Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
tỉnh Hà Nam năm 2016

tỉnh Hà Nam năm 2016

Tải bản đầy đủ - 0trang

88

1

2

3

4



Tiến sỹ

Thạc sỹ

Đại học

Cao đẳng, trung học chuyên nghiệp

Tổng cộng



6

47

70

0

123



0

22

64

11

97



Nguồn: Kết quả điều tra của tác giả



Hình 2.3. Trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý ngân sách nhà nước

của tỉnh Hà Nam năm 2016

Từ bảng số liệu trên, ta thấy, có 06 người đạt trình độ tiến sỹ, chiếm 2,7%; 69

người đạt trình độ thạc sỹ, chiếm 31,4%; 134 người có trình độ đại học, chiếm

60,9%, còn lại là cao đẳng, trung học chuyên nghiệp là 11 người, chiếm 5%.

Hầu hết đội ngũ CBCC đều có chuyên ngành về kinh tế, tài chính và được đào

tạo khá bài bản. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số cán bộ ở cấp huyện năng lực

chuyên môn chưa cao, còn yếu trong khâu tham mưu cơ chế chính sách quản lý tài

chính ngân sách.

Qua phiếu khảo sát ý kiến của các cán bộ quản lý về thứ tự ảnh hưởng của các

yếu tố ảnh hưởng tới phân cấp quản lý NSNN của tỉnh Hà Nam, các ý kiến trả lời

được tổng hợp tại hình sau:



89



Bảng 2.17: Tổng hợp ý kiến đánh giá về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến

phân cấp quản lý ngân sách nhà nước của tỉnh Hà Nam

(sử dụng mức điểm từ 1 đến 5, trong đó 1 là thấp nhất và 5 là cao nhất)

Nội dung đánh giá



Mức độ đánh giá (%)

1



2



3



4



5



Chính sách, pháp luật



0



0



0



0



100



Tình hình phát triển kinh tế, xã hội của Tỉnh



0



25



33,3



41,7



0



Tính đặc thù về cung cấp hàng hố cơng của Tỉnh



0



27,1



45,8



27,1



0



Điều kiện tự nhiên của Tỉnh



0



47,9



12,5



39,6



0



0



0



Yếu tố khác



100 0



0



Nguồn: Kết quả điều tra của tác giả

Các cán bộ tài chính ngân sách khi được hỏi về thứ tự ảnh hưởng của các yếu

tố ảnh hưởng tới phân cấp ngân sách nhà nước của tỉnh Hà Nam đều đánh giá 100%

yếu tố có ảnh hưởng nhất tới phân cấp quản lý ngân sách của Tỉnh là chính sách

pháp luật. Yếu tố tình hình phát triển kinh tế, xã hội của Tỉnh được đánh giá có mức

ảnh hưởng thứ hai với 41,7% người tham gia điều tra chọn. Yếu tố tính đặc thù về

cung cấp hàng hố cơng của địa phương với 45,8% người tham gia chọn ở mức ảnh

hưởng thứ 3. Yếu tố điều kiện tự nhiên của Tỉnh ở mức độ ảnh hưởng thấp thứ 4 với

47,9% sự lựa chọn của cán bộ tham gia khảo sát. Cuối cùng là 100% cán bộ đều

chọn yếu tố khác có mức ảnh hưởng thấp nhất.

Kết quả điều tra giúp tác giả đánh giá được thứ bậc ảnh hưởng của các yếu tố

ảnh hưởng tới phân cấp quản lý ngân sách của Tỉnh, từ đó tác giả có đánh giá để ưu

tiên đưa ra giải pháp giúp hoàn thiện phân cấp quản lý ngân sách Tỉnh hơn nữa.

2.4. Đánh giá chung về thực trạng phân cấp quản lý ngân sách nhà nước

của tỉnh Hà Nam giai đoạn 2011-2016

2.4.1. Những kết quả đạt được

Thứ nhất, về phân cấp thẩm quyền ban hành chế độ quản lý NSNN

Luật NSNN năm 2002 phân cấp cho HĐND cấp tỉnh được phép ban hành một

số chế độ, tiêu chuẩn, định mức để phù hợp với tình hình thực tế và khả năng ngân



90

sách của địa phương; phân cấp nguồn thu nhiệm vụ chi cho các cấp chính quyền địa

phương. Căn cứ các tiêu chuẩn định mức và chính sách chế độ theo quy định của

nhà nước hiện hành, HĐND tỉnh, UBND tỉnh Hà Nam đã kịp thời ban hành các văn

bản trong lĩnh vực thu chi ngân sách giúp cho các cơ quan quản lý tài chính ngân

sách ở địa phương hoạt động nhịp nhàng mang lại kết quả tốt. Về cơ bản tỉnh đã

thực hiện theo quy định của luật NSNN.

Thứ hai, về phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi và cân đối NSNN

Các Nghị quyết được ban hành đã tạo khuôn khổ pháp lý để quản lý nguồn thu

- chi ngân sách nhà nước, là căn cứ để Kho bạc nhà nước thực hiện điều tiết nguồn

thu giữa các cấp ngân sách và tiến hành chi theo đúng quy định.

Phân cấp nguồn thu đã đảm bảo được vai trò chủ đạo của ngân sách tỉnh. Các

nguồn thu lớn, quan trọng trên địa bàn tỉnh phân cấp 100% cho ngân sách cấp tỉnh

(các khoản thuế GTGT, thuế TNDN, thuế TTĐB, thuế bảo vệ môi trường, thu tiền

cấp quyền khai thác khống sản, thu phí bảo vệ mơi trường đối với khai thác

khống sản), đảm bảo thực hiện được các nhiệm vụ quan trọng của tỉnh (đầu tư các

chương trình, dự án hạ tầng quan trọng như: tập trung vốn để giải phóng mặt bằng

các khu, cụm công nghiệp tỉnh, khu y tế chất lượng cao, khu dự án các trường đại

học; hỗ trợ xây dựng nông thơn mới cho các xã; thực hiện tích tụ ruộng đất; bảo

đảm nhiệm vụ chi quốc phòng, an ninh,...) và hỗ trợ các địa phương khó khăn.

Các khoản thu liên quan đến tài nguyên khoáng sản, đất đai như thuế tài

nguyên, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế sử dụng đất phi nơng nghiệp, thu tiền

sử dụng đất, lệ phí trước bạ nhà đất, ... đã ưu tiên phân cấp cho cấp dưới (cấp

huyện, cấp xã) qua đó nâng cao vai trò và trách nhiệm, tạo chủ động cho các cấp

chính quyền địa phương trong việc quan tâm ni dưỡng nguồn thu, khai thác

nguồn thu trên địa bàn.

Phân cấp nguồn thu ngân sách nhà nước đã khuyến khích chính quyền các cấp

trong tỉnh quan tâm đến việc khai thác và nuôi dưỡng nguồn thu.

Việc phân cấp nhiệm vụ chi được thực hiện theo quy định của Luật NSNN

2002, gắn trách nhiệm quản lý với nhiệm vụ của từng cấp chính quyền. Tạo tính chủ



91

động của các cấp chính quyền trong quản lý các nhiệm vụ chi, chủ động phân bổ

sắp xếp ngân sách phục vụ tốt yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội và đảm bảo an ninh,

quốc phòng, an sinh xã hội ở từng cấp ngân sách.

Phát huy được vai trò của các cấp chính quyền cơ sở, đảm bảo sự phân định về

quyền hạn và trách nhiệm của từng cấp ngân sách. Việc quản lý, điều hành ngân

sách công khai, minh bạch, kịp thời và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của các

cấp chính quyền địa phương.

Phát huy hiệu quả quản lý, sử dụng ngân sách và tài sản nhà nước, tăng cường

khuyến khích các cấp chính quyền chủ động đối với việc thực hiện xã hội hoá, huy

động các nguồn lực để phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống nhân dân.

Thứ ba, về phân cấp quản lý thực hiện chu trình ngân sách

Tỉnh Hà Nam phân cấp quản lý thực hiện chu trình Ngân sách đảm bảo các

nguyên tắc và quy định của luật NSNN, cụ thể: các đơn vị dự toán, cơ quan chuyện

mơn (thuế, tài chính, kho bạc, hải quan), UBND các cấp, HĐND các cấp đều có vị

trí, chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền trong các giai đoạn của chu trình Ngân sách

(lập dự tốn ngân sách, chấp hành ngân sách và quyết tốn ngân sách. Đảm bảo

khơng có sự chồng chéo hay lạm quyền giữa các cấp các ngành.

Thứ tư, về phân cấp giám sát, thanh tra, kiểm toán ngân sách nhà nước

Phân cấp giám sát, thanh tra tại tỉnh Hà Nam đã đảm bảo thực hiện theo đúng

các quy định của luật NSNN năm 2002. Cụ thể: các đơn vị dự toán cấp trên chịu

trách nhiệm kiểm tra việc chấp hành các chế độ thu, chi và quản lý ngân sách, quản

lý tài sản nhà nước của các đơn vị trực; thanh tra tài chính cấp tỉnh (Thanh tra sở tài

chính) có nhiệm vụ thanh tra việc chấp hành thu, chi và quản lý ngân sách, quản lý

tài sản nhà nước của các tổ chức và cá nhân trên địa bàn toàn tỉnh; Hội đồng nhân

dân các cấp giám sát việc thực hiện ngân sách đã được HĐND quyết định.

2.4.2. Những hạn chế tồn tại và nguyên nhân

2.4.2.1. Những hạn chế tồn tại

Bên cạnh những kết quả nổi bật đã đạt được, phân cấp quản lý ngân sách của

tỉnh Hà Nam có những hạn chế tồn tại chủ yếu như:



92

Một là, ngân sách địa phương có tính lồng ghép ngân sách giữa các cấp chính

quyền, dẫn đến tình trạng trùng lắp, chồng chéo về thẩm quyền, trách nhiệm giữa

các cấp ngân sách; hạn chế tính độc lập của từng cấp ngân sách; làm cho quy trình

ngân sách phức tạp và kéo dài, việc lập dự toán, tổng hợp dự toán cũng như quyết

toán ở mỗi cấp bị lệ thuộc vào cấp dưới và việc quyết định dự tốn ở cấp dưới mang

tính hình thức vì phụ thuộc vào quyết định dự toán của cấp trên.

Hai là, theo quy định của luật ngân sách năm 2002 thì thời kỳ ổn định của mỗi

cấp ngân sách là từ 3 đến 5 năm, trong thời kỳ ổn định ngân sách, số bổ sung của

ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới giữ nguyên không thay đổi. Tuy nhiên,

tỉnh Hà Nam chỉ tuân thủ ở việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi; định mức phân

bổ ngân sách; chế độ cơng tác phí ... còn dự tốn giao thu, dự toán giao chi, số bổ

sung cân đối lại thay đổiqua các năm trong thời kỳ ổn định ngân sách.

Ba là, tương quan giữa nguồn thu được giữ lại và nhiệm vụ chi giữa các cấp

chính quyền địa phương chưa tương xứng. Mặc dù tỷ trọng chi của ngân sách cấp

huyện, xã trong tổng chi ngân sách địa phương đã tăng lên đáng kể, song phần lớn

số chi lại từ nguồn bổ sung của ngân sách cấp tỉnh (chiếm hơn 70% trong tổng số

chi cấp huyện và cấp xã, Bảng 2.6). Huyện không tự cân đối được ngân sách từ

nguồn thu được giữ lại theo phân cấp cho các huyện cả giai đoạn 2011-2016. Tất cả

các huyện, các xã đều phải trông chờ vào số bổ sung từ ngân sách cấp tỉnh. Điều này

làm cho chính quyền cấp huyện và xã lúng túng, thiếu tính chủ động, trơng chờ hỗ trợ

từ ngân sách cấp trên trong việc điều hành nhiệm vụ kinh tế xã hội bởi có những việc

phải thực hiện nhưng do khơng có kinh phí nên chính quyền cấp huyện, cấp xã không

thể tiến hành. Hoặc theo phân cấp nhiệm vụ chi đầu tư, khi phê duyệt đầu tư các dự

án, đặc biệt các xã, chưa căn cứ vào khả năng ngân sách vẫn phê duyệt tổng mức

đầu tư vượt quá khả năng đảm bảo dẫn đến tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản.

Bốn là, cơ chế phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi chưa tạo thế chủ động, chưa

đảm bảo tính độc lập thực sự của ngân sách các cấp, chưa mở rộng quyền tự chủ để

mỗi cấp chính quyền, cấp ngân sách chủ động trong việc khai thác các nguồn thu tại

chỗ và chủ động bố trí chi tiêu hợp lý. Cụ thể, việc phân cấp nguồn thu cho cấp



93

huyện và cấp tỉnh vẫn mang tính cầm chừng, chưa triển khai mạnh mẽ, một số nội

dung phân cấp chưa hợp lý như thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp

của khu vực ngoài quốc doanh do chi cục thuế quản lý trong các khu cơng nghiệp;

lệ phí trước bạ nhà đất cấp xã hưởng 100%; thuế chuyển quyền sử dụng đất (thuế

thu nhập) trên địa bàn xã, thị trấn thì ngân sách cấp xã hưởng 100%. Việc phân cấp

ngân sách chi cho cấp huyện, cấp xã hiện nay chủ yếu đảm bảo các khoản chi cho

con người, chi hoạt động động thường xuyên theo định mức ổn định 5 năm; chưa

phân bổ chi mua sắm tài sản, cải tiến đổi mới phương tiện làm việc, chi mua sắm

trang thiết bị, đồ dùng làm việc... và một số khoản chi không thường xuyên hàng

năm nên khó khăn cho điều hành chi ngân sách cấp huyện và ngân sách cấp xã.

Năm là,công tác giám sát, thanh tra, kiểm tốn tài chính ngân sách chưa được

chú trọng và tiến hành triệt để; hiệu quả và hiệu lực của hoạt động giám sát của

HĐND các cấp còn rất hạn chế.

2.4.2.2. Nguyên nhân của hạn chế

Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến những tồn tại, hạn chế nêu trên nhưng

chủ yếu là do nhận thức, quan điểm về các chủ trương, giải pháp phân cấp quản lý tài

chính còn chưa rành mạch, thẩm quyền còn chồng chéo, ngại phân cấp mạnh. Có thể

liệt kê một số nguyên nhân chủ yếu như sau:

Nguyên nhân khách quan:

- Hệ thống ngân sách nhà nước còn mang tính thứ bậc, tính lồng ghép cao của ngân

sách cấp dưới vào ngân sách cấp trên được Quốc hội, HĐND quyết định hàng năm.

- Một số bất cập trong luật ngân sách nhà nước năm 2002 về phân cấp quản lý

ngân sách như: về trao quyền nhiều hơn cho chính quyền cấp tỉnh trong việc quyết

định ngân sách ở địa phương; về qui định phân cấp nguồn thu đối với 5 khoản thu

phân chia cho ngân sách cấp xã; về qui định không được dùng ngân sách cấp này để

chi cho nhiệm vụ của ngân sách cấp khác; về quy định trong thời kỳ ổn định ngân

sách, số bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới là không

thay đổi cho suốt thời kỳ...



94

Nguyên nhân chủ quan:

- Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chưa kịp thời ban hành chế độ, chính sách, tiêu

chuẩn, định mức của nhà nước kịp thời; chậm sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình

hình thực tế.

- Phân cấp chưa trên cơ sở tăng cường năng lực quản lý, hỗ trợ điều kiện, cơ

sở vật chất cho cấp dưới. Năng lực, trình độ cán bộ quản lý tài chính, ngân sách

chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, nhất là cán bộ quản lý

tài chính ngân sách xã.

- Chưa xây dựng được cơ chế phân cấp nguồn thu cho các cấp ngân sách

huyện, xã một cách phù hợp với tình hình thực tế của từng địa phương trong tỉnh

nên chưa khuyến khích, tạo động lực cho địa phương phấn đấu tăng thu.Việc phân

cấp nguồn thu chưa đi đôi với phân cấp quản lý thu gây ảnh hưởng đến nguồn thu

của các cấp ngân sách. Chẳng hạn trường hợp Cục thuế tỉnh quản lý thu một doanh

nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn các huyện. Các khoản thu từ lĩnh vực này sẽ

hiệu quả hơn nếu phân cấp cho chi cục thuế quản lý thu lúc đó sẽ gắn được trách

nhiệm của chính quyền cấp huyện trong việc đơn đốc thu nộp ngân sách.

- Phân cấp quản lý ngân sách các cấp chưa gắn với phân cấp quản lý về kinh tế,

xã hội. Chẳng hạn sự nghiệp y tế xã, sự nghiệp giáo dục mầm non xã thuộc nhiệm vụ

quản lý cấp xã tuy nhiên về phân cấp ngân sách lại giao cho cấp huyện quản lý. Phân

cấp quản lý kinh tế, xã hội là tiền đề, để phân cấp quản lý ngân sách ở địa phương.

Ngược lại, phân cấp quản lý ngân sách phù hợp sẽ có tác dụng thúc đẩy phân cấp

quản lý kinh tế, xã hội nhanh hơn và có hiệu quả hơn.

- Năng lực quản lý ngân sách của các cấp chính quyền còn nhiều hạn chế cụ

thể là:

+ Năng lực của cán bộ một số cơ quan chun mơn tham mưu cơ chế cho cấp

có thẩm quyền còn nhiều hạn chế vì vậy mà một số chế độ chính sách, cơ chế của

địa phương còn nhiều bất cập .

+ Tính năng động sáng tạo của cấp huyện, cấp xã còn hạn chế trong việc điều

hành NSĐP, một số huyện, xã chưa tích cực khai thác nguồn thu để đảm bảo chi,



95

chưa phát huy thế mạnh và tiềm năng của địa phương, chưa đầu tư vào sản xuất để

khai thác tạo nguồn thu lâu dài, chỉ trông chờ và dựa vào số bổ sung từ ngân sách

cấp trên.

+ Vai trò quyết định của HĐND các cấp đối với ngân sách các cấp. Từ thực tiễn

cho thấy năng lực quyết định của HĐND vẫn mang tính hình thức, chưa phản ánh

đầy đủ quan điểm, chính kiến của HĐND mà nguyên nhân dễ nhận thấy là xuất phát

từ chính trình độ, năng lực của các đại biểu. Bên cạnh đó còn một số ngun nhân

khác như thời gian, ngân sách và các nguồn lực phục vụ cho hoạt động giám sát còn

hạn chế, nguồn thơng tin và dữ liệu không đủ dẫn đến các cơ quan dân cử không thể

sâu sát trọng việc giám sát hoạt động quản lý ngân sách và sức ép về thời gian làm

cho công tác thẩm tra của Ban kinh tế và ngân sách HĐND tỉnh gặp nhiều khó khăn

do khơng đủ thời gian nghiên cứu một cách chi tiết, đầy đủ, đại biểu HĐND các cấp

cũng khó nắm bắt hết nội dung dự toán, quyết toán để cho ý kiến tại kỳ họp từ đó chất

lượng quyết định dự tốn và phê chuẩn quyết tốn ngân sách chưa thể hiện đầy đủ ý

chí của cơ quan dân cử.



96

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÂN CẤP QUẢN LÝ

NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TỈNH HÀ NAM

3.1. Mục tiêu, chiến lược phát triển và định hướng phân cấp quản lý

ngân sách nhà nước tỉnh Hà Nam đến năm 2020

3.1.1. Mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của Tỉnh đến năm

2020

Thời gian qua, kinh tế của Tỉnh đã có nhiều khởi sắc, cơ cấu kinh tế chuyển

dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng cơng nghiệp ngày một tăng; cơ sở hạ tầng KTXH

được tăng cường đáng kể; đời sống nhân dân từng bước được cải thiện và nâng cao.

Tại Quyết định 1226/QĐ-TTg ngày 22/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc

phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển KTXH Hà Nam đến năm 2020 tập trung

nhiều nội dung quan trọng.

3.1.1.1. Mục tiêu tổng quát

Xây dựng Hà Nam đến năm 2020 có tốc độ phát triển kinh tế, xã hội nhanh,

hiệu quả, bền vững, trong đó chú trọng chuyển đổi cơ cấu kinh tế, nâng cao chất

lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh của nền kinh tế; thu nhập bình quân đầu người

đến năm 2020 phấn đấu vượt mức trung bình của Vùng đồng bằng sơng Hồng; từng

bước xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội đồng bộ, hiện đại đáp ứng nhu cầu

thời kỳ phát triển tiếp theo; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần

của nhân dân; bảo đảm quốc phòng, an ninh chính trị và trật tự an tồn xã hội.

3.1.1.2. Mục tiêu cụ thể

a) Về phát triển kinh tế

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm thời kỳ 2011 - 2020 đạt

14,2%/năm, trong đó giai đoạn 2011 - 2015 đạt 13,5%/năm và đạt 15% giai đoạn 2016

- 2020. Tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế của Tỉnh vào

năm 2015 là 54,8%, 32%, 13,2%; đến năm 2020 là 58,6%, 33,2%, 8,2%.

- Phấn đấu tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu tăng bình quân 23%/năm giai đoạn

2011 - 2020, trong đó tăng 15% giai đoạn 2011 - 2015 và 32% giai đoạn 2016 2020; tỷ lệ thu ngân sách chiếm khoảng 11 - 12% GDP vào năm 2020.



97

b) Về phát triển xã hội

- Tiếp tục duy trì vừng chắc kết quả thực hiện chương trình phổ cập giáo dục

tiểu học, phổ cập giáo dục trung học cơ sở, phổ cập giáo dục trung học đạt tiêu

chuẩn quốc gia; 100% trường học được kiên cố hóa vào năm 2020.

- Phấn đấu đạt trên 9 bác sỹ/1 vạn dân, ít nhất 25 giường bệnh/1 vạn dân vào

năm 2015; giảm tỷ lệ thất nghiệp đô thị xuống dưới 5% vào cuối thời kỳ quy hoạch,

tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo trên 60% vào năm 2020.

- Giảm tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 3% theo quy định chuẩn nghèo; tỷ lệ trẻ em

dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng dưới 15% và tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đến năm

2020 đạt 60%.

c) Về bảo vệ môi trường

- Đảm bảo tỷ lệ che phủ của rừng 7% vào năm 2020 nhằm bảo vệ tốt môi

trường sinh thái, bảo vệ đất đai, điều hòa nguồn nước và góp phần tích cực vào tăng

trưởng kinh tế cũng như giảm nghèo.

- Giải quyết tốt vệ sinh mơi trường đơ thị, vệ sinh an tồn thực phẩm và môi

trường các khu công nghiệp, khu du lịch trên cơ sở giải quyết hài hòa giữa phát triển

kinh tế, phát triển công nghiệp, dịch vụ và bảo vệ tài ngun mơi trường.

d) Về quốc phòng - an ninh

Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng,

an ninh; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị nhằm xây dựng nền

quốc phòng tồn dân kết hợp với thế trận an ninh nhân dân, đẩy mạnh cơng tác

phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội, kiềm chế, giảm thiểu tai nạn giao thông,

bảo đảm giữ vững ổn định chính trị, trật tự và an tồn xã hội.

3.1.1.3. Nhiệm vụ chủ yếu của Tỉnh trong giai đoạn tới nhằm đạt được các

mục tiêu trên

a) Giải pháp về huy động vốn đầu tư

Nhu cầu vốn đầu tư thời kỳ 2011 - 2020 khoảng 270.000 tỷ đồng. Ngoài

nguồn đầu tư từ vốn NSNN, tỉnh cần có các giải pháp để huy động có hiệu quả cao

nhất các nguồn lực trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển như:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

tỉnh Hà Nam năm 2016

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×