Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Nội dung phân cấp quản lý ngân sách nhà nước

2 Nội dung phân cấp quản lý ngân sách nhà nước

Tải bản đầy đủ - 0trang

25

năng quản lý hành chính nhà nước của chính quyền địa phương. Các địa phương cấp

huyện, xã thực hiện thu các loại phí trên theo nghị quyết của HĐND tỉnh.

- Phân cấp thẩm quyền trong lĩnh vực chi:HĐND cấp tỉnh được quyền ban

hành một số chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi theo đặc thù và khả năng ngân sách

của địa phương. Các đơn vị, địa phương thuộc tỉnh thực hiện chi theo định mức

HĐND ban hành.

- Phân cấp thẩm quyền quyết định dự toán, phân bổ dự toán và quyết toán

ngân sách: là việc xác định cấp nào, cơ quan nào quyết định dự toán NSĐP (về tổng

mức, cơ cấu, mức chi, số bội chi và nguồn bù đắp bội chi); quyết định phân bổ

NSĐP (bao gồm: tổng mức chi theo từng lĩnh vực; dự toán chi từng bộ, cơ quan

trung ương, cơ quan đơn vị địa phương; số bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân

sách cấp dưới; số bội chi ngân sách, tổng mức vay của từng địa phương) và phê

chuẩn quyết toán NSĐP.

1.2.2. Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi và cân đối ngân sách nhà nước

Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi và cân đối ngân sách là nội dung quan trọng

trong cơ chế phân cấp quản lý ngân sách nhà nước, đó là thông qua việc phân công

trách nhiệm gắn với quyền hạn, phân cấp quản lý giữa các ngành, các cấp trong việc

thực hiện thu, chi NSNN phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của địa phương

để quản lý thống nhất hệ thống NSNN.

Nói cách khác phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi và cân đối ngân sách địa

phươnglà việc xác định ngân sách tỉnh, ngân sách huyện, ngân sách xã được thu

những loại, thuế, phí, lệ phí gì; được điều tiết bao nhiêu % số thu và ngân sách cấp

tỉnh, huyện, xã phải thực hiện chi những nhiệm vụ chi gì, cơ chế chi do cấp nào

đảm bảo. Cụ thể:

Ngân sách nhà nước địa phương bao gồm ba cấp ngân sách: Ngân sách tỉnh,

ngân sách huyện và ngân sách xã. Mỗi cấp ngân sách Nhà nước đều được hình

thành từ ba nguồn thu: thu cố định, thu điều tiết và thu bổ sung.

- Thu cố định là khoản thu phát sinh tại địa phương và địa phương được hưởng

tồn bộ số thu đó và dùng số thu đó để đáp ứng các nhiệm vụ chi tại địa phương.



26

- Thu điều tiết là khoản thu phát sinh trên địa bàn địa phương được hưởng theo

một tỷ lệ phần trăm (%) nhất định. Thu điều tiết phát sinh trong trường hợp các

khoản thu cố định của địa phương không đáp ứng được nhiệm vụ và chỉ tiêu được

giao.Tỷ lệ điều tiết cho các cấp ngân sách Nhà nước được ổn định trong một khoảng

thời gian, tạo cho địa phương chủ động trong bố trí kế hoạch ngân sách hàng năm

và khuyến khích đầu tư tạo nguồn thu. Người ta có thể gọi giai đoạn cố định tỷ lệ

phần trăm của các khoản thu được điểu tiết theo tỷ lệ phần trăm là thời kỳ ổn định

ngân sách.

- Thu bổ sung: trong trường hợp thu cố định và thu điều tiết của địa phương

không đảm bảo được yêu cầu chi được phân cấp, sẽ được ngân sách cấp trên bù. Số

thu bổ sung được xác định riêng cho từng cấp ngân sách địa phương dựa trên các

tiêu thức dân số, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội của từng vùng và có

chú ý đến vùng sâu, vùng xa.Số thu bổ sung được ổn định trong vài năm và được

điều chỉnh hàng năm tùy theo tỷ lệ trượt giá do Thủ tướng chính phủ cơng bố. Hội

đồng nhân dân tỉnh quyết định mức bổ sung từ ngân sách Nhà nước cấp huyện cho

ngân sách Nhà nước cấp xã.

Ngoài các khoản thu trên, ngân sách Nhà nước cấp tỉnh được huy động vốn

trong nước. Về nguyên tắc, ngân sách địa phương được cân đối với tổng số chi

không vượt quá tổng số thu.

Nhiệm vụ chi của từng cấp NSNN địa phương phụ thuộc vào việc phân cấp

quản lý hành chính – kinh tế của mỗi cấp chính quyền. Các khoản chi của từng cấp

từng cấp NSNN địa phương nội dung có thể giống nhau nhưng khác nhau về mức

độ và đối tượng chi. Chi ngân sách Nhà nước địa phương gồm: chi thường xuyên,

chi đầu tư phát triển, chi trả nợ gốc và lãi những khoản tiền huy động cho đầu tư

xây dựng cơng trình, kết cấu hạ tầng thơng qua việc phát hành trái phiếu chính

quyền địa phương; chi bổ sung cho ngân sách Nhà nước cấp dưới; và chi bổ sung

quỹ dự trữ tài chính.

Các địa phương được phân cấp nguồn thu để bảo đảm chủ động thực hiện

những nhiệm vụ được giao gắn trực tiếp với công tác quản lý tại địa phương đồng



27

thời đảm bảo nhiệm vụ chi gắn liền với nhiệm vụ quản lý kinh tế, xã hội, quốc

phòng, an ninh, do địa phương trực tiếp quản lý (việc đẩy mạnh phân cấp quản lý

ngân sách trong điều kiện tự nhiên xã hội và trình độ quản lý ở các vùng miền khác

nhau, là động lực quan trọng để khơi dậy các khả năng của địa phương, xử lý kịp

thời các nhiệm vụ của nhà nước trên phạm vi từng địa phương).

Nội dung phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi và cân đối ngân sách địa phương

thể hiện mối quan hệ về lợi ích nên thường rất phức tạp khó khăn, gây nhiều bất

đồng trong quá trình xây dựng và triển khai thực hiện. Sự khó khăn này bắt nguồn

từ sự phát triển khơng đồng đều, sự khác biệt về các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã

hội giữa các địa phương của tỉnh.

1.2.3. Phân cấp quản lý thực hiện chu trình ngân sách nhà nước

Chu trình ngân sách địa phương được xây dựng và thực hiện theo một chu

trình thống nhất với chu trình ngân sách nhà nước nói chung. Cụ thể bao gồm các

giai đoạn: lập dự toán NSĐP, chấp hành NSĐP, quyết tốn NSĐP. Chu trình ngân

sách hay còn gọi là quy trình ngân sách dùng để chỉ tồn bộ hoạt động của một năm

ngân sách kể từ khi bắt đầu hình thành cho tới khi kết thúc chuyển sang năm ngân

sách mới. Như vậy, chu trình ngân sách có độ dài hơn năm ngân sách. Xét về mặt

nội dung, trong một năm ngân sách cũng đồng thời diễn ra cả ba khâu: quyết toán

năm trước, chấp hành ngân sách, dự toán năm sau.

Phân cấp về quản lý thực hiện chu trình ngân sách, tức là phân công, phân

định trách nhiệm, quyền hạn trong việc lập, chấp hành và quyết toán NSNN.

Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước thể hiện mối quan hệ giữa các cấp ngân

sách trong một chu trình ngân sách. Trong các giai đoạn của chu trình, thẩm quyền

cụ thể của các cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương và các cơ quan chuyên môn

là thể hiện tính chất của phân cấp quản lý ngân sách địa phươngtrong toàn bộ hệ

thống NSĐP.

1.2.4. Phân cấp trong giám sát, thanh tra, kiểm toán ngân sách nhà nước

Giám sát NSNN là việc theo dõi, kiểm tra thông qua hệ thống thơng tin, báo

cáo nhằm xác định tình trạng NSNN, góp phần bảo đảm quản lý NSNN lành mạnh,



28

bền vững, hiệu quả; bảo đảm an ninh tài chính; phát hiện sớm các vấn đề, phòng

ngừa những nguy cơ xảy ra đối với công tác quản lý, điều hành NSNN, tác động

xấu đến kinh tế vĩ mơ, nền tài chính quốc gia và có hướng xử lý kịp thời. HĐND

thực hiện giám sát việc chấp hành dự toán NSĐP, phân bổ NSĐP, số bổ sung từ

ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới (ở địa phương) và phê chuẩn quyết toán

NSĐP; giám sát việc thực hiện Nghị quyết của HĐND trong lĩnh vực tài chính –

ngân sách và các văn bản pháp luật của cấp trên trên địa bàn.

Thanh tra tài chính trong lĩnh vực NSNN là họat động bao gồm giám sát, phân

tích đối chiếu một cách có hệ thống các thông tin, dữ liệu thông qua các tài liệu, sổ

sách, chứng từ nhằm đánh giá một cách có cơ sở kết quả các họat động thu chi

NSNN của cơ quan NN có thẩm quyền và các họat động sử dụng kinh phí NSNN

khác của các chủ thể thụ hưởng kinh phí từ NSNN.

Kiểm tốn NSNN là việc đánh giá, xác nhận kết luận và kiến nghị đối với việc

quản lý, sử dụng tài chính cơng, tài sản cơng và các hoạt động có liên quan đến việc

quản lý, sử dụng tài chính cơng, tài sản cơng của đơn vị được kiểm toán.

Phân cấp trong giám sát, thanh tra, kiểm toán NSNN là việc phân định nhiệm

vụ quyền hạn của mỗi cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền về giám

sát, thanh tra, kiểm toán NSNN nhằm mục đích quản lý NSNN đạt được những mục

tiêu đề ra, khơng ngừng nâng cao tính minh bạch và lành mạnh nền tài chính quốc

gia; đồng thời gia tăng tính hiệu lực và hiệu quả của bộ máy nhà nước đối với nền

kinh tế, xã hội.

1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến phân cấp quản lý ngân sách nhà nước

1.3.1. Chính sách, pháp luật

Pháp luật là phương tiện để Nhà nước quản lý kinh tế xã hội. Pháp luật có khả

năng triển khai những chủ trương, chính sách của Nhà nước một cách nhanh nhất,

đồng bộ và có hiệu quả nhất, trên quy mơ rộng lớn nhất. Do tính chất phức tạp và

phạm vi rộng lớn của chức năng quản lý kinh tế, Nhà nước không thể trực tiếp tham

gia vào các hoạt động kinh tế cụ thể mà thực hiện quản lý mang tầm vĩ mơ và mang

tính hành chính - kinh tế, vì thế trong việc phân tích quản lý NSNN không thể thiếu



29

hệ thống pháp luật. Chỉ có trên cơ sở một hệ thống pháp luật đồng bộ và đủ

mạnh Nhà nước mới phát huy được hiệu lực quản lý kinh tế, xã hội. Thực tế hiện

nay, pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhất trong việc quản lý, điều hành

NSNN như: Luật Ngân sách nhà nước; Nghị định hướng dẫn thi hành Luật

NSNN; Văn bản quy định, chế định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi, quản

lý thu - chi của các cấp chính quyền; Văn bản quy định quy trình, nội dung lập,

chấp hành và quyết toán ngân sách; quy định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền

của cơ quan nhà nước trong quá trình quản lý ngân sách, ... Các văn bản này có

ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả phân cấp quản lý ngân sách nhà nước trên một

địa bàn nhất định. Do vậy đòi hỏi Nhà nước phải ban hành những văn bản đúng

đắn, phù hợp với điều kiện thực tế thì cơng tác quản lý chi NSNN mới đạt được

hiệu quả. Đồng thời, mọi chính sách, chế độ trong phân cấp quản lý ngân sách

nhà nước phải được ban hành thống nhất và dựa chủ yếu trên cơ sở quản lý ngân

sách từ trung ương đến địa phương.

1.3.2. Tình hình phát triển kinh tế, xã hội của địa phương

Phân cấp quản lý NSNN cần chú ý đến tính đặc thù của địa phương đó là

những điều kiện tự nhiên, tỉnh hình phát triểnkinh tế, xã hội của địa phương từ đó

dẫn đến những nội dung phân cấp quản lý NSNN cũng có những tính chất đặc thù.

Những địa bàn có sự phát triển về kinh tế là điều kiện để tạo ra nguồn thu lớn cho

ngân sách và ngược lại. Trong khi đó, những địa bàn có đặc điểm về xã hội phức tạp

cần được tập trung nguồn lực ngân sách để tăng cường nhiệm vụ chi ngân sách

nhằm đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý xã hội. Nói cách khác, trong điều

kiện tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở địa phương khơng có sự biến động lớn thì

nguồn thu, nhiệm vụ chi NSNN ổn định. Khi nền kinh tế, chính trị, xã hội bất ổn

định thi nguồn thu NSNN trên địa bàn bị ảnh hưởng, nhiệm vụ chi cho phát triển

kinh tế, chi cho đảm bảo an ninh quốc phòng và giải quyết các vấn đề xã hội phải

thay đổi theo chiều hướng khác. Khi nền kinh tế càng phát triển khả năng tích luỹ

của nền kinh tế càng lớn, khả năng chi cho đầu tư phát triển càng cao. Như vậy cơ

chế phân cấp quản lý NSNN cũng vì thế mà phải thay đổi cho phù hợp.



30

1.3.3. Tính đặc thù về cung cấp hàng hố cơng của địa phương

Tính đặc thù trong quản lý về cung cấp hàng hố cơng của các địa phương là

tiền đề để phân định nhiệm vụ thu và nghĩa vụ chi cho từng cấp từng địa phương

trên địa bàn tồn tỉnh.

Các hàng hố, dịch vụ cơng muốn thực hiện có hiệu quả và đáp ứng được nhu

cầu đa dạng của người dân cần phải được giao cho một cấp chính quyền nào đó

thực hiện một cách phù hợp. Những hàng hố, dịch vụ đòi hỏi phải có nguồn vốn

lớn, khả năng quản lý cao (an ninh, quốc phòng, mơi trường...) thường do chính

quyền cấp tỉnh thực hiện; những hàng hố, dịch vụ mang tính phổ cập, đại trà

liên quan đến nhiều đối tượng xã, phường, thị trấn (kiến thiết thị chính, vệ sinh

cơng cộng...) thường giao cho chính quyền cấp huyện, xã thực hiện nhằm đảm

bảo tính hiệu quả trong việc thực hiện và phù hợp với nhu cầu sử dụng của các

địa phương.

Ngoài ra, đối với mỗi địa phương cùng được phân cấp thực hiện nhiệm vụ

công như nhau nhưng mỗi địa phương được phân cấp ngân sách khác nhau do đặc

thù cung cấp hàng hoá dịch vụ công của từng địa phương là khác nhau. Đối với các

đơn vị huyện xã đòi hỏi cung cấp hàng hố dịch vụ cơng lớn, ví dụ như nhiều khu

cơng nghiệp, nhiều bệnh viện lớn thì việc cung cấp hàng hố dịch vụ cơng tại địa

phương đó sẽ nhiều hơn đối với các địa phương nhỏ lẻ, và việc cung cấp hàng hố

dịch vụ cơng là khơng đáng kể.

1.3.4. Điều kiện tự nhiên của địa phương

Những đặc điểm về điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng lớn đến phân cấp quản lý

ngân sách nhà nước. Nó thể hiện khả năng thu trong tương lai, nhưng rất dễ trở

thành hiện thực trong hiện tại. Trong nguồn thu tương lai thì điều kiện về nguồn tài

ngun và khống sản có ý nghĩa quan trọng nhất. Các địa phương giàu tài ngun

khống sản có điều kiện để phát triển sản xuất và xuất khẩu, từ đó tạo nên tiềm năng

nguồn thu ngân sách lớn. Thu NSNN cao thì sẽ thuận lợi trong việc phân cấp quản

lý nguồn thu giữa các cấp ngân sách và ngược lại.



31

1.3.5. Một số yếu tố khác

Ngoài các yếu tố trên còn có các yếu tố khác ảnh hưởng tới phân cấp quản lý

ngân sách nhà nước như:

* Mức độ phân cấp quản lý kinh tế xã hội của địa phương

Việc phân cấp quản lý NSNN phải đi liền với phân cấp quản lý kinh tế xã hội.

Phân cấp quản lý kinh tế xã hội ở mức độ nào thì sẽ được phân cấp quản lý ngân

sách tương ứng ở mức độ đó. Bởi phân cấp quản lý ngân sách có mối quan hệ chặt

chẽ và chịu sự chi phối của phân cấp quản lý kinh tế xã hội của địa phương, đó là

việc xác định và phân định nhiệm vụ giữa các cấp chính quyền địa phương. Vì vậy

ở các cấp chính quyền địa phương khác nhau, tuỳ vào trình độ tổ chức quản lý, quy

mơ, tính chất cơng việc thì sự phân cơng, phân cấp quản lý NSNN cũng phải khác

nhau để đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn NSNN.

* Trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý ngân sách nhà nước

Con người là nhân tố trung tâm của bộ máy quản lý, là khâu trọng yếu trong

việc xử lý các thông tin để ra các quyết định quản lý. Chất lượng đội ngũ cán bộ

quản lý ngân sách nhà nước thể hiện thông qua việc tham mưu các cơ chế, chính

sách về lĩnh vực tài chính ngân sách và thực hiện quản lý ngân sách tại địa phương.

Trình độ và năng lực của cán bộ quản lý ngân sách nhà nước trong các cơ quan

quản lý và chấp hành ngân sách sẽ góp phần vào nâng cao hiệu quả, chất lượng

quản lý ngân sách. Cán bộ quản lý ngân sách nhà nước giỏi sẽ giúp cho công tác

quản lý ngân sách tại địa phương thực hiện theo đúng quy định nhà nước, sử dụng

ngân sách tiết kiệm có hiệu quả đồng thời tham mưu các chính sách nhằm tăng thu,

tiết kiệm chi và phát triển kinh tế xã hội địa phương.



32

1.4. Kinh nghiệm phân cấp quản lý ngân sách nhà nước của một số địa

phương và bài học rút ra

1.4.1. Kinh nghiệm phân cấp quản lý NSNN của tỉnh Nam Định

Tỉnh Nam Định trong thời kỳ ổn định ngân sách 2011-2015 thực hiện phân

cấp quản lý ngân sách theo Nghị quyết số 146/2010/NQ-HĐND ngày 10/12/2010

của HĐND tỉnh Nam Định.

* Về phân cấp nguồn thu:

Phân cấp nguồn thu giữa các cấp NSĐP chia làm hai nhóm:

- Nhóm 1: Nguồn thu ngân sách địa phương hưởng 100%.

- Nhóm 2: Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ (%) giữa ngân sách Trung ương

và ngân sách các cấp chính quyền địa phương.

Cụ thể tỉnh Nam Định đã thực hiện phân chia nguồn thu của một số khoản thu

cho 3 cấp ngân sách tỉnh, huyện, xã như sau:

- Đối với các khoản thu Thuế môn bài; thuế giá trị gia tăng; thuế tiêu thụ đặc

biệt thu từ hàng hóa dịch vụ trong nước; thuế thu nhập doanh nghiệp (trừ thuế thu

nhập doanh nghiệp từ các hoạt động chính của các đơn vị hạch tốn tồn ngành);

thuế tài ngun; tiền th mặt đất, mặt nước của các doanh nghiệp nhà nước Trung

ương, địa phương trên địa bàn thành phố Nam Định thực hiện phân chia cho ngân

sách cấp tỉnh 100%.

Trong khi đó Thuế mơn bài; thuế giá trị gia tăng; thuế tiêu thụ đặc biệt; thuế

thu nhập doanh nghiệp (trừ thuế thu nhập doanh nghiệp từ các hoạt động chính của

các đơn vị hạch tốn tồn ngành); thuế tài ngun của các doanh nghiệp nhà nước

Trung ương và địa phương, doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện (trừ

các doanh nghiệp đóng trên địa bàn thành phố Nam Định) phân chia cho ngân sách

cấp huyện 100%.

Thuế môn bài; thuế giá trị gia tăng; thuế tiêu thụ đặc biệt; thuế thu nhập doanh

nghiệp; thuế tài nguyên; tiền thuê mặt đất, mặt nước của các doanh nghiệp ngoài

quốc doanh trên địa bàn thành phố Nam Định, ngân sách tỉnh: 50%, ngân sách

thành phố 50%.



33

- Đối với nguồn thu tiền sử dụng đất: Tỉnh Nam Định thực hiện phân chia

nguồn thu hướng về cấp xã để có nguồn xây dựng nơng thơn mới. Cụ thể: Trích

30% để chi cho Quỹ phát triển đất theo Nghị định số 69/2009/NĐ-CP; số còn lại

được để lại toàn bộ cho ngân sách huyện, ngân sách xã.

+ Thu tiền sử dụng đất tại các xã, thị trấn: Ngân sách tỉnh 30% (để chi cho

Quỹ phát triển đất theo Nghị định số 69/2009/NĐ-CP); Ngân sách huyện, thành phố

20%; Ngân sách xã, thị trấn 50%.

Riêng số thu tiền sử dụng đất tại thị trấn Quất Lâm, huyện Giao Thuỷ và thị

trấn Thịnh Long, huyện Hải Hậu: Ngân sách tỉnh 30% (để chi cho Quỹ phát triển

đất theo Nghị định số 69/2009/NĐ-CP); Ngân sách thị trấn 70% để tập trung đầu tư

cơ sở hạ tầng Khu du lịch Thịnh Long và Quất Lâm.

+ Thu tiền sử dụng đất tại các phường của thành phố Nam Định: Ngân sách

tỉnh 30% (để chi cho Quỹ phát triển đất theo Nghị định số 69/2009/NĐ-CP); Ngân

sách thành phố 70%.

- Số thu tiền sử dụng đất nộp ngân sách nhà nước (sau khi trừ các khoản chi

phí và hỗ trợ theo quy định của pháp luật) được phân chia như sau:

+ Ngân sách tỉnh 30% (để chi cho Quỹ phát triển đất theo Nghị định số

69/2009/NĐ-CP);

+ Ngân sách huyện 70% để hỗ trợ các xã xây dựng nông thôn mới.

+ Ngân sách thành phố 70% để hỗ trợ các xã xây dựng nông thôn mới và xây

dựng cơ sở hạ tầng cho thành phố trung tâm vùng.

* Về phân cấp nhiệm vụ chi:

Thực hiện theo quy định của Luật ngân sách nhà nước và phân cấp quản lý

kinh tế, xã hội.

Trong phân cấp chi đầu tư XDCB ngân sách tỉnh ngoài phần chi đầu tư xây

dựng các cơng trình kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội do tỉnh quản lý. Chi trả nợ các



34

khoản ngân sách tỉnh vay, huy động đến hạn trả; còn dành nguồn để chi đầu tư cho

các dự án tái định cư và vốn đối ứng dự án WB của thành phố Nam Định; các dự án

của huyện Nghĩa Hưng, huyện Hải Hậu, huyện Trực Ninh theo Nghị quyết số

60/2007/NQ-HĐND ngày 04-7-2007 của HĐND tỉnh; chi đầu tư phát triển trong

các chương trình mục tiêu quốc gia do các cơ quan địa phương thực hiện; các khoản

chi đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật.

Đối với chi bảo đảm xã hội bao gồm: Chi thăm hỏi các đối tượng chính sách;

chi cho các trung tâm phòng chống tệ nạn xã hội cấp huyện; chi trợ giúp thường

xuyên và mai táng phí cho các đối tượng bảo trợ xã hội theo Nghị định

67/2007/NĐ-CP và Nghị định 13/2010/NĐ-CP của Chính phủ; chi thực hiện chế độ

mai táng phí đối với cựu chiến binh theo Nghị định 150/2006/NĐ-CP ngày 12-122006 của Chính phủ; đối tượng trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ theo

Quyết định 290/2005/QĐ-TTg ngày 8-11-2005 của Thủ tướng Chính phủ; chi các

hoạt động đảm bảo xã hội khác theo quy định của pháp luật và chế độ hiện hành...

được phân cấp cho ngân sách cấp huyện thực hiện.

* Đánh giá kết quả thực hiện phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi của tỉnh

Nam Định

Kết quả phân cấp nguồn thu

Dưới tác động của sự phân cấp nên tỷ lệ phần trăm phân chia nguồn thu cho

các cấp ngân sáchtrên địa bàn tỉnh Nam Định được xác định cụ thể và tăng dần qua

các năm. Cơ cấu nguồn thu nhờ đó cũng trở nên hợp lý và sát với tình hình thực tế

của địa phương. Cơ cấu thu có sự chuyển biến theo chiều hướng tích cực, các

huyện, thành phố đã xác định gắn quyền lợi chi với trách nhiệm thu NSNN.Số thu

của ngân sách cấp huyện hàng năm đều đạt và vượt thu NSNN.

Tuy nhiên, một số nội dung về phân cấp nguồn thu chưa phù hợp với tình hình

thực tế của địa phương; một số khoản thu phát sinh không ổn định và không đồng

đều giữa các địa bàn, nhất là các khoản liên quan đến đất đai, lệ phí nên phần nào

tác động tới cơng tác giao dự toán, cân đối, ổn định ngân sách từng năm của ngân

sách các cấp.



35

Một số khoản thu như: Thuế nhà đất, Thu từ lệ phí trước bạ, thuế mơn bài,

thuế GTGT và thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng bất động sản và từ hoạt

động sản xuất kinh doanh của cá nhân phần lớn điều tiết cho cấp xã hưởng, nhưng

cấp xã chưa phát huy hết việc khai thác triệt để nguồn thu trên địa bàn, còn để thất

thu, nên kết quả thu hàng năm của các lĩnh vực thu này đạt chưa cao.

Thu tiền sử dụng đất do cấp huyện quản lý, phát sinh trên địa bàn xã nào thì

điều tiết cho xã đó để có nguồn chi đầu tư. Điều này dẫn đến nguồn thu không được

tập trung để đầu tư cho các cơng trình có quy mô lớn, trọng tâm, trọng điểm mà bị

đầu tư nhỏ, manh mún tại các xã. Mặt khác do nguồn thu này không ổn định nên

cấp xã chưa chủ động lập dự toán chi từ nguồn này, dẫn đến số thu phát sinh ở

những tháng cuối năm thường không chi kịp, phải chuyển nguồn sang năm sau.

Kết quả phân cấp nhiệm vụ chi

Việc phân cấp cụ thể nhiệm vụ chi cho từng cấp ngân sách phù hợp với phân

cấp quản lý kinh tế xã hội của tỉnh đã tạo điều kiện cho các địa phương chủ động

quản lý chi ngân sách đảm bảo thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội trên địa

bàn có hiệu quả.

Cơ cấu chi NSNN tiếp tục được duy trì ở mức độ hợp lý cho đầu tư phát triển,

khuyến khích và tạo mơi trường thuận lợi cho phát triển sản xuất kinh doanh, chi

NSNN ngày càng hiệu quả hơn, góp phần quan trọng duy trì tốc độ tăng trưởng kinh

tế, đồng thời thực hiện các chính sách an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo.

Tuy nhiên, phân cấp nhiệm vụ chi ngân sách đối với một số lĩnh vực chưa

đồng bộ: Chi sự nghiệp y tế cơ sở, ngân sách huyện chi lương và phụ cấp lương,

ngân sách xã chi các khoản còn lại; chi sự nghiệp giáo dục mầm non là nhiệm vụ

chi của ngân sách xã, nhưng ngân sách huyện chi một số khoản lương, phụ cấp

lương chưa tạo điều điện thuận lợi cho công tác quản lý ngân sách của cấp xã.

Mặt khác, chưa hạn chế được việc phải nhận bổ sung từ ngân sách cấp trên. Để

cân đối được thu, chi thì đa số các huyện đều phải nhận trợ cấp từ ngân sách cấp trên,

trong khi vẫn có số thu điều tiết cho ngân sách cấp trên. Điều này gây phức tạp trong

việc hạch toán, nguồn thu nhỏ nhưng lại phải điều tiết cho nhiều cấp ngân sách.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Nội dung phân cấp quản lý ngân sách nhà nước

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×