Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ - 0trang

8

CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. NHTM và nguồn vốn của NHTM

1.1.1. Khái niệm và hoạt động cơ bản của NHTM

1.1.1.1. Khái niệm NHTM

Ngân hàng thương mại đã hình thành, tồn tại và phát triển hàng trăm năm.

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, hệ thống NHTM cũng ngày càng

được hoàn thiện, phát triển và trở thành những định chế tài chính khơng thể thiếu

trong nền kinh tế bởi vai trò quan trọng của nó đối với nền kinh tế nói chung và đối

với từng cộng đồng, từng địa phương nói riêng. Sự phát triển hệ thống ngân hàng

thương mại (NHTM) đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển

của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai

đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hồn thiện

và ngày càng khẳng định vai trò huyết mạch trong nên kinh tế của mỗi quốc gia.

Mặc dù NHTM là một loại hình tổ chức đã có q trình phát triển lâu dài,

nhưng đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về NHTM? Thông thường, để

đưa ra được một khái niệm về NHTM, người ta thường phải dựa vào tính chất và

mục đích hoạt động của nó trên thị trường tài chính và đơi khi còn kết hợp tính chất,

mục đích và đối tượng hoạt động. Xuất phát từ đặc điểm trên, nhiều quốc gia trên

thế giới đã đưa ra những khái niệm khác nhau về NHTM.

Ở Mỹ: NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài

chính và hoạt động trong ngành cơng nghiệp dịch vụ tài chính.

Ở Pháp, năm 1941: NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp

thường xuyên là nhận tiền bạc của cơng chúng dưới hình thức ký thác và sử dụng

tài ngun đó do chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính.

Ở Ấn Độ, năm 1959: NHTM là cơ sở nhận các khoản ký thác để cho vay, tài

trợ và đầu tư.

Ở Đan Mạch, năm 1930: Những nhà băng thiết yếu gồm các nghiệp vụ ký

thác, buôn bán vàng bạc, hành nghề thương mại và hành nghề địa ốc, các phương

tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân, đứng ra bảo hiểm,…

Ở Việt Nam, tại Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 năm

2010 quy định như sau: “NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các

hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo theo quy định của luật

TCTD nhằm mục tiêu lợi nhuận”.

Từ các khái niệm trên chúng ta có thể rút ra một số nhận xét sau: NHTM là



9

một doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh tiền tệ, và mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận.

Hay nói cách khác, NHTM là một tổ chức trung gian tài chính làm cầu nối giữa khu

vực tiết kiệm với khu vực đầu tư của nền kinh tế; với nghiệp vụ cơ bản là huy động

vốn, cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, thanh toán. Đây cũng là nơi cung cấp các dịch

vụ tài chính đa dạng nhất nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ tài

chính của xã hội. Với vai trò là huyết mạch của nền kinh tế, NHTM là một công cụ

quan trọng được nhà nước sử dụng để quản lý vĩ mô nhằm điều tiết nền kinh tế phát

triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

1.1.1.2. Hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường

Cùng với sự phát triển đa dạng các nghiệp vụ kinh doanh, ngân hàng ngày

càng thực hiện nhiều vai trò mới để có thể duy trì khả năng cạnh tranh và đáp ứng

nhu cầu của xã hội. Các ngân hàng ngày càng có những vai trò vơ cùng quan trọng

trong nền kinh tế, chúng ta có thể kể đến các hoạt động cơ bản sau:

a) Hoạt động huy động vốn

- Nhận tiền gửi tiết kiệm của cá nhân và tiền gửi có kỳ hạn của tổ chức.

Ngân hàng là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết mọi nền kinh

tế. Hàng triệu cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế xã hội

đều gửi tiền tại ngân hàng nhằm mục tiêu đảm bảo an toàn và sinh lời. Ngân hàng

mở dịch vụ nhận tiền gửi để bảo quản hộ người có tiền với cam kết hồn trả đúng

hạn. Trong cuộc cạnh tranh để tìm và giành được các khoản tiền gửi, các ngân

hàng đã trả lãi cho tiền gửi như là phần thưởng cho khách hàng về việc sẵn sàng hi sinh

nhu cầu tiêu dùng trước mắt và cho phép ngân hàng sử dụng tạm thời để kinh doanh.

Ngân hàng cung cấp dịch vụ giữ tiền một cách thuận lợi thông qua hệ thống

mạng lưới dày đặc, giúp khách hàng có thể gửi tiền vào ngân hàng mọi lúc, mọi

nơi với chi phí thấp nhất. Nhiều tiện ích được kết nối với tài khoản tiền gửi, cho

phép khách hàng có thể sử dụng tiền thuận tiện.

Ngân hàng cung cấp dịch vụ giữ tiền một cách an tồn do ngân hàng có két

tốt, được kiểm soát chặt chẽ nhằm đảm bảo khả năng chi trả và tham gia bảo hiểm

tiền gửi.

Ngân hàng cung cấp dịch vụ giữ tiền có trả lãi. Chi phí trả lãi tiền gửi là

khoản chi phí rất lớn của ngân hàng và là thu nhập quan trọng của nhiều hộ gia đình.

- Cung cấp tài khoản giao dịch và thực hiện ủy thác

Ngân hàng mở tài khoản tiền gửi giao dịch cho mọi tổ chức và cá nhân có



10

nhu cầu. Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng không chỉ bảo quản

mà còn thực hiện các lệnh của khách hàng trên phạm vi quốc gia hoặc toàn cầu

như chi hộ, thu hộ, chuyển tiền, quản lý hộ,…

Ngân hàng cung cấp các tiện ích trong thanh tốn thơng qua mở rộng mạng

lưới, kết nối hệ thống thanh toán trong và ngồi nước, áp dụng cơng nghệ hiện đại,

… Các tiện ích của thanh tốn qua ngân hàng (an tồn, nhanh chóng, chính xác,

tiết kiệm chi phí) đã góp phần rút ngắn thời gian kinh doanh và nâng cao thu nhập

cho khách hàng.

b) Hoạt động sử dụng vốn

- Cho vay thương mại

Cho vay thương mại là các khoản cho vay ngắn hạn, tài trợ cho tài sản lưu

động của doanh nghiệp (thường dưới 12 tháng). Ngay ở thời kỳ đầu, các ngân

hàng đã chiết khấu thương hiệu mà thực tế là cho vay đối với những người bán

(người bán chuyển các khoản phải thu cho ngân hàng để lấy tiền trước). Sau đó

ngân hàng mở rộng cho vay trực tiếp đối với các khách hàng (là người mua), giúp

hộ có vốn để mua hàng dự trữ nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh.

- Tài trợ cho dự án

Bên cạnh cho vay ngắn hạn, các ngân hàng ngày càng trở nên năng động

trong việc tài trợ trung dài hạn theo các dự án của doanh nghiệp (thường trên 12

tháng): cho vay để mua sắm tài sản cố định, tài trợ xây dựng nhà máy, phát triển

ngành công nghệ cao. Một số ngân hàng còn cho vay để đầu tư vào đât, phát triển

khu công nghiệp, khu chế xuất, giao thông.

- Cho vay tiêu dùng

Ngân hàng cho vay tiêu dùng (chủ yếu là trung và dài hạn) để mua nhà và

các tài sản lâu bền, trang trải chi phí học tập, du lịch,…

Trong giai đoạn đầu, hầu hết các ngân hàng khơng tích cực cho vay tiêu dùng

vì tin rằng các khoản cho vay tiêu dùng rủi ro vỡ nợ tương đối cao. Sự gia tăng thu

nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh trong cho vay với các hãng bán lẻ đã

hướng các ngân hàng tới người tiêu dùng như là một khách hàng tiềm năng. Sau

chiến tranh thế giới lần thứ hai, tín dụng tiêu dùng đã trở thành một trong những

loại hình tín dụng tăng trưởng nhanh nhất ở các nước có nền kinh tế phát triển.

- Tài trợ các hoạt động của chính phủ

Khả năng huy động và cho vay với khối lượng lớn của ngân hàng đã trở

thành trọng tâm chú ý của chính phủ. Do nhu cầu chi tiêu lớn và thường là cấp



11

bách trong khi thu khơng đủ, hoặc chưa kịp, chính phủ các nước đều muốn tiếp

cận với các khoản cho vay của ngân hàng. Ngày nay, chính phủ giành quyền cấp

phép hoạt động và kiểm soát các ngân hàng. Một số quốc gia quy định các ngân

hàng được cấp giấy phép thành lập với điều kiện là họ phải cam kết thực hiện với

mức độ nào đó các chính sách của chính phủ và tài trợ cho chính phủ. Các ngân

hàng thường mua trái phiếu chính phủ theo một tỷ lệ nhất định trên tổng lượng

tiền gửi mà ngân hàng huy động được.

Ngân hàng được hưởng lợi từ tài trợ cho chính phủ. Trái phiếu chính phủ có

độ an tồn cao, có thể cầm cố hoặc chiết khấu tại ngân hàng trung ương. Do vậy

các ngân hàng mua trái phiếu chính phủ nhằm mục tiêu tăng thu nhập và an toàn

thanh khoản.

- Bảo lãnh

Bảo lãnh của ngân hàng là cam kết của ngân hàng đối với người thụ hưởng

về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính nếu khách hàng của ngân hàng không thực

hiện/hoặc thực hiện không đầy đủ như cam kết. Do khả năng thanh toán của ngân

hàng cho một khách hàng rất lớn và do ngân hàng nắm giữ tiền gửi của các khách

hàng, nên ngân hàng có uy tín trong bảo lãnh cho khách hàng. Trong những năm

gần đây, dịch vụ bảo lãnh ngày càng đa dạng và phát triển mạnh. Ngân hàng

thường bảo lãnh cho khách hàng của mình mua chịu hàng hóa và trang thiết bị,

phát hành chứng khốn, vay vốn của tổ chức tín dụng khác,…

- Cho thuê tài chính (Leasing)

Cho thuê tài chính (thuê mua) là việc ngân hàng mua thiết bị và cho khách

hàng thuê với thời gian sao cho tiền thuê thu được phải bù đắp được chi phí và có

lãi cho ngân hàng. Khách hàng có quyền mua lại tài sản thuê.

Cho thuê của ngân hàng được xếp vào tín dụng trung và dài hạn. Ngân hàng

thường thành lập bộ phận cho thuê hoặc công ty cho thuê độc lập. Ngân hàng cũng

kết nối với các hàng sản xuất để đảm bảo chất lượng tài sản cho thuê.

c) Hoạt động trung gian

- Mua bán ngoại tệ

Một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên là trao đổi (mua bán) ngoại tệ.

Ngân hàng có thể mua bán ngoại tệ cho khách hàng: mua bán một loại tiền này lấy

một loại tiền khác và hưởng chênh lệch giá mua bán. Dịch vụ này đáp ứng nhu

cầu của khách hàng trong xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, vay và trả nợ nước

ngồi, thậm chí cả nhu cầu tích trữ ngoại tệ của dân chúng.



12

- Bảo quản tài sản hộ

Các ngân hàng thực hiện việc giữ vàng và các giấy tờ có giá và các tài sản

khác cho khách hàng trong két (vì vậy còn gọi là dịch vụ cho thuê két). Ngân hàng

thường giữ hộ những tài sản tài chính, giấy tờ cầm cố, hoặc những giấy tờ quan

trọng khác của khách với tiện ích an tồn, bí mật, thuận tiện. Dịch vụ này phát

triển cùng với nhiều dịch vụ khách như mua bán hộ các giấy tờ có giá cho khách,

thanh tốn hộ lãi hoặc cổ tức,…

- Quản lý ngân quỹ

Các ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền của phần lớn các doanh nghiệp và cá

nhân. Nhờ đó, ngân hàng thường có mối liên hệ chặt chẽ với nhiều khách hàng.

Do có kinh nghiệm trong quản lý ngân quỹ và khả năng trong việc thu ngân, nhiều

ngân hàng đã cung cấp cho khách dịch vụ quản lý ngân quỹ, quản lý việc thu chi

cho khách hàng và tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các

chứng khoán sinh lợi và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để

thanh toán.

Quản lý ngân quỹ gắn với tiền gửi của doanh nghiệp và cá nhân, giúp giảm

thời gian và chi phí của khách hàng, tăng thu nhập cho khách hàng từ kinh doanh

ngân quỹ, đảm bảo ngân quỹ tối ưu.

- Cung cấp dịch vụ ủy thác và tư vấn

Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính các ngân hàng có rất nhiều chun gia

về quản lý tài chính. Vì vậy, nhiều cá nhân và doanh nghiệp đã nhờ ngân hàng

quản lý tài sản và quản lý hoạt độn tài chính hộ. Dịch vụ ủy thác bao gồm ủy thác

vay hộ, ủy thác cho vay hộ, ủy thác phát hành, ủy thác đầu tư,… Thậm chí, các

ngân hàng đóng vai trò là người được ủy thác trong di chúc, quản lý tài sản cho

khách hàng đã qua đời, bảo quản các tài sản có giá. Nhiều khách hàng còn coi

ngân hàng như một chuyên gia tư vấn tài chính. Ngân hàng sẵn sàng tư vấn về đầu

tư, về quản lý tài chính, về thành lập, mua bán, sáp nhập doanh nghiệp,…

- Cung cấp dịch vụ môi giới chứng khoán

Nhiều ngân hàng đang cung cấp củ các dịch vụ tài chính cho phép khách

hàng thỏa mãn mọi nhu cầu. Đây là một trong những lý do chính khiến các ngân

hàng bắt đầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ

hội mua cổ phiếu, trái phiếu với chi phí thấp. Trong nhiều trường hợp, các ngân

hàng tổ chức ra công ty chứng khốn hoặc cơng ty mơi giới chứng khốn để cung

cấp dịch vụ mơi giới.



13

Với đội ngũ phân tích chứng khốn chuyên nghiệp, công nghệ hiện đại, hoạt

động môi giới kết hợp với tư vấn, hỗ trợ tài chính tạo tiện ích rất lớn cho nhà đầu

tư, đặc biệt là nhà đầu tư cá nhân.

- Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm

Thông qua tổ chức công ty bảo hiểm con hoặc liên kết với công ty bảo hiểm

ngân hàng cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho khách hàng, như bảo hiểm tài sản, bảo

hiểm tín dụng. Ngân hàng cung cấp dịch vụ tiết kiệm gắn với bảo hiểm như tiết

kiệm an sinh, tiết kiệm hưu trí,…

Ngân hàng đã bán bảo hiểm cho khách hàng, điều đó bảo đảm việc hồn trả

trong trường hợp khách hàng bị chết, bị tàn phế hay gặp rủi ro trong hoạt động,

mất khả năng thanh toán,…

- Cung cấp các dịch vụ đại lý

Nhiều ngân hàng trong q trình hoạt động khơng thể thiết lập chi nhánh

hoặc văn phòng ở khắp mọi nơi. Nhiều ngân hàng (thường ngân hàng lớn) cung

cấp dịch vụ ngân hàng đại lý cho các ngân hàng khác như thanh toán hộ, phát

hành hộ các chứng chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ,…

1.1.2. Vốn của NHTM

Vốn là khối lượng tiền mà các ngân hàng thương mại huy động được để có thể

sử dụng vào mục đích cho vay, đầu tư và hoạt động dịch vụ khác của NH.

Thực chất, vốn của ngân hàng là một bộ phận của thu nhập quốc dân tạm thời

nhàn rỗi trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng, người sở hữu chúng gửi

vào Ngân hàng với mục đích thanh tốn, tiết kiệm hay đầu tư. Nói cách khác, họ

chuyển quyền sử dụng vốn cho Ngân hàng để nhận lại một khoản thu nhập.

Vốn của ngân hàng cũng có thể thuộc quyền sở hữu của chủ ngân hàng hoặc

có thể vay từ bên ngồi. Vốn của ngân hàng có quan hệ mật thiết với tất cả các chủ

thể liên quan tới ngân hàng, đặc biệt là khách hàng và nhà đầu tư. Vì vậy vốn của

NHTM được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm:

a. Vốn chủ sở hữu

Vốn chủ sở hữu là số vốn thuộc quyền sở hữu của NHTM, đó là nguồn tiền

được đóng góp chủ yếu bởi các chủ sở hữu và các quỹ trong quá trình kinh doanh

thể hiện dưới dạng lợi nhuận để lại, bao gồm:

- Vốn hình thành ban đầu: Nếu ngân hàng thuộc sở hữu Nhà nước, ngân sách

Nhà nước cấp. Nếu ngân hàng cổ phần, các cổ đơng đóng góp thơng qua mua cổ

phần hoặc cổ phiếu. Ngân hàng liên doanh do các bên đóng góp; ngân hàng tư nhân



14

là vốn thuộc sở hữu tư nhân.

- Vốn bổ sung trong quá trình hoạt động: Gồm nguồn từ lợi nhuận để lại và

nguồn bổ sung từ phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm để mở rộng quy mô

hoạt động, đổi mới trang thiết bị hoặc để đáp ứng nhu cầu gia tăng vốn.

- Các quỹ: quỹ dự phòng tổn thất, quỹ bảo toàn vốn và nhiều quỹ khác tuỳ

theo quy định của từng nước.

b. Vốn huy động

- Nguồn tiền gửi

+ Tiền gửi thanh toán: Đây là tiền của doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi vào

ngân hàng để nhờ ngân hàng giữ và thanh tốn hộ.

+ Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội: Đây là loại tiền gửi

có sự thỏa thuận về thời gian rút.

+ Tiền gửi tiết kiệm của dân cư: Các tầng lớp dân cư đều có các khoản thu

nhập tạm thời chưa sử dụng (các khoản tiền tiết kiệm). Trong điều kiện có khả năng

tiếp cận được với Ngân hàng, họ có thể gửi tiết kiệm nhằm thực hiện mục tiêu an

toàn và sinh lời đối với các khoản tiền tiết kiệm, đặc biệt là nhu cầu an toàn.

+Tiền gửi của các ngân hàng khác: Nhằm mục đích nhờ thanh tốn hộ và một

số mục đích khác mà NHTM này có thể gửi tiền ở tại ngân hàng khác. Tuy nhiên

quy mô của nguồn tiền gửi này là thường không lớn.

- Nguồn tiền vay

+ Vay Ngân hàng nhà nước (NHNN): Trong trường hợp thiếu hụt dự trữ,

NHTM thường vay NHNN. Hình thức cho vay chủ yếu của NHNN là tái chiết

khấu. Khi cần tiền, NHTM đem thương phiếu lên tái chiết khấu tại NHNN.

+ Vay các tổ chức tín dụng khác: Đây là nghiệp vụ các ngân hàng vay mượn

lẫn nhau và vay các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngân hàng.

+ Vay trên thị trường vốn: Các NHTM cũng vay mượn bằng cách phát hành

các giấy nợ trên thị trường vốn.

c. Các loại vốn huy động khác

- Vốn uỷ thác: NHTM thực hiện các dịch vụ uỷ thác như uỷ thác cho vay,

uỷ thác đầu tư, uỷ thác cấp phát… Các hoạt động này tạo nên nguồn uỷ thác

trong các NHTM.

- Vốn trong thanh toán: Các hoạt động thanh toán khơng dùng tiền mặt có thể hình

thành nguồn trong thanh tốn (séc trong q trình chi trả, tiền ký quỹ để mở L/C…)

- Vốn khác: Các khoản nợ khác như thuế chưa nộp, lương chưa trả …



15

1.2. Hoạt động huy động vốn của NHTM

1.2.1. Khái niệm về hoạt động huy động vốn của NHTM

Hoạt động huy động vốn là một trong những hoạt động kinh doanh chính của

NHTM, đóng vai trò là đầu vào cho việc kinh doanh của các NHTM. Trong nền

kinh tế luôn tồn tại những người thừa vốn và những người thiếu vốn. NHTM thực

hiện vai trò tập trung nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế và chuyển đến các nhà

đầu tư có nhu cầu về vốn để phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh. Qua đó góp

phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Hay nói cách khác hoạt động huy động vốn là

nghiệp vụ thu hút nguồn vốn nhàn rỗi của các cá nhân, tổ chức kinh tế, xã hội bằng

nhiều hình thức khác nhau để hình thành nên nguồn vốn hoạt động của ngân hàng.

Có rất nhiều cách tiếp cận về huy động vốn của NHTM:

Khái niệm huy động vốn được đề cập trong “Giáo trình Ngân hàng thương

mại” của PGS.TS Phan Thị Thu Hà (2013) như sau: “Hoạt động huy động vốn gồm

các nội dung chủ yếu như: xác lập mục tiêu, xây dựng chính sách và quy trình huy

động, tổ chức thực hiện các nghiệp vụ, kiểm tra, kiểm soát và đánh giá kết quả huy

động”. Theo quan điểm này, khái niệm huy động vốn được tiếp cận theo các cơng

việc cụ thể của q trình huy động vốn tại các ngân hàng thương mại.

Cách tiếp cận thông thường nhất hiện nay trong các nghiên cứu của các sách

chuyên ngành kinh tế, tài chính ngân hàng là tiếp cận khái niệm huy động vốn từ

nguồn gốc của các nguồn vốn. Chẳng hạn, nguồn vốn huy động được chia thành

tiền gửi khơng kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm (GS.TS. Nguyễn Văn

Tiến, 2009). Chính vì vậy, hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại chưa

được định nghĩa rõ ràng về bản chất của hoạt động.

Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả xin khái quát khái niệm

huy động vốn như sau: Hoạt động huy động vốn của các ngân hàng thương mại là

hoạt động mà trong đó các ngân hàng này sử dụng các công cụ, biện pháp theo quy

định của pháp luật để tìm kiếm và thu hút nguồn vốn nhàn rỗi từ các chủ thể khác

nhằm phục vụ mục đích kinh doanh của mình.

1.2.2. Vai trò của hoạt động huy động vốn của NHTM

* Đối với nền kinh tế

Sẽ là khơng tưởng khi nói tới việc đổi mới, phát triển kinh tế lại khơng có vốn

hay thiếu vốn. Vốn thực sự có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế. Vốn có thể

huy động qua nhiều kênh khác nhau, tuy nhiên có 3 kênh chủ yếu là: Kênh ngân

sách Nhà nước, qua thị trường chứng khoán, qua các tổ chức tài chính trung gian.

Đối với các nước có nền tài chính phát triển, thị trường vốn mở rộng thì huy

động vốn qua các kênh này khơng gặp nhiều khó khăn. Ngược lại, đối với các nước



16

đang phát triển như Việt Nam khi mà thị trường tài chính còn nhỏ hẹp, thu ngân

sách khơng đủ tiêu dùng thì nghiệp vụ huy động vốn của các NHTM chính là kênh

có hiệu quả cao nhất, thoả mãn tốt nhất nhu cầu về vốn cho sự phát triển kinh tế xã hội.

Do vậy, hoạt động huy động vốn đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát

triển của nền kinh tế, cung cấp vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo điều

kiện cho sự tăng trưởng và phát triển của mọi ngành, nghề, mọi lĩnh vực kinh tế.

* Đối với Ngân hàng thương mại

Nghiệp vụ huy động vốn là một nghiệp vụ rất quan trọng, góp phần mang lại

nguồn vốn cho ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh. Khơng có nghiệp vụ

huy động vốn xem như khơng có hoạt động của NHTM, NHTM sẽ không đủ nguồn

vốn tài trợ cho mọi hoạt động của mình. Hay nói cách khác, thơng qua hoạt động

huy động vốn NHTM có thể đo lường được uy tín và sự tín nhiệm của khách hàng

đối với ngân hàng. Từ đó, ngân hàng có những biện pháp khơng ngừng hồn thiện

mọi hoạt động của mình để giữ vững và mở rộng quan hệ với khách hàng. Có thể

nói, nghiệp vụ huy động vốn góp phần giải quyết “đầu vào” của ngân hàng.

* Đối với khách hàng

Nghiệp vụ huy động vốn cung cấp cho khách hàng một kênh tiết kiệm và đầu

tư nhằm làm cho tiền của họ sinh lợi, tạo cơ hội cho họ có thể gia tăng tiêu dùng

trong tương lai. Nghiệp vụ huy động vốn còn cung cấp cho khách hàng một nơi an

tồn để cất trữ và tích lũy nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi. Mặt khác, nghiệp vụ huy

động vốn giúp cho khách hàng có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ khác của ngân

hàng như dịch vụ thanh tốn qua ngân hàng, dịch vụ tín dụng khi khách hàng cần

vốn cho sản xuất, kinh doanh hoặc cần tiền cho tiêu dùng. Vì vậy nghiệp vụ huy

động vốn có ý nghĩa rất lớn không chỉ với ngân hàng mà còn rất quan trọng với

khách hàng.

1.2.3 Các hình thức huy động vốn của NHTM

Huy động vốn của NHTM được thực hiện qua việc nhận tiền gửi của các tổ

chức, cá nhân, hoặc từ các hoạt động thanh toán, phát hành các chứng từ có giá…

để phục vụ cho các hoạt động cho vay, đầu tư… của ngân hàng. Nhằm không ngừng

tăng quy mô huy động và mở rộng đầu tư kiếm lời, các NHTM ln tìm cách đa

dạng hóa các hình thức huy động vốn của mình, cụ thể có các hình thức sau:

a/ Mở tài khoản tiền gửi



17

Một ngân hàng khi bắt đầu hoạt động kinh doanh, nghiệp vụ đầu tiên là mở

các tài khoản tiền gửi cho khách hàng, bằng cách đó ngân hàng huy động tiền của

các doanh nghiệp, tổ chức và dân cư. Các tài khoản tiền gửi ở đây bao gồm: tài

khoản tiền gửi thanh toán, tài khoản tiền gửi ký quỹ, tài khoản tiền gửi giữ hộ…

Đây là loại hình tiền gửi khơng kỳ hạn được sử dụng với mục đích chủ yếu là thực

hiện các giao dịch thanh toán qua ngân hàng bằng các phương tiện thanh toán như:

Séc lĩnh tiền mặt, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, chuyển tiền điện tử… Khi khách

hàng sử dụng loại tiền gửi này khách hàng sẽ được sử dụng các tiện ích như: chuyển

tiền, thanh tốn, các giao dịch qua hệ thống máy ATM, dịch vụ SMS Banking, nạp

tiền điện thoại di động, giao dịch qua Internet Banking, Mobile Banking,…Lãi suất

áp dụng đối với loại tiền gửi này là lãi suất không kỳ hạn, tức các ngân hàng bỏ ra

chi phí thấp nhất. Vốn huy động từ các tài khoản tiền gửi này là những giá trị tiền tệ

mà khách hàng gửi vào ngân hàng nhưng có thể rút ra bất cứ lúc nào và ngân hàng

phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu này của người gửi tiền. Do vậy nó là nguồn vốn biến

động nhiều nhất mà ngân hàng khó có thể dự đốn cả về quy mô lẫn kỳ hạn gửi

tiền của khách hàng.

b/ Nhận tiền gửi tiết kiệm

Tiền gửi tiết kiệm là loại tiền gửi của các tầng lớp dân cư trong xã hội với mục

đích tích luỹ và hưởng lãi. Tiền gửi tiết kiệm chia thành hai loại là tiết kiệm có kỳ

hạn và tiết kiệm không kỳ hạn. Đây là sản phẩm huy động truyền thống với các

hình thức phong phú và kỳ hạn đa dạng nên tiền gửi tiết kiệm rất phù hợp với dân

cư, đáp ứng được nhu cầu người gửi, khả năng huy động của ngân hàng từ nguồn

vốn này là rất tiềm năng. Tuy nhiên ngân hàng cần chú ý đến chính sách lãi suất huy

động, nghiên cứu để đưa ra các hình thức huy động hấp dẫn, phù hợp với tính đa

dạng phong phú và phức tạp của đối tượng dân cư.



18

c/ Phát hành giấy tờ có giá

Để tăng nguồn vốn huy động của mình, các NHTM thường triển khai các đợt

phát hành giấy tờ có giá như: chứng chỉ huy động. Đây là sản phẩm huy động dài

hạn với thời gian gửi trên 5 năm, lãi suất cao rất hấp dẫn và được điều chỉnh mỗi

năm một lần trong thời gian gửi. Ngoài ra, khi tham gia sản phẩm này, KH cũng

được hưởng thêm các ưu đãi như: Sau 12 tháng kể từ khi gửi tiền, KH được vay

cầm cố ưu đãi với lãi suất vay bằng lãi suất gửi tiết kiệm. Lợi thế của sản phẩm này

là lãi suất cạnh tranh so với các ngân hàng bạn, giúp chi nhánh giữ được hệ KH tiền

gửi và đồng thời góp phần ổn định số dư huy động dài hạn của mình.

1.2.4. Phân loại vốn huy động của NHTM

Quá trình huy động vốn ở các ngân hàng hầu như đều giống nhau, nhưng để

phân loại các hình thức huy động vốn thì lại khác nhau. Điều này còn phụ thuộc vào

các tiêu chí được lựa chọn để phân loại. Cụ thể:

1.2.4.1. Phân loại theo thời gian huy động vốn

a. Huy động vốn ngắn hạn

Là hình thức huy động có thời hạn dưới 12 tháng. Quy mơ của tiền gửi ngắn

hạn chiếm chủ yếu trong cơ cấu huy động tiền gửi của NHTM thông qua các nghiệp

vụ nhận tiền gửi ngắn hạn, tiền gửi thanh toán… Phần lớn số này được dùng để cho

vay ngắn hạn (dưới 12 tháng). Lãi suất huy động thấp và luôn chiếm tỷ trọng khá

cao trong tổng nguồn vốn huy động.

b. Huy động vốn trung hạn

Là hình thức huy động có thời hạn từ 12 tháng đến 60 tháng. Lãi suất huy

động nguồn này thường cao hơn ngắn hạn. Nguồn huy động trung hạn rất quan

trọng và cần thiết để ngân hàng thực hiện các hoạt động đầu tư ổn định, thay đổi

công nghệ và cho các doanh nghiệp vay trung, dài hạn với lãi suất cao.

c. Huy động tiền gửi dài hạn

Đây là hoạt động huy động vốn dài hạn của Ngân hàng, có tính ổn định cao

(từ 60 tháng trở lên). Lãi suất mà ngân hàng phải trả là rất cao (cao hơn trung hạn

và ngắn hạn). Thực tế nguồn vốn huy động dài hạn chiếm tỷ trọng nhỏ vì lãi suất

huy động tiền gửi luôn biến động và khách hàng luôn lựa chọn gửi tiền ngắn hạn để

rút được linh hoạt hơn. Ở Việt Nam huy động tiền gửi trung và dài hạn chiếm tỷ

trọng rất ít, thậm chí khơng có kỳ hạn huy động dài hạn.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×