Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TỈNH HÀ NAM

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TỈNH HÀ NAM

Tải bản đầy đủ - 0trang

97

b) Về phát triển xã hội

- Tiếp tục duy trì vừng chắc kết quả thực hiện chương trình phổ cập giáo dục

tiểu học, phổ cập giáo dục trung học cơ sở, phổ cập giáo dục trung học đạt tiêu

chuẩn quốc gia; 100% trường học được kiên cố hóa vào năm 2020.

- Phấn đấu đạt trên 9 bác sỹ/1 vạn dân, ít nhất 25 giường bệnh/1 vạn dân vào

năm 2015; giảm tỷ lệ thất nghiệp đô thị xuống dưới 5% vào cuối thời kỳ quy hoạch,

tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo trên 60% vào năm 2020.

- Giảm tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 3% theo quy định chuẩn nghèo; tỷ lệ trẻ em

dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng dưới 15% và tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đến năm

2020 đạt 60%.

c) Về bảo vệ môi trường

- Đảm bảo tỷ lệ che phủ của rừng 7% vào năm 2020 nhằm bảo vệ tốt môi

trường sinh thái, bảo vệ đất đai, điều hòa nguồn nước và góp phần tích cực vào tăng

trưởng kinh tế cũng như giảm nghèo.

- Giải quyết tốt vệ sinh môi trường đô thị, vệ sinh an tồn thực phẩm và mơi

trường các khu cơng nghiệp, khu du lịch trên cơ sở giải quyết hài hòa giữa phát triển

kinh tế, phát triển công nghiệp, dịch vụ và bảo vệ tài ngun mơi trường.

d) Về quốc phòng - an ninh

Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng,

an ninh; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị nhằm xây dựng nền

quốc phòng tồn dân kết hợp với thế trận an ninh nhân dân, đẩy mạnh công tác

phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội, kiềm chế, giảm thiểu tai nạn giao thông,

bảo đảm giữ vững ổn định chính trị, trật tự và an tồn xã hội.

3.1.1.3. Nhiệm vụ chủ yếu của Tỉnh trong giai đoạn tới nhằm đạt được các

mục tiêu trên

a) Giải pháp về huy động vốn đầu tư

Nhu cầu vốn đầu tư thời kỳ 2011 - 2020 khoảng 270.000 tỷ đồng. Ngoài

nguồn đầu tư từ vốn NSNN, tỉnh cần có các giải pháp để huy động có hiệu quả cao

nhất các nguồn lực trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển như:



98

- Ban hành danh mục các chương trình, dự án cần kêu gọi đầu tư đến năm 2020.

Trên cơ sở đó đẩy mạnh công tác quảng bá giới thiệu, xúc tiến đầu tư nhằm thu hút

tốt các doanh nghiệp, nhà đầu tư, chú trọng khai thác nguồn vốn ODA.

- Cải thiện môi trường đầu tư, sản xuất, kinh doanh, nhất là cải cách thủ tục

đầu tư; tạo điều kiện về cơ sở hạ tầng đã sẵn sàng tiếp nhận các dự án đầu tư; ban

hành các chính sách hỗ trợ đầu tư hấp dẫn, phù hợp với các quy định của pháp luật.

- Đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư nhất là trong các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế,

văn hóa, thể thao, phát thanh, truyền hình, khoa học công nghệ, bảo vệ môi trường …

để huy động vốn từ các thành phần kinh tế đầu tư vào các lĩnh vực này.

- Mở rộng các hình thức đầu tư BOT, BT, BTO, PPP, … tạo điều kiện thuận lợi

để phát triển các thị trường vốn; phát triển các hình thức liên doanh, liên kết đầu tư,

góp vốn đầu tư bằng tài sản.

b) Giải pháp về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực

- Tiếp tục tăng cường đầu tư cho lĩnh vực giáo dục và đào tạo; tăng cường năng

lực đào tạo cho các trường cao đẳng, trung cấp đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã

hội của tỉnh. Tập trung đầu tư cho trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề về trang

thiết bị, cơ sở vật chất, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, giáo viên.

- Mở rộng các hình thức đào tạo nghề, khuyến khích các doanh nghiệp tham

gia đào tạo nghề cho lực lượng lao động trong và ngoài doanh nghiệp; tập trung vào

các ngành nghề có nhu cầu lớn như: điện, cơ khí, xây dựng, sản xuất vật liệu xây

dựng … gắn chặt với nhu cầu lao động của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất; có cơ

chế sử dụng, chăm lo đời sống để từng bước nâng cao hiệu quả lao động.

c) Giải pháp về khoa học, cơng nghệ

Có biện pháp gắn phát triển khoa học và công nghệ với sản xuất; tăng cường

hợp tác trong và ngoài nước về nghiên cứu khoa học và phát triển cơng nghệ;

nghiên cứu có cơ chế, chính sách ưu đãi, khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức,

cá nhân đầu tư nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ

vào sản xuất phù hợp với chủ trương chung của Nhà nước.



99

d) Giải pháp về sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường

- Tổ chức triển khai thực hiện tốt các quy định của pháp luật, các chương trình

về bảo vệ tài nguyên nước, khống sản và mơi trường; khai thác một cách hợp lý và

có hiệu quả tài nguyên đất, tài nguyên khống sản.

- Tích cực tun truyền, vận động nhân dân nâng cao nhận thức về bảo vệ môi

trường; đẩy mạnh việc xã hội hóa cơng tác bảo vệ mơi trường kết hợp với cơng tác

kế hoạch hóa và cân đối các nguồn lực, tăng cường công tác quản lý nhà nước về

mơi trường. Có biện pháp hữu hiệu để giảm thiểu ô nhiễm môi trường nhất là khu

vực đô thị và khu sản xuất công nghiệp tập trung.

e) Giải pháp về nâng cao năng lực quản lý Nhà nước

Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, giảm thời gian chờ đợi, đi lại

cho nhà đầu tư, các tổ chức, cá nhân. Đồng thời đẩy mạnh việc đưa tin học vào quản

lý hành chính song song với cải cách thủ tục hành chính nhất là các lĩnh vực: thẩm

định dự án đầu tư, đăng ký kinh doanh, cấp giấy phép xây dựng, giấy chứng nhận

quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất, đăng ký hộ khẩu, công chứng …

g) Về xúc tiến thương mại, hợp tác phát triển

Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xúc tiến thương mại - đầu tư; đẩy

mạnh việc hợp tác, liên kết phát triển với thành phố Hà Nội và các tỉnh trong vùng

đồng bằng sông Hồng và các địa phương trong cả nước; ưu tiên hợp tác thu hút

những lĩnh vực có trình độ, cơng nghệ cao mà Tỉnh có nhu cầu.

h) Về quốc phòng - an ninh

Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế, xã hội với tăng cường tiềm lực quốc

phòng, an ninh trên địa bàn theo hướng xây dựng thế trận quốc phòng tồn dân gắn

với thế trận an ninh nhân dân để bảo đảm giữ vững ổn định chính trị, an ninh trật tự

và an tồn xã hội trên địa bàn.

3.1.2. Định hướng phân cấp quản lý ngân sách nhà nước của tỉnh Hà Nam

Phân cấp quản lý ngân sách tất yếu phải dựa trên các đặc thù của địa phương,

mục tiêu phát triển của Tỉnh, song phải tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể phát

triển trong mơi trường cạnh tranh bình đẳng cả trong và ngoài nước; phải cho phép



100

ngân sách thực sự trở thành cơng cụ, chìa khố của các cơ quan quyền lực trong thúc

đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển bền vững. Theo đó định hướng phân cấp quản lý

ngân sách của tỉnh Hà Nam cần tập trung vào các vấn đề sau:

3.1.2.1. Phân cấp quản lý ngân sách phải đáp ứng những yêu cầu đổi mới cơ

chế quản lý kinh tế và cải cách hành chính

Đổi mới phương thức quản lý NSĐP phải đảm bảo sự tương thích với đổi mới

cơ chế quản lý kinh tế, phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế, xã hội. Từng bước

đổi mới phân cấp quản lý NSĐP theo kết quả thực hiện các nhiệm vụ được ngân

sách cấp kinh phí. Tăng cường phân cấp quản lý ngân sách, bảo đảm sự thống nhất

của NSĐP trong đó ngân sách tỉnh đóng vai trò chủ đạo, đồng thời phát huy tính

chủ động, sáng tạo của ngân sách các cấp chính quyền địa phương trong quản lý và

sử dụng NSĐP.

Quán triệt quan điểm của cải cách hành chính theo Nghị quyết số 30c/NQ-CP

ngày 08/11/2011 của Chính phủ về chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà

nước giai đoạn 2011-2020: tiếp tục đẩy mạnh phân cấp quản lý, xem phân cấp quản

lý là tiền đề, là phương tiện thực hiện cải cách hành chính, đảm bảo cải cách hành

chính đạt hiệu quả cao. Trong phân cấp quản lý NSĐP cần đẩy mạnh công tác cải

cách hành chính, nâng cao tính minh bạch, dân chủ và cơng khai, kiểm sốt chặt chẽ

hoạt động thu, chi ngân sách và quản lý tài sản công; tăng cường thanh tra, kiểm tra

nâng cao kỷ luật, kỷ cương trong quản lý tài chính ngân sách, bảo đảm thực hiện

tiết kiệm chống lãng phí, chống tham nhũng.

3.1.2.2. Phân cấp quản lý ngân sách phải phù hợp với phân cấp quản lý kinh

tế, xã hội của Tỉnh

Việc phân cấp ngân sách phải phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế, xã hội,

phải dựa trên cơ sở các chức năng và nhiệm vụ quản lý hành chính về kinh tế xã hội

của các cấp chính quyền, gắn nguồn thu với nhiệm vụ chi và khả năng quản lý của

từng cấp chính quyền địa phương, đảm bảo nguồn lực để các cấp chủ động thực

hiện những nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh và trật



101

tự an toàn xã hội trong phạm vi quản lý; khuyến khích các cấp tăng cường quản lý

thu, chống thất thu;

Bảo đảm ổn định nguồn thu và nhiệm vụ chi của ngân sách cấp huyện, xã trong

thời gian 5 năm, gắn liền với kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của các cấp chính

quyền địa phương. Việc phân cấp nguồn thu cần quan tâm đến đặc điểm cụ thể cũng

như chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của từng huyện, thị xã, thành phố.

3.1.2.3. Phân cấp quản lý NSNN phải đảm bảo vai trò chủ đạo của ngân sách

cấp tỉnh và tính chủ động, sáng tạo của ngân sách cấp dưới

Cơ chế phân cấp phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa tập trung, thống nhất với

phân cấp, phân quyền. Phân cấp quá mức ngân sách sẽ dẫn đến phân tán, manh mún,

làm yếu vai trò chỉ đạo của ngân sách cấp trên; ngược lại, tập trung quá mức sẽ dẫn

đến tệ nạn quan liêu, độc đoán của cấp trên và làm cho cấp dưới bị động, ỷ lại.

Việc đẩy mạnh phân cấp quản lý ngân sách cho chính quyền cấp dưới phải

đảm bảo tính tập trung thống nhất của NSNN. Tức là phải đảm bảo vai trò chủ đạo

của ngân sách cấp tỉnh trong việc thực hiện điều chỉnh cơ cấu kinh tế, thực hiện

những nhiệm vụ quan trọng ở địa phương, các chính sách xã hội lớn, có thể chi

phối, điều hồ sự mất cân đối trong phát triển giữa các địa phương trong tỉnh với

nhau nhằm đảm bảo tính cơng bằng, hợp lý. Mặt khác, đi đơi với đảm bảo tính độc

lập của ngân sách cấp dưới phải đảm bảo sự kiểm tra, giám sát của ngân sách cấp

trên. Đảm bảo công bằng, công khai, minh bạch và phát triển cân đối nguồn ngân

sách giữa các khu vực trên địa bàn để chủ động thực hiện nhiệm vụ được giao, đồng

thời đảm bảo tập trung điều hành ngân sách các cấp trong phạm vi địa phương.

Trong phân cấp nguồn thu, cần theo hướng tăng nguồn thu cho ngân sách cấp

dưới, đặc biệt là cho ngân sách xã nhằm tăng nguồn lực cho ngân sách xã, hạn chế

phân chia các nguồn thu có quy mơ nhỏ cho nhiều cấp; hạn chế sử dụng nhiều tỷ lệ

phân chia khác nhau đối với từng khoản thu cũng như giữa các đơn vị hành chính

trên địa bàn. Trong phân cấp nhiệm vụ chi, ngoài việc căn cứ vào chức năng, nhiệm

vụ của mỗi cấp chính quyền, phân cấp quản lý kinh tế, xã hội, cần căn cứ vào nhu

cầu về hàng hố cơng cộng của người dân trên địa bàn và khả năng cung cấp có



102

hiệu quả hàng hố cơng cộng của mỗi cấp chính quyền. Những hàng hố cơng cộng

gắn với địa phương, có tính chất tồn vùng thì phân cấp cho ngân sách tỉnh cung

cấp, những hàng hoá công cộng gắn trực tiếp với cộng đồng dân cư trên địa bàn xã

thì nên phân cấp cho ngân sách xã cung cấp.

3.1.2.4. Phân cấp quản lý NSNN phải đảm bảo tính cơng bằng, hợp lý, bao

qt đầy đủ các hoạt động thu và chi của ngân sách Tỉnh

Quan điểm này đòi hỏi khi thực hiện phân cấp cần tránh tình trạng do kết quả

phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi mà một số địa phương được lợi (chi nhiều, thu

ít), một số địa phương khác lại bị thiệt thòi (thu nhiều, chi ít). Do sự khác nhau giữa

các địa phương về trình độ phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn tỉnh còn rất lớn về

nhiều mặt. Vì thế đòi hỏi việc phân cấp nguồn thu nhiệm vụ chi ngân sách cho chính

quyền cấp huyện, xã trên địa bàn tỉnh phải phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của

mỗi huyện, xã ; hoặc theo từng cụm xã, khơng thể áp dụng một mơ hình phân cấp

chung cho tất cả các khu vực hành chính, vì điều kiện đó sẽ làm giảm hiệu lực và

hiệu quả quản lý, làm giảm ý nghĩa của phân cấp.

Để đảm bảo tính cơng bằng, hợp lý giữa các địa phương, cần tăng cường sức

mạnh của ngân sách tỉnh, ngân sách cấp trên trong việc chi viện, chi phối cho các

địa phương có điều kiện khó khăn, nguồn thu khơng đủ đáp ứng các nhiệm vụ

chi.Thông qua cơ chế bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới sẽ góp

phần bảo đảm tính cơng bằng, hợp lý giữa các địa phương của tỉnh. Nhưng cần

tránh khuynh hướng cân đối thay cho các địa phương sẽ tạo ra tâm lý ỷ lại, dựa

dẫm, ngại vượt khó, khơng phát huy tính năng động, sáng tạo hoặc tạo ra cơ chế xin

- cho giữa cấp trên với cấp dưới.

3.1.2.5. Kế thừa và phát huy những mặt tích cực của cơ chế phân cấp quản lý

NSNN trên địa bàn Tỉnh của giai đoạn trước

Cần nhận thức rằng phân cấp ngân sách là một q trình khó khăn, phức tạp,

chịu sự tác động của nhiều yếu tố. Phân cấp ngân sách đem lại nhiều lợi ích trong

quản lý ngân sách, song nó cũng chứa đựng các rủi ro tiềm tàng. Có lẽ điều làm nhiều

người lo ngại là tăng cường phân cấp trong khi năng lực quản lý của chính quyền địa



103

phương còn yếu sẽ dẫn đến những hậu quả tai hại. Song cũng khơng thể chờ cho

chính quyền địa phương có đủ năng lực quản lý ngân sách thì mới phân cấp, bởi vì

chính quyền địa phương sẽ khó có đủ năng lực khi mà họ không được thử nghiệm để

phát triển năng lực đó. Vì vậy, cách làm hợp lý nhất là mở rộng phân cấp cho địa

phương trên cơ sở thử nghiệm, thí điểm từng bước và có lựa chọn; đồng thời tăng

cường các biện pháp bồi dưỡng đào tạo đội ngũ cán bộ địa phương đi đôi với thực thi

các biện pháp giám sát và xử phạt nghiêm khắc.

3.2. Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện phân cấp quản lý ngân sách nhà

nước tỉnh Hà Nam đến năm 2020

Qua nghiên cứu thực trạng, để góp phần hồn thiện phân cấp quản lý ngân sách

nhà nước của tỉnh Hà Nam, tác giả xin đưa ra một số giải pháp như sau:

3.2.1. Hoàn thiện phân cấp thẩm quyền ban hành các chế độ quản lý ngân

sách nhà nước

Thứ nhất, các đơn vị chun mơn cần nghiên cứu và rà sốt các chế độ chính

sách tại địa phương và kịp thời tham mưu UBND tỉnh trình HĐND tỉnh ra Nghị

quyết ban hành chế độ, chính sách theo đúng tinh thần văn bản của cơ quan trung

ương. Đồng thời bám sát thực tế tại địa phương tỉnh để ban hành cơ chế quản lý,

điều hành mang lại sự phát triển kinh tế xã hội của Tỉnh.

Cụ thể đề nghị HĐND tỉnh ban hành ngay nghị quyết điều chỉnh nghị quyết số

20/2011/NQ-HĐND ngày 15/12/2011 về phân cấp nguồn thu, tỷ lệ phần trăm từng

nguồn thu, nhiệm vụ chi cho các cấp ngân sách thuộc địa phương để quy định tỷ lệ

điều tiết cho các khoản thu: Tiền thu từ xử lý tang vật phương tiện bị tịch thu sung

quỹ; tiền phạt vi phạm hành chính và tiền thu phạt vi phạm an tồn giao thông.

Thứ hai,địa phương cần phân cấp mạnh hơn nữa cho chính quyền cấp dưới

trong quyết định ngân sách theo hướng: HĐND tỉnh quyết định dự toán thu NSNN

trên địa bàn, dự toán thu, chi NSĐP và mức bổ sung cho ngân sách cấp huyện (bổ

sung cân đối và bổ sung có mục tiêu),đồng thời, tiến tới tăng tính chủ động hơn cho

HĐND huyện, xã trong quyết định dự toán NSĐP.Để có thể tăng cường phân cấp

thì Tỉnh phải được tự quyết định nhu cầu chi cho các lĩnh vực theo các trọng tâm



104

của Tỉnh và theo quy định do Trung ương ban hành, ví dụ như vấn đề trả lương và

trợ cấp phải tuân thủ quy định này nhưngcấp tỉnh và huyện phải có quyền quyết

định nhu cầu chi cho lĩnh vực giáo dục, y tế...

Thứ ba, cần bảo đảm cho HĐND chủ động trong việc quyết định các vấn đề

kinh tế, xã hội tại địa phương, quyết định và xây dựng ngân sách địa phương trên cơ

sở tuân thủ các nguyên tắc thống nhất của nền tài chính quốc gia. Thực tế, về thẩm

quyền quyết định ngân sách địa phương, hiện nay chính quyền địa phương mới chỉ

được tăng quyền về tổ chức, thực thi ngân sách, còn thẩm quyền quyết định ngân

sách vẫn thuộc về trung ương (ví dụ: quyền quyết định các sắc thuế, mức thuế suất,

các nhiệm vụ chi tiêu vẫn thuộc về trung ương). Chính quyền địa phương chỉ được

quyền quyết định đối với một số loại phí, lệ phí nhỏ mà trung ương quy định khung

hoặc mang tính đặc thù của Tỉnh. Theo đó, cần cho phép HĐND cấp tỉnh ban hành

một số loại định mức tiêu chuẩn phù hợp với khả năng ngân sách địa phương và

điều kiện kinh tế, xã hội của từng vùng; quy định cụ thể và công khai tỷ lệ điều tiết

từ các nguồn thu phân chia, số bổ sung giữa các cấp ngân sách địa phương; ban

hành các văn bản điều chỉnh cơ chế vay giữa các cấp ngân sách địa phương.

Thứ tư, cần giao cho HĐND quyền yêu cầu kiểm toán quyết toán ngân sách

địa phương trước khi phê chuẩn quyết toán. Cơ quan kiểm toán nhà nước thực hiện

kiểm toán ở địa phương nào phải có trách nhiệm báo cáo kết quả kiểm tốn cho

HĐND cấp đó. HĐND có thể được thuê doanh nghiệp kiểm tốn độc lập để thực

hiện kiểm tốn các cơng trình có sử dụng vốn ngân sách và kiểm tốn số thu ngân

sách trên địa bàn.

3.2.2. Hoàn thiện phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi và cân đối NSNN

Hiện nay Hà Nam là một tỉnh chưa tự đảm bảo về cân đối ngân sách, hàng

năm số thu từ nền kinh tế trên địa bàn mới chỉ đảm bảo được khoảng 60% nhiệm vụ

chi cân đối của địa phương, còn lại 40% nhiệm vụ chi là nhờ vào số bổ sung từ

ngân sách trung ương. Với quy mô nguồn thu nhỏ, yêu cầu đặt ra đối với phân cấp

nguồn thu tại Hà Nam phải khuyến khích các ngành, các cấp quan tâm chỉ đạo phát

triển sản xuất kinh doanh dịch vụ tăng thu ngân sách; gắn nhiệm vụ thu với nuôi



105

dưỡng nguồn thu lâu dài, ổn định, phát triển, vững chắc để có nguồn tăng chi đầu tư

phát triển; Hạn chế phân chia các nguồn thu có quy mơ nhỏ cho nhiều cấp ngân

sách, giảm bổ sung cân đối từ ngân sách cấp tỉnh cho huyện, xã để các cấp tăng

cường quản lý thu ngân sách trên địa bàn, và các cấp chính quyền chủ động sử dụng

nguồn kinh phí của cấp mình. Đồng thời, việc phân cấp nhiệm vụ chi giữa các cấp

ngân sách địa phương chưa thật sự gắn liền và phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế

xã hội; phân cấp chi ngân sách chưa gắn liền với việc cung cấp các dịch vụ công

cộng ở địa phương mà chủ yếu vẫn được phân bổ dựa trên hệ thống tiêu chí, định

mức phân bổ ngân sách theo yếu tố đầu vào, chưa tính đến hiệu quả đầu ra của các

nhiệm vụ chi, hiệu quả phân bổ chưa cao.

Trên cơ sở đánh giá thực trạng, cần sửa đổi, bổ sung phân cấp nguồn thu và tỷ

lệ phần trăm phân chia các khoản thu giữa ngân sách các cấp chính quyền địa

phương trên địa bàn tỉnh, đồng thời đẩy mạnh thực hiện phân cấp quản lý các nhiệm

vụ chi ngân sách. Có thể đề xuất một số nội dung cần sửa đổi như sau:

* Đẩy mạnh thực hiện phân cấp quản lý các nguồn thu ngân sách nhà

nước cho cấp huyện, cấp xã:

- Đối với khoản thu thuế GTGT, thuế TNDN của khu vực ngoài quốc doanh

do chi cục thuế quản lý (huyện quản lý) hiện đang điều tiết ngân sách cấp tỉnh

100%. Tỉnh Hà Nam có 3 huyện là Thanh Liêm, Kim Bảng, Duy Tiên và 1 Thành

phố Phủ Lý có các khu cơng nghiệp đang phát triển mạnh. Để gắn trách nhiệm của

chính quyền địa phương trong việc quản lý và nuôi dưỡng các nguồn thu đề nghị

HĐND quyết định lại tỷ lệ điều tiết đối với 2 khoản thu này. Cụ thể, thuế GTGT,

thuế TNDN của DN ngoài quốc doanh do chi cục thuế quản lý trên địa bàn huyện

Thanh Liêm, Kim Bảng, Duy Tiên và Thành phố Phủ Lý điều tiết ngân sách huyện,

thành phố 50%, ngân sách tỉnh 50%; địa bàn huyện Lý Nhân, Bình Lục điều tiết

ngân sách huyện 100%.

- Đối với các khoản thu từ khoáng sản bao gồm tiền cấp quyền khai thác khống

sản và phí bảo vệ mơi trường đối với khai thác khoáng sản, hai khoản thu này đang

thực hiện điều tiết 100% ngân sách cấp tỉnh. Hiện tại ở tỉnh Hà Nam có 4 huyện có số



106

phát sinh từ lĩnh vực này đó là huyện Thanh Liêm, Kim Bảng, Duy Tiên, Lý Nhân.

Các huyện có tài ngun khống sản được khai thác phải chịu ảnh hưởng rất lớn từ ô

nhiễm môi trường, nhất là 2 huyện Kim Bảng và Thanh Liêm có tài ngun khống

sản là đá. Đối với 2 khoản thu này đề nghị HĐND quyết định lại tỷ lệ điều tiết như

sau: Tiền cấp quyền khai thác khống sản, phí bảo vệ mơi trường đối với khai thác

khoáng sản điều tiết 70% ngân sách cấp tỉnh, 30% ngân sách cấp huyện.

- Đối với khoản thu thuế tài nguyên hiện đang điều tiết 100% cho ngân sách

cấp huyện trong khi đó chính quyền cấp xã đã đề cập rất nhiều về vấn đề ô nhiễm

môi trường trên địa bàn các xã có tài ngun khống sản được khai thác. Để tạo

điều kiện cho cấp xã có kinh phí để xử lý môi trường đồng thời để gắn trách nhiệm

của chính quyền cấp xã trong việc quản lý trực tiếp tài nguyên khoáng sản trên địa

bàn các xã, đề nghị HĐND quyết định lại tỷ lệ điều tiết như sau: Thuế tài nguyên

ngân sách huyện hưởng 80%, ngân sách xã hưởng 20%.

- Đối với khoản thu lệ phí trước bạ (trừ lệ phí trước bạ nhà đất) đang điều tiết

ngân sách cấp tỉnh 100%. Để đảm bảo phân cấp đúng theo qui định của luật NSNN

(Hà Nam có một thành phố Phủ Lý trực thuộc tỉnh) đề nghị HĐND quyết định lại tỷ

lệ điều tiết như sau: trên địa bàn thành phố Phủ Lý điều tiết ngân sách thành phố

50%, ngân sách cấp tỉnh 50%.

Đối với lệ phí trước bạ nhà đất, tỉnh Hà Nam đang quy định cấp xã hưởng

100%, thuế chuyển quyền sử dụng đất (thuế thu nhập) trên địa bàn xã, thị trấn thì

ngân sách cấp xã hưởng 100%. Để điều hoà nguồn thu giữa các xã có sự khác biệt

về tài nguyên đất đai, đề nghị điều tiết một phần số thu từ 2 lĩnh vực này đối với các

xã có số phát sinh lớn cho ngân sách cấp huyện để huyện có nguồn hỗ trợ cho các

xã khó khăn. Cụ thể lệ phí trước bạ nhà đất và thuế thu nhập từ hoạt động chuyển

nhượng bất động sản phát sinh trên địa bàn các phường, thị trấn, các xã lân cận khu

công nghiệp được điều tiết 30% ngân sách huyện, 70% cho ngân sách cấp xã; phát

sinh trên địa bàn các xã còn lại điều tiết ngân sách xã 100%

- Về thu tiền sử dụng đất:



107

Tỷ lệ điều tiết ngân sách giữa các cấp ngân sách đối với khoản thu tiền sử

dụng đất hiện nay đối với ngân sách huyện (20%) còn thấp, ngân sách xã (60%) còn

cao; do vậy để tạo điều kiện để ngân sách cấp huyện có nguồn ngân sách hỗ trợ đầu

tư cho xã khó khăn từng bước nâng sự đồng đều về cơ sở vật chất giữa các xã, thị

trấn trên địa bàn, đề nghị HĐND tỉnh điều chỉnh tỷ lệ điều tiết như sau:

Thu tiền sử dụng đất thuộc quỹ đất do UBND huyện quyết định giao đất cho

hộ gia đình, cá nhân sử dụng làm nhà ở trên địa bàn các huyện điều tiết ngân sách

cấp tỉnh 20%; ngân sách cấp huyện 30%; ngân sách xã, thị trấn 50%;

- Một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn các huyện thành phố

Cục thuế tỉnh vẫn trực tiếp thu đề nghị phân cấp hết cho Chi Cục thuế huyện thu để

gắn trách nhiệm cấp uỷ, chính quyền địa phương cấp huyện trong việc tăng cường

chỉ đạo đôn đốc thu nộp kịp thời các khoản thu trên địa bàn.

* Đẩy mạnh thực hiện phân cấp quản lý các nhiệm vụ chi ngân sách:

- Phân cấp cho cấp huyện, cấp xã kinh phí mua sắm tài sản, trang thiết bị, đồ

dùng đồ cho xây dựng trường chuẩn và trạm y tế chuẩn quốc gia quốc gia. Hàng

năm, ngoài phân cấp chi hoạt động thường xuyên theo định mức, tỉnh nên phân cấp

riêng kinh phí chi hoạt động đặc thù để huyện và xã có nguồn kinh phí chi chủ động

trách nợ chi và lạm chi nguồn khác không đúng quy định, như: Chi đại hội các đồn

thể chính trị, các hội đặc thù và hội khác, chi diễn tập, ...

- Một số nguồn vốn sự nghiệp đã phân cấp cho huyện, cấp xã đề nghị tỉnh

phân bổ từ đầu năm ngân sách cho các huyện và các xã, thị trấn trên địa bàn như

tăng cường cơ sở vật chất trường học, phát triển nguồn thu ngân sách xã, nguồn cơ

sở hạ tầng, các đề án dự án nông nghiệp, hỗ trợ cây lúa nước, các chính sách an sinh

xã hội như đảm bảo xã hội, miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập, hỗ trợ tiền ăn

trưa cho trẻ em, hỗ trợ hộ nghèo, hộ chính sách tiền điện tạo điều kiện cho các

huyện có nguồn chi trả kịp thời cho các đối tượng (Trung ương quy định giao dự

toán đầu năm cho các đơn vị) tránh dồn việc phân bổ hỗ trợ cuối năm ngân sách.

- Đề nghị phân cấp chi sự nghiệp môi trường cho ngân sách cấp huyện, cấp xã

để gắn trách nhiệm của cấp huyện, cấp xã trong công tác quản lý cũng như chủ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TỈNH HÀ NAM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×