Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

Tải bản đầy đủ - 0trang

thời điểm giao dịch phát sinh, khi chắc chắn thu được lợi ích kinh tế, được xác định

theo giá trị hợp lý của các khoản được quyền nhận, không phân biệt đã thu tiền hay

sẽ thu được tiền). Nói vậy, có nghĩa DT được hiểu là lợi ích kinh tế thu được làm

tăng vốn chủ sở hữu của DN ngoại trừ phần đóng góp thêm của các cổ đơng. Doanh

thu không bao gồm các khoản thu hộ bên thứ ba”.



 Theo IFRS 15 “ Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế” - Doanh thu hợp

đồng với khách hàng thì:

“Doanh thu là một thông tin quan trọng đối với người đọc báo cáo tài chính,

nó được sử dụng để đánh giá hoạt động kinh doanh và vị trí tài chính của doanh

nghiệp”.

Tóm lại, sau khi điểm qua các khái niệm trên, tác giả nhận thấy rằng doanh

thu hiểu theo nghĩa chung là: Doanh thu của doanh nghiệp chính là tổng lợi ích

thu được trong q trình hoạt động sản xuất kinh doanh của một kỳ nhất định. Tuy

nhiên, doanh thu tăng không phải là yếu tố duy nhất làm tăng vốn chủ sở hữu và

không phải tất cả các nghiệp vụ làm tăng tiền và các khoản phải thu hoặc sự tăng

lên của các tài sản khác đều liên quan đến doanh thu. Bản chất của doanh thu được

hiểu rằng: Doanh thu chỉ bao gồm tổng giá trị của các lợi ích về kinh tế mà DN đã

thu được hoặc sẽ thu được. Các khoản góp vốn của cổ đơng hoặc chủ sở hữu làm

tăng vốn chủ sở hữu nhưng khơng coi là DT. Ngồi ra các khoản thu hộ bên thứ ba

khơng phải là nguồn lợi ích kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của DN sẽ không

được coi là doanh thu và doanh thu là cơ sở để đánh giá mức độ hoạt động kinh

doanh của doanh nghiệp là một thồng tin hữu ích đối với các nhà đầu tư cần quan

tầm trước khi đặt ý định đầu tư vào một doanh nghiệp bất kỳ.

1.1.1.2. Phân loại doanh thu

Doanh thu của các doanh nghiệp sản xuất được phân loại theo nhiều tiêu thức

khác nhau, tuy nhiên tùy từng mơ hình và cách quản lý của doanh nghiệp mà doanh

nghiệp lựa chọn tiêu thức phân loại doanh thu phù hợp. Có các tiêu thức phân loại

doanh thu phổ biến là:



 Thứ nhất là phân loại doanh thu theo phương thức thanh toán tiền hàng

Phân loại doanh thu theo phương thức thanh tốn tiền hàng có 2 loại doanh thu

đó là doanh thu bán hàng trả tiền ngay hoặc doanh thu bán hàng chưa thanh toán

ngay được treo vào công nợ trên sổ theo dõi công nợ của khách hàng.

Doanh thu thu được từ việc bán hàng và thanh tốn ln tại thời điểm cá nhân

hoặc doanh nghiệp ký hợp đồng với đối tác, sau đó tiến hành bàn giao hàng hóa,

thành phẩm, cung cấp dịch vụ cho khách hàng, sau khi hoàn thành giao dịch hai bên

sẽ thanh lý hợp đồng và khách hàng trả tiền ngay cho cá nhân hoặc doanh nghiệp

bằng tiền mặt hoặc tiền gửi ngân hàng.

Ví dụ: Với các cơng ty sản xuất và xuất khẩu trong ngành may mặc với các

đối tác mới chưa thật sự tin tưởng khi xuất hàng ra nước ngồi doanh nghiệp

thường chọn phương pháp thanh tốn L/C đây là phương pháp an tồn chi phí cao

hơn so với các phương pháp khác nhưng đảm bảo hàng không bị mất thông qua

ngân hàng trung gian thứ 3 nghĩa là tiền nổi thì hàng sẽ nhận được.

Với doanh thu bán hàng thu tiền sau doanh nghiệp thường áp dụng với các đối

tác làm ăn lâu năm đã có sự tin tưởng và hiểu nhau về mặt tài chính cũng như cách

thức thanh tốn, sau khi bàn giao hàng hóa cho đối tác, đối tác sẽ căn cứ vào hợp

đồng hẹn ngày trả để thanh toán với doanh nghiệp.

Với cách phân loại này, giúp doanh nghiệp dự toán được số tiền thu được

trong kỳ là căn cứ quan trọng để trich lập dự phòng các khoản nợ phải thu khó đòi.



 Thứ hai là phân loại doanh thu theo lĩnh vực tạo ra doanh thu và theo vị

trí địa lý.

- Đối với việc phân loại doanh thu theo lĩnh vực tạo ra doanh thu

Tùy theo từng mức độ hoạt động loại hình kinh doanh, mặt hàng sản xuất mà

mỗi một doanh nghiệp có một lĩnh vực tạo ra doanh thu khác nhau. Doanh thu có thể

là thu được từ động tài chính, doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ và doanh thu

từ các hoạt động khác.

-Doanh thu hoạt động tài chính được hiểu là doanh thu thu được từ các khoản

tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức, lợi nhuận được chia và doanh thu hoạt động tài

chính khác của doanh nghiệp.



Ví dụ: Trong q trình sản xuất kinh doanh tại các doanh nghiệp may bao giờ

cũng có một khoản tiền mặt để giao dịch mua bán phát sinh trong ngày vì vậy

khoản tiền này doanh nghiệp sẽ gửi tại ngân hàng là khoản tiền gửi không kỳ hạn

với lãi suất thấp, khoản lãi suất này kế toán sẽ hạch toán vào doanh thu HĐTC.

-Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ chính là số tiền thu được từ các hoạt

động giao dịch mua bán hàng hóa sản phẩm. Ngồi ra, DTBH & CCDV còn là các

khoản trợ giá phụ thu theo quy định của nhà nước đối với một số hàng hóa dịch vụ

đã tiêu thụ trong kỳ Doanh thu bán hàng nội bộ không phải công ty nào cũng có, có thể

là cơng ty mẹ bán cho công ty con và ngược lại, hoặc là chi nhánh nọ bán cho chi nhánh

kia và cả hai chi nhánh đều trực thuộc một tổng công ty hoặc một tập đồn. Với doanh

thu bán lẻ, doanh thu bán bn và doanh thu gửi bán đại lý tùy theo không phải

doanh nghiệp sản xuất nào cũng có.

 Đối với việc phân loại doanh thu theo vị trí địa lý.

Doanh thu theo vị trí địa lý được chia làm 2 loại: (Doanh thu tiêu thụ hàng hóa

trong nước và doanh thu bán hàng xuất khẩu).

-Doanh thu bán hàng xuất khẩu là toàn bộ doanh thu thu được từ hoạt động

xuất khẩu hàng hóa bán ra nước ngồi để thu ngoại tệ về.

Ví dụ: Với các doanh nghiệp may gia cơng xuất khẩu khi xuất khẩu hàng hóa

sang nước bạn thơng qua hợp đồng ký kết giữa hai bên về thời gian thanh toán

cũng như đồng tiền trong thanh toán thường là đồng Đơ la đến hạn đối tác sẽ thanh

tốn và doanh nghiệp sẽ thu được ngoại tệ về.

-Doanh thu bán hàng trong nước là doanh thu thu được từ việc mua bán hàng

nằm trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Cách phân loại này giúp các nhà quản trị

đánh giá được mức độ hoạt động của việc bán hàng hóa theo khu vực địa lý, là

nhiều hay ít, là cơ sở để đánh giá mức sinh lời và rủi ro mang lại theo khu vực, là

căn cứ để phân loại doanh thu theo mối quan hệ với hệ thống tổ chức kinh doanh

của doanh nghiệp.



 Thứ ba là phân loại doanh thu theo mối quan hệ với điểm hòa vốn

Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ đều

phải quan tâm đến hai loại doanh thu đó là doanh thu an tồn và doanh thu hòa vốn.



Doanh thu an tồn là phần chênh lệch giữa doanh thu thực hiện được với

doanh thu tại điểm hòa vốn còn doanh thu bán tại điểm hòa vốn được gọi là doanh

thu hòa vốn

Cách phân loại hai loại doanh thu này giúp cho nhà quản trị có cái nhìn trực

diện hơn về kết quả kinh doanh, xác định được lời lỗ và đo lường được mức độ an

toàn hay rủi ro của của bộ phận bán hàng hay từng nhóm mặt hàng.

1.1.2. Khái niệm và phân loại chi phí

1.1.2.1. Khái niệm về chi phí

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh tại các doanh nghiệp chi phí là một

khoản tiền bắt buộc doanh nghiệp phải bỏ ra để chu trình sản xuất được diễn ra liên

hoàn và kịp thời đáp ứng được các yêu cầu về hợp đồng sản xuất không chỉ về chỉ

tiêu số lượng và thời hạn giao hàng. Chi phí là cơ sở để xác định được lợi nhuận thu

về của doanh nghiệp trong kỳ là bao nhiêu, có rất nhiều khái niệm về chi phí khác

nhau sau đây là một số khái niệm tiêu biểu và cụ thể:

Theo CMKT Việt Nam số 01( VAS) - Chuẩn mực chung ban hành và công

bố theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2002 của Bộ

trưởng BTC định nghĩa về chi phí như sau:

“Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế tốn

dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ TS hoặc phát sinh các

khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho

cổ đông hoặc chủ sở hữu”.

Theo thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22 tháng 12 năm 2014 của BTC về

hướng dẫn chế độ kế tốn DN thì:

“Chi phí là những khoản làm giảm lợi ích kinh tế, được ghi nhận tại thời điểm

giao dịch phát sinh hoặc khi có khả năng tương đối chắc chắn sẽ phát sinh trong

tương lai không phân biệt đã chi tiền hay chưa”.

Như vậy có thể hiểu trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, ngồi hoạt động

sản xuất còn có những hoạt động khác khơng có tính chất sản xuất như: Bán hàng,

quản lý, các hoạt động mang tính chất sự nghiệp. Nhưng chỉ những chi phí để tiến



hành các hoạt động sản xuất kinh doanh mới được coi là chi phí sản xuất kinh

doanh, nó khác với chỉ tiêu. Đó là sự giảm đi đơn thuần của các loại vật tư, tài sản,

nguồn vốn của doanh nghiệp bất kể nó được dùng vào mục đích gì. Chỉ tiêu là cơ

sở để phát sinh chi phí, khơng có chỉ tiêu thì khơng có chi phí song giữa chúng lại

có sự khác nhau về lượng và thời gian phát sinh. Biểu biện có những khoản chi tiêu

kỳ này chưa được tính vào chi phí, có những khoản được tính vào chi phí kỳ này, từ

đó giúp tính đúng, tính đủ chi phí sản xuất kinh doanh góp phần nâng cao hiệu quả

cơng tác hạch tốn sản xuất của doanh nghiệp. Có chi phí nhưng chưa chắc đã có

doanh thu, nhưng có doanh thu buộc phải có chi phí phát sinh đi kèm và tương ứng

với nó trong q trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Như vậy, thực chất chi phí

sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là sự dịch chuyển vốn của doanh nghiệp vào

đối tượng tính giá nhất định, nó là vốn của doanh nghiệp bỏ vào quá trình sản xuất

kinh doanh.

1.1.2.2. Phân loại chi phí

Để thuận tiện cho việc quản lý cũng như ghi chép các khoản chi phí trong các

doanh nghiệp sản xuất thì việc phân loại chi phí là rất quan trọng. Có nhiều tiêu

thức phân loại chi phí sau đây là một vài tiêu thức phân loại chủ yếu:

Thứ nhất là phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế của

chi phí hay nói cách khác phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố chi phí.

Dựa vào tính chất kinh tế ban đầu của chi phí sản xuất để sắp xếp các chi phí

phát sinh có cùng nội dung tính chất kinh tế ban đầu và một yếu tố chi phí mà

khơng phân biệt cơng dụng kinh tế của chi phí đã phát sinh. Có những yếu tố chi phí

sau:

– Chi phí nguyên liệu, vật liệu: Là toàn bộ giá trị của các loại nguyên liệu, vật

liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ xuất dùng

cho sản xuất kinh doanh trong kỳ.

– Chi phí nhân cơng: Là khoản chi phí phải trả cho người lao động như tiền

lương và các khoản phụ cấp, trợ cấp có tính chất lương, tiền ăn giữa ca và các

khoản trích theo lương, kinh phí cơng đồn, BHYT, BHXH.



– Chi phí khấu hao tài sản cố định: Là khoản chi phí khấu hao của tồn bộ tài

sản cố định của doanh nghiệp dùng trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

trong kỳ báo cáo như: điện, nước, điện thoại, vệ sinh và các dịch vụ khác.

– Ngồi ra còn có khoản chi phí khác bằng tiền đã chi bằng tiền trong kỳ báo

cáo như: tiếp khách, hội họp, thuế quảng cáo…

Thứ hai là phân loại chi phí sản xuất theo cơng dụng kinh tế hay còn gọi là

theo các khoản mục của chi phí.

Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất trong doanh nghiệp sản xuất cơng

nghiệp chi phí sản xuất được chia thành các khoản mục chi phí sau:

– Khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là chi phí về nguyên vật liệu

chính và nguyên vật liệu phụ sử dụng trực tiếp cho hoạt động sản xuất sản phẩm.

– Khoản mục chi phí nhân cơng trực tiếp: Là các khoản phải trả cho người lao

động như: lương các khoản phụ cấp lương, tiền ăn giữa ca và các khoản trích theo

lương (BHYT, BHXH, KPCĐ).

– Khoản mục chi phí sản xuất chung: Bao gồm những chi phí phát sinh tại bộ

phận sản xuất (phân xưởng, đội, tổ sản xuất…).

Thứ ba là phân loại chi phí theo mối quan hệ với sản lượng.

– Chi phí sản xuất cố định: Là những chi phí sản xuất cố định thường không

thay đổi theo số lượng sản phẩm sản xuất, như chi phí khấu hao theo phương pháp

bình qn, chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị, nhà xưởng… và chi phí hành chính

ở các phân xưởng sản xuất.

– Chi phí sản xuất biến đổi: Bao gồm những chi phí sản xuất thường thay đổi

trực tiếp hoặc gần như trực tiếp theo số lượng sản phẩm sản xuất như chi phí

nguyên vật liệu gián tiếp, chi phí nhân cơng gián tiếp.

Thứ tư là phân loại chi phí sản xuất theo phương pháp tập hợp chi phí và

mối quan hệ giữa chi phí sản xuất với đối tượng chịu chi phí theo phương pháp

tập hợp (với khối sản xuất lao vụ sản xuất trong kỳ)

Theo phương pháp tập hợp chi phí và mối quan hệ giữa chi phí sản xuất với

đối tượng chịu chi phí theo phương pháp tập hợp chi phí sản xuất chia làm hai loại:



– Chi phí trực tiếp: Là khoản chi phí sản xuất có quan hệ trực tiếp đến việc sản

xuất ra một loại sản phẩm, dịch vụ nhất định. Trong q trình ghi nhận kế tốn dựa

vào số liệu của chứng từ kế toán để ghi trực tiếp cho những đối tượng chịu chi phí.

– Chi phí gián tiếp: Là những khoản chi phí gián tiếp có liên quan đến nhiều

loại sản phẩm, dịch vụ. Căn cứ vào chứng từ cụ thể kế toán phải tập hợp chung sau

đó tiến hành phân bổ cho các đối tượng có liên quan theo một hệ thống chỉ tiêu nhất

định.

1.1.3. Khái niệm, phương pháp xác định kết quả kinh doanh

1.1.3.1. Khái niệm kết quả kinh doanh

Theo TT200/2014/TT-BTC thì: “ Kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh là số

chênh lệch giữa doanh thu thuần và trị giá vốn hàng bán (gồm cả sản phẩm, hàng

hóa, bất động sản đầu tư và dịch vụ, giá thành sản xuất của sản phẩm xây lắp, chi

phí liên quan đến hoạt động kinh doanh bất động sản đầu tư, như: Chi phí khấu hao,

chi phí sửa chữa, nâng cấp, chi phí cho thuê hoạt động, chi phí thanh lý, nhượng bán

bất động sản đầu tư), chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp”.

Theo Giáo Trình Ngun lý kế tốn (2012) của Trường Đại Học Thương

mại cho rằng: “ Kết quả kinh doanh là phần chênh lệch giữa doanh thu, thu nhập và

chi phí của doanh nghiệp sau một thời kỳ hoạt động kinh doanh nhất định. Kết quả

kinh doanh là lãi nếu doanh thu lớn hơn chi phí và ngược lại kết quả kinh doanh là

lỗ nếu doanh thu nhỏ hơn chi phí ”.

Như vậy, kết quả kinh doanh là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả sản

xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất nói chung và ngành may

mặc nói riêng phản ánh thành quả lao động do doanh nghiệp tạo ra mang lại lợi ích

kinh tế cho doanh nghiệp trong 1 kỳ kế toán. Kết quả kinh doanh bao gồm: Kết quả

hoạt động sản xuất kinh doanh, kết quả hoạt động tài chính và kết quả hoạt động

khác:

- Kết quả hoạt động SXKD: Là số chênh lệch giữa doanh thu thuần và giá trị

giá vốn hàng bán chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp.



- Kết quả hoạt động tài chính: Là khoản chênh lệch giữa lợi nhuận gộp và doanh

thu hoạt động tài chính với chi phí tài chính, chi phí bán hàng và chi phí QLDN.

- Kết quả khác: Là kết quả từ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh không thường

xuyên hoặc doanh nghiệp không dự kiến trước được như: Thanh lý, nhượng bán

TSCĐ...

- Kết quả kinh doanh trước thuế thu nhập doanh nghiệp: Là toàn bộ kết quả

kinh doanh của doanh nghiệp trước khi tính thuế TNDN được xác định từ kết quả

hoạt động kinh doanh và kết quả hoạt động khác.

Như vậy, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là mục tiêu cuối cùng mà

doanh nghiệp cũng như các nhà đẩu tư muốn hướng đến. Bởi các thông tin của kết

quả kinh doanh trên BCTC có tầm ảnh hưởng rất lớn đối với việc ra quyết định của

các nhà quản trị. Và kết quả kinh doanh là những gì mà doanh nghiệp đạt được sau

một quả trình sản xuất kinh doanh nó phản ánh được trình độ sử dụng các nguồn

lực của doanh nghiệp để đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội.

1.1.3.2. Phương pháp xác định kết quả kinh doanh

Kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh chính là kết quả hoạt

động kinh doanh của doanh nghiệp, hay nói cách khác kết quả kinh doanh là kết quả

thu được từ việc sản suất kinh doanh mua bán hàng hóa diễn ra trong kỳ. Có nhiều

cách xác định kết quả kinh doanh. Mỗi một công ty áp dụng chế độ kế toán khác

nhau sẽ cho kết quả xác định kinh doanh khác nhau, và kết quả kinh doanh phải

được lập trên cơ sở số liệu của doanh thu và chi phí phát sinh trong kỳ kế toán. Biểu

hiện của kết quả kinh doanh là số lãi (hoặc số lỗ) và kết quả kinh doanh của doanh

nghiệp được xác định theo công thức sau:

Kết quả hoạt động SXKD = Lợi nhuận gộp + Doanh thu tài chính – Chi

phí tài chính – Chi phí bán hàng – Chi phí quản lý doanh nghiệp.

Trong đó:

+ Lợi nhuận gộp về BH& CCDV = Doanh thu thuần – Giá vốn hàng bán

+ Kế quả kinh doanh trước thuế = Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả hoạt động khác



+ Kết quả kinh doanh sau thuế = Kết quả kinh doanh trước thuế - Chi phí

thuế thu nhập doanh nghiệp

+ Kết quả hoạt động khác = Thu nhập khác – Chi phí khác

+ Chi phí thuế TNDNHH = Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế * Thuế suất

quy định hiện hành (thuế suất hiện hành trong năm 2016 là 20%).

1.2. Kế tốn doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh theo chuẩn mực kế

toán và chế độ kế toán Việt nam hiện hành

1.2.1. Kế toán doanh thu

1.2.1.1. Kế toán doanh thu theo chuẩn mực kế toán Việt Nam



 Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 “Chuẩn mực chung”

- Doanh thu và thu nhập khác:“ Là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh

nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh

thông thường và các hoạt động khác của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ

khơng bao gồm khoản góp vốn của cổ đơng hoặc chủ sở hữu”.

- Cách ghi nhận doanh thu và thu nhập khác:

Doanh thu và thu nhập khác được ghi nhận trong Báo cáo kết quả hoạt động

kinh doanh khi thu được lợi ích về kinh tế trong tương lai có liên quan tới sự gia

tăng về tài sản hoặc giảm bớt nợ phải trả và giá trị gia tăng đó phải xác định được

một cách đáng tin cậy.

Trong chuẩn mực chung “ Chuẩn mực kế toán số 01” cũng đề cập tới các nguyên

tăc kế toán chi phối đến kế toán doanh thu mà người làm kế toán phải tuân thủ:

 Nguyên tắc cơ sở dồn tích

Nghĩa là mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài

sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế tốn

vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi

tiền hoặc tương đương tiền. Báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích phản ảnh tình

hình tài chính của doanh nghiệp trong q khứ, hiện tại và tương lai.

Ví dụ: Doanh nghiệp bán hàng cho khách hàng với tổng giá thanh toán là

200.000.000 đồng, khách hàng chuyển khoản trả cho doanh nghiệp 50.000.000



đồng, số còn lại nợ. Theo nguyên tắc cơ sở dồn tích doanh thu ghi nhận ngay tại

thời điểm phát sinh nghĩa là khi khách hàng chấp nhận mua, không phân biệt đã

thu tiền hay chưa, giá trị phản ánh trên tài khoản doanh thu là 200.000.000 đồng

(thu tiền 50.000.000 đồng và khoản khách hàng nợ 150.000.000 đồng).

Dựa trên nguyên tắc cơ sở dồn tích giúp cho việc ghi nhận và phản ánh các tài

sản không nằm trong doanh nghiệp nhưng thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp

như các khoản nợ chưa thanh toán là các khoản phải thu khách hàng, hay các khoản

vốn chiếm dụng của các tổ chức, cá nhân bên ngoài đơn vị là khoản nợ phải trả.

Cách hạch toán kế toán trên cơ sở kế toán dồn tích cho phép theo dõi các giao dịch

kéo dài qua các kỳ khác nhau, như nợ phải thu, nợ phải trả, khấu hao, dự phòng..

 Nguyên tắc giá gốc

Tài sản phải được ghi nhận theo giá gốc. Giá gốc của tài sản được tính theo số

tiền hoặc khoản tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc tính theo giá trị hợp lý của tài

sản đó vào thời điểm tài sản được ghi nhận. Giá gốc của tài sản không được thay

đổi trừ khi có quy định khác trong chuẩn mực kế tốn cụ thể.

Ví dụ: Ngày 1/1/2016 doanh nghiệp mua 1 chiếc ô tô chở hàng trị giá là 850

triệu đồng giá chưa thuế, thuế là 10%. Như vậy, chi phí đăng ký là 25 triệu đồng.

Doanh nghiệp tính giá theo PPKT. Vậy giá gốc của tài sản là 850 + 25 = 875 triệu

đồng. Đến 01/03/2016 trên thị trường giá chiếc xe trên lên giá là 950 triệu đồng.

Vậy giá ghi nhận vẫn là giá tại thời điểm mua là 875 triệu đồng, không phụ thuộc

vào giá thị trường.

 Nguyên tắc phù hợp

Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau. Có nghĩa là khi ghi

nhận một khoản doanh thu phát sinh trong kỳ thì kế tốn cũng phải ghi nhận một

khoản chi phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu khoản chi phí này

phải được ghi nhận trên cơ sở đáng tin cậy. Chi phí tương ứng với doanh thu gồm

chi phí của kỳ tạo ra doanh thu và chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả

nhưng phải liên quan đến doanh thu của kỳ đó mới được phép ghi nhận.



Ví dụ: Trong doanh nghiệp may mặc có kế tốn ghi nhận doanh thu bán hàng

trong tháng vậy chi phí để thu được doanh thu bán hàng trong tháng đó chính là chi

phí bán hàng như tiền lương của bộ phận bán hàng, phí cước vận chuyển...

 Nguyên tắc thận trọng

Có nghĩa là khi một nghiệp vụ kinh tế phát sinh mà trong điều kiện không

chắc chắn. Lúc này nguyên tắc thận trọng đặt ra đó là:

Doanh nghiệp nên lập các khoản dự phòng theo quy định không nên lập cao

hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập, hay thấp hơn giá trị của các khoản

nợ phải trả và chi phí.

Doanh thu chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn và khả năng thu

được lợi ích về kinh tế, còn chi phí được ghi nhận khi có đầy đủ bằng chứng về các

khoản chi phí phát sinh. Việc trích lập dự phòng sẽ đảm bảo tính phù hợp giữa

doanh thu và chi phí thực tế, giúp cho doanh nghiệp bảo tồn được về vốn giảm bớt

tổn thất có thể xảy ra.

Ví dụ: Khi kế toán ghi nhận doanh thu HĐTC từ các khoản tiền lãi không kỳ

hạn bằng chứng để ghi nhận doanh thu là phiếu tính lãi và sổ phụ tại ngân hàng

Khi ghi nhận chi phí như tiền điện nước, bằng chứng để ghi nhận chi phí là

giấy thơng báo đóng tiền điện nước hàng tháng của Sở Điện Lực.

Ngồi ra, doanh thu, chi phí và KQKD trong doanh nghiệp sản xuất nói chung

và ngành may mặc nói riêng cần phải tuân thủ các nguyên tắc khác nữa như:

Nguyên tắc hoạt động liên tục, nguyên tắc nhất quán và nguyên tắc trong yếu.

Theo Chuẩn mực số 14 “ Doanh thu và thu nhập khác” là quy định và hướng

dẫn các nguyên tắc và phương pháp kế toán doanh thu và thu nhập khác gồm: Các

loại doanh thu, thời điểm ghi nhận doanh thu, phương pháp kế toán doanh thu và

thu nhập khác làm cơ sở ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính.

Về cách xác định doanh thu

- Doanh thu của doanh nghiệp được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản

đã thu hoặc sẽ thu được.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x