân có 1 thị trấn và 22 xã; và huyện Thanh Liêm có 1 thị trấn và 16 xã.

Mỗi địa bàn hành chính xã có sự phát triển về kinh tế xã hội không đồng đều, tuy

nhiên vẫn thực hiện các nhiệm vụ chi cơ bản sau:

Về chi đầu tư phát triển, 116 xã phường thị trấn đều thực hiện chi ĐTXD các

cơng trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội khơng có khả năng thu hồi vốn thuộc xã,

thị trấn quản lý (như xây dựng trường học, trạm y tế xã, nhà văn hố...); Chi ĐTXD

các cơng trình kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội của xã từ nguồn huy động tự nguyện

của các tổ chức, cá nhân cho từng dự án nhất định theo qui định của pháp luật (vị dụ

như nhà nước và nhân dân cùng đóng góp xây dựng đường liên thơn, đường nội

đồng...);

Về chi thường xuyên, các xã phường thị trấn phải đảm bảo chi hoạt động của các

cơ quan nhà nước, Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội ở xã, phường, thị trấn; dân quân

tự vệ, trật tự an toàn xã hội; hoạt động văn hố, thơng tin, thể dục, thể thao, truyền



61

thanh; chi sửa chữa, cải tạo các công trình phúc lợi, các cơng trình kết cấu hạ tầng do

xã, thị trấn quản lý; Chi chuyển nguồn ngân sách cấp xã, phường, thị trấn.

Kết quả phân cấp nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách tại tỉnh

Hà Nam

Chi ngân sách ở địa phương được thực hiện theo quy định của luật NSNN,

trên cơ sở dự toán chi NSĐP được Trung ương giao hàng năm đã đảm bảo các yêu

cầu, nhiệm vụ. Kết quả thực hiện chi NSĐP hàng năm tăng lên đáng kể, bình quân 6

năm 2011-2016 tốc độ tăng chi ngân sách địa phương là 10%/năm trong đó tốc độ

tăng chi thường xuyên bình quân 12%/năm, cao hơn tốc độ tăng chi đầu tư phát

triển bình quân 5%/năm. Tuy nhiên năm 2013 và 2014 thì tỷ lệ tăng chi đầu tư phát

triển cao hơn tăng chi thường xuyên (Bảng 2.6, 2.7, 2.8). Điều này cho thấy trong

quá trình điều hành ngân sách, địa phương đã quan tâm ưu tiên dành các nguồn vốn

cho đầu tư phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

Tại Bảng 2.6, khi xét đến tỷ trọng, quy mô từng cấp ngân sách tại tỉnh Hà

Nam có thể thấy: nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp tỉnh vẫn là chủ yếu, chi ngân

sách cấp huyện và ngân sách cấp xã, phường chiếm tỷ trọng thấp hơn. Cụ thể: tốc

độ tăng chi bình quân của ngân sách cấp tỉnh 6 năm 2011-2016 là 12%, cấp huyện

9% và cấp xã là 11%.



62

Bảng 2.6: Tỷ trọng chi cân đối ngân sách các cấp của Tỉnh

Đơn vị tính: triệu đồng

Tốc

độ

tăng

Tỷ lệ %

T



Chỉ tiêu



T



Năm

2010



Năm 2011



BQ



Năm



Năm



Năm



Năm



Năm



6



2012



2013



2014



2015



2016



năm

(%)



Tổng chi cân đối NS

1



Ngân sách cấp tỉnh

Tỷ trọng so với tổng

chi cân đối NSĐP %



2



Ngân sách cấp

huyện

Tỷ trọng so với tổng

chi cân đối NSĐP %



3



Ngân sách cấp xã

Tỷ trọng so với tổng

chi cân đối NSĐP %



2011



2012



2013



2014



2015



2016



so



so



so



so



so



so



2010



2011



2012



2013



2014



2015



2.106.512



2.675.060



3.512.812



4.262.353



4.269.454



4.065.748



4.796.219



127



131



121



100



95



118



110



755.455



921.974



1.423.156



1.800.745



1.720.060



1.518.997



1.782.076



122



154



127



96



88



117



112



34



41



42



40



37



37



1.142.593



1.348.467



1.587.409



1.615.084



1.697.698



1.891.002



137



118



118



102



105



111



109



43



38



37



38



42



39

119



118



118



107



91



132



111



36

836.205

40

514.852

24



610.493

23



741.189

21



874.199

21



934.310

22



849.053

21



1.123.141

23



Nguồn: Báo cáo quyết toán chi NSNN năm 2011-2016, Sở Tài chính Hà Nam



63



* Về chi đầu tư phát triển:

Nhiệm vụ chi đầu tư phát triển tập trung chủ yếu ở cấp tỉnh và cấp huyện

(Bảng 2.7). Tốc độ tăng chi đầu tư phát triển bình quân giai đoạn 2011-2016 của

tỉnh là 16%, của huyện giảm 1% và của xã tăng 3%.

Nguyên nhân đạt kết quả chi đầu tư phát triển như trên là do:

Thứ nhất, theo quy định phân cấp chi đầu tư xây dựng cơ bản của tỉnh Hà

Nam, UBND cấp xã được quyết định đầu tư các dự án có tổng mức đầu tư dưới 3 tỷ

đồng; UBND cấp huyện được quyết định đầu tư các dự án có tổng mức đầu tư từ 3

tỷ đến dưới 7 tỷ đồng; Các dự án có tổng mức đầu tư trên 7 tỷ đồng do UBND cấp

tỉnh quyết định đầu tư.

Riêng thành phố Phủ Lý được phân cấp nhiệm vụ chi đầu tư xây dựng các

trường giáo dục phổ thông quốc lập gồm mầm non, tiểu học, trung học cơ sở trên địa

bàn phường, điện chiếu sáng, cấp thốt nước, giao thơng nội thị, an tồn giao thơng,

vệ sinh đơ thị và các cơng trình phúc lợi cơng cộng khác giao cho thành phố quản lý.

Các phường trên địa bàn thành phố Phủ lý không được phân cấp chi đầu tư phát triển.

Điều này tỉnh Hà Nam đã làm đúng theo quy định của luật NSNN năm 2002.

Thứ hai, ở tỉnh Hà Nam chi đầu tư phát triển được lấy từ hai nguồn ngân sách

cơ bản là nguồn vốn tập trung và nguồn thu tiền sử dụng đất. Trong khi đó nguồn

vốn tập trung dựa trên tổng các nguồn thu của ngân sách không kể tiền sử dụng đất.

Thực trạng cho thấy nếu không kể thu tiền sử dụng đất thì thu NSNN trên địa bàn

chủ yếu điều tiết cho cấp tỉnh, cấp huyện và xã chỉ được điều tiết các khoản thu nhỏ

lẻ, số phát sinh không lớn. Đối với các xã nguồn kinh phí để chi đầu tư phát triển cơ

bản là từ nguồn thu tiền sử dụng đất mà thu tiền sử dụng đất những năm gần đây có

xung hướng giảm (do quỹ đất cạn kiệt, thị trường bất động sản trầm lắng) đây chính

là nguyên nhân làm cho chi đầu tư phát triển của cấp xã có xu hướng giảm và tốc độ

tăng chi của cấp huyện thấp hơn cấp tỉnh.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 2.5: Tổng hợp thu, chi NS của khối huyện, thành phố thuộc Tỉnh

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×