Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

Tải bản đầy đủ - 0trang

1.4 Các phụ cấp hiện nay đang áp dụng trong các bệnh viện công

Hiện nay nhà nước đang áp dụng 14 loại phụ cấp trong khu vực công. Hiều được rằng

ngành y tế là một ngành đặc thù, với điều kiện làm việc căng thẳng, nguy cơ tiếp xúc với

nhiều mầm bệnh có nguy cơ lây nhiễm cao nên Nhà nước đã có những quan tâm nhất

định đối với ngành y, thể hiện phần nào qua các loại phụ cấp đặc thù ngành. Đối với

ngành y tế, trong các bệnh viện cơng hiện nay, có một số những phụ cấp được quy định

chung và được thực hiện giống như các đối tượng khác trong khu vực công, như là: phụ

cấp phục vụ, phụ cấp chức vụ, phụ cấp kiêm nhiệm nhiệm vụ, phụ cấp khu vực, phụ cấp

thu hút, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp trách nhiệm công việc, phụ cấp độc hại

nguy hiểm, chế độ trả lương làm việc vào ban đêm, làm thêm giờ… Ngoài ra, để bù đắp

cho những hao phí lao động đặc thù trong ngành y tế, nhà nước đã bổ sung thêm những

phụ cấp riêng đối với ngành y như: phụ cấp ưu đãi theo nghề, phụ cấp thường trực 24/24,

phụ cấp phẫu thuật thủ thuật, phụ cấp chống dịch… Ngoài ra, một số chế độ phụ cấp mà

ngành y chưa được hưởng là: phụ cấp thâm niên nghề, phụ cấp trách nhiệm theo nghề,

phụ cấp quốc phòng an ninh.

PHẦN 2: THỰC TRẠNG VIỆC ÁP DỤNG CÁC CHẾ ĐỘ PHỤ CẤP LƯƠNG

TRONG NGÀNH Y TẾ HIỆN NAY

2.1 Các chế độ phụ cấp chung hiện nay đang áp dụng trong ngành y tế

2.1.1. Phụ cấp chức vụ lãnh đạo

Phụ cấp chức vụ lãnh đạo được áp dụng cho công chức, viên chức được bổ nhiệm giữ

chức danh lãnh đạo trong các bệnh viện cơng từ Trung ương đến cấp huyện được cấp có

thẩm quyền quyết định thành lập.

Đối với ngành y tế, phụ cấp chức vụ lãnh đạo sẽ được trả theo xếp hạng đơn vị, được

quy định tại mục D Phần II Thông tư số 23/2005/TT-BYT ngày 25/8/2005 của Bộ Y tế về

hướng dẫn xếp hạng các đơn vị sự nghiệp y tế như sau:

Biểu 1: Phụ cấp chức vụ lãnh đạo theo xếp hạng đơn vị



5



TT



Chức danh lãnh đạo



Đơn vị

hạng

đặc biệt



Đơn vị

hạng I



Đơn vị Đơn vị Đơn vị

hạng II hạng III hạng IV



1



Giám đốc, Viện trưởng



1,1



1,0



0,8



0,7



0,6



2



Phó Giám đốc, Phó Viện

trưởng



0,9



0,8



0,6



0,5



0,4



3



Trưởng Khoa, Phòng và các

chức vụ tương đương



0,7



0,6



0,5



0,4



0,3



4



Trưởng Khoa, Phòng; Y tá

trưởng, Kỹ thuật viên trưởng,

Nữ hộ sinh trưởng khoa và

các chức vụ tương đương



0,6



0,5



0,4



0,3



0,2



5



Trưởng trạm y tế



0,2



6



Phó Trưởng trạm y tế



0,15



Căn cứ xếp hạng bệnh viện được đánh giá dựa trên các nhóm tiêu chuẩn: vị trí, chức

năng và nhiệm vụ; quy mô và nội dung hoạt động; cơ cấu lao động và trình độ cán bộ;

khả năng chun mơn, hiệu quả chất lượng công việc và cơ sở hạ tầng, trang thiết bị… đã

đảm bảo được tính cơng bằng trong phụ cấp, thể hiện được việc tính tốn mức độ hao phí

lao động khác nhau khi nắm giữ những chức vụ lãnh đạo khác nhau và ở các cơ quan

khác nhau trong cùng ngành y tế

2.1.2. Phụ cấp khu vực

Đối với ngành y phụ cấp khu vực được áp dụng cho các CBYT làm việc tại các cơ sở

y tế xã, phường, thị trấn nơi có yếu tố tự nhiên khơng thuận lợi, xa xơi, hẻo lánh, đi lại

khó khăn điều kiện sinh hoạt thiếu thốn, ảnh hưởng đến đời sống vật chất và tinh thần.



6



Hệ số phụ cấp khu vực được quy định gồm 7 mức: 0,1; 0,2; 0,3; 0,4; 0,5; 0,7 và 1,0 so

với mức l ương tối thiểu chung; mức 1,0 chỉ áp dụng đối với những hải đảo đặc biệt khó

khăn, gian khổ như quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa. Mức tiền phụ cấp khu

vực được tính theo cơng thức sau:

Mức tiền phụ cấp khu vực



=



Hệ số phụ cấp khu vực



x Mức lương tối thiểu chung



Tuy nhiên, với mức lương tối thiểu chung như hiện nay, phụ cấp khu vực chưa thể thể

hiện được hết vai trò của mình. Dẫn tới sự chênh lệch về số lượng, chất lượng và sự phân

bố cán bộ y tế giữa các vùng, miền thiếu đồng đều. Những cán bộ có trình độ chun

mơn cao thường tập trung tại các thành phố lớn. Tỷ lệ cán bộ y tế ở tuyến xã và huyện

vừa ít về số lượng, vừa hạn chế về trình độ chun mơn, nghiệp vụ. Trong khi Đảng và

Nhà nước ln khẳng định vai trò của đặc biệt của hệ thống y tế cơ sở thì thực tế những

chính sách phụ cấp đối với cán bộ ở tuyến này hiện nay là chưa thỏa đáng, đời sống của

CBYT tuyến cơ sở còn khó khăn chính là nguyên nhân cho sự mất cân bằng kể trên. Nếu

có thể điều chỉnh tăng hệ số phụ cấp khu vực bên cạnh những ưu đãi khác có thể sẽ phần

nào giải quyết được tình trạng này.

2.1.3 Phụ cấp đặc biệt

Phụ cấp đặc biệt được áp dụng cho CBYT đang làm việc ở các cơ sở y tế trên địa bàn

hải đảo xa đất liền và vùng biên giới có điều kiện sinh hoạt đặc biệt khó khăn.

Phụ cấp đặc biệt được tính bằng tỷ lệ % so với mức lương hiện hưởng cộng với phụ

cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có).

Phụ cấp gồm 3 mức: 30%; 50% và 100% . Mức phụ cấp tùy theo khu vực làm việc và

được quy định cụ thể trong phụ lục kèm theo Thông tư số 09/2005/TT-BNV ngày

05/01/2005 của Bộ Nội vụ.



Cơng thức tính



7



Phụ cấp đặc biệt =



Mức lương hiện hưởng +PC



X Tỷ lệ % được hưởng



chức vụ lãnh đạo + PC thâm

niên vượt khung (nếu có)

Cùng với phụ cấp khu vực, phụ cấp đặc biệt sẽ góp phần bù đắp tốt hơn cho những

CBYT phải công tác ở những bệnh viện công miền núi, hải đảo hoặc vùng biên giới.

2.1.4 Phụ cấp thu hút

Phụ cấp thu hút nhằm khuyến khích CBYT đến làm việc ở những vùng kinh tế mới,cơ

ở kinh tế và đảo xa đất liền có điều kiện sinh hoạt đặc biệt khó khăn như xa xơi,hẻo

lánh,xa khu dân cư,chưa có mạng lưới giao thơng ,đi lại khó khăn, chưa có hệ thống điện

nước sinh hoạt, nhà ở thiếu thốn....

Phụ cấp gồm 4 mức: 20%; 30%; 50% và 70% mức lương hiện hưởng cộng phụ cấp

chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có).

Cơng thức tính phụ cấp thu hút:

Mức tiền phụ cấp thu hút = Mức lượng tối thiểu chung x Hệ số lương theo chức

vụ,ngạch,bậc hoặc cấp hàm hiện hưởng + hệ số phụ cấp chức vụ lãnh đạo (nếu có) + %

(quy theo hệ số) phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) x 70%

Các mức hưởng phụ cấp thu hút có thể nói là khá cao, tuy nhiên, phụ cấp thu hút được

quy định hiện nay chỉ áp dụng đối với những vùng đặc biệt khó khăn được quy định tại

Điều 1 Nghị định 116/2010/NĐ-CP. Trong khi đó, thực tế là các CBYT, đặc biệt là các

CBYT có tay nghề cao đều mong muốn làm việc ở những bệnh viện trung ương và tình

trạng thiếu nhân lực ở các cơ sở y tế cấp tỉnh, huyện, xã càng ngày càng gia tăng. Lấy ví

dụ điển hình, theo báo cáo của Sở Y tế tỉnh Thanh Hóa, trong năm 2016 Thanh Hóa có

7,6 bác sĩ/vạn dân; theo đó, cả tỉnh còn thiếu khoảng 1.150 bác sĩ [1,1]. Thiết nghĩ, phạm

vi áp dụng của phụ cấp thu hút trong ngành y cần được mở rộng, cùng với sự nâng cấp

các trang thiết bị khám chữa bệnh tại các bệnh viện ở các tỉnh, huyện xã, để có thể thu

hút được CBYT từ tuyến trên xuống tuyến dưới. Điều này không những làm giảm áp lực

cho các bệnh viện trung ương mà còn giúp cho người dân có cơ hội khám chữa bệnh tại

những cơ sở y tế cơng gần hơn, giảm bớt chi phí khám chữa bệnh.



8



2.1.5 Phụ cấp trách nhiệm công việc

Hiện nay theo thông tư số 05/2005/TT-BNV về Hướng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp

trách nhiệm công việc đối với cán bộ, công chức, viên chức thì phụ cấp trách nhiệm đang

được thực hiện trong các cơ sở y tế với 4 mức: 0,5 0,3 0,2 0,1 Với mức lương cơ bản hiện

hành là 1.210.000 đồng thì mức hưởng phụ cấp trách nhiệm cơng việc hiện nay được thể

hiện trong bảng sau:

Biểu 2: Mức hưởng phụ cấp trách nhiệm công việc trong ngành y tế hiện nay ( với

mức lương cơ bản vào 4/2017) Đvt: Đồng



Hệ số



Đối tượng



Mức hưởng



0,5



Cán bộ, công chức, viên chức thuộc biên chế trả lương của các

phòng Bảo vệ sức khoẻ Trung ương 2, Bảo vệ sức khoẻ Trung

ương 3, Bảo vệ sức khoẻ Trung ương 5 thuộc Bệnh viện Hữu

nghị và phòng Bảo vệ sức khoẻ cán bộ Trung ương phía Nam

thuộc Bệnh viện Thống nhất



605.000



0,3



Cán bộ, viên chức thuộc biên chế trả lương của các khoa, bộ

phận hồi sức cấp cứu và trực tiếp phục vụ cấp cứu bệnh nhân tại

trạm cấp cứu 05



363.000



0,2



Cán bộ, viên chức thuộc biên chế trả lương của các trại điều

dưỡng thương binh nặng, bệnh viện điều trị, trại nuôi dưỡng

người tâm thần, bệnh phong;



242.000



0,1



Cán bộ, viên chức y tế chuyên trách đỡ đẻ ở các trạm, bệnh

viện, viện phụ sản, các khoa sản ở bệnh viện đa khoa và ở trung

tâm y tế;



121.000



Cán bộ, viên chức y tế trực tiếp làm kiểm nghiệm thuốc



9



Đối với những cơng việc đòi hỏi tinh thần trách nhiệm cao, mức phụ cấp giao động từ

121.000 đến 605.000 trong thời điểm hiện nay có thể nói là chỉ ở mức khuyến khích,

động viên chứ chưa thể hiện được vai trò bù đắp những hao phí về thể lực, tinh thần,

những khó khăn trong cơng việc cho NLĐ trong ngành y tế với những công việc đặc biệt

nêu trên.

2.1.6 Phụ cấp lưu động

Đối với các cơ sở y tế công, phụ cấp lưu động là chế độ thay cho cơng tác phí.

Cách tính phụ cấp:

Phụ



Mức



Hệ số phụ cấp lưu



Số ngày thực tế lưu động



cấp



lương tối



động



trong tháng



lưu



thiểu



động



=



chung



x

x

Số ngày làm việc theo chế độ

1 tháng



Đối với ngành y tế, theo Thông tư 19/LB-TT Thông tư liên bộ của liên bộ lao độngthương binh và xã hội- tài chính – y tế hướng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp trách nhiệm,

phụ cấp lưu động, phụ cấp độc hại nguy hiểm trong ngành y tế thì phụ cấp lưu động được

quy định như sau:



Mức 1, hệ số 0,6 ( hiện nay tương ứng với 726.000) áp dụng:

- Những người làm việc trong các tổ điều tra, sưu tầm dược liệu quý, hiếm ở các miền

núi cao, biên giới, hải đảo, nơi xa xôi hẻo lánh.

Mức 2, hệ số 0,4 áp dụng:

- Những người làm cơng tác phòng chống dịch bệnh, vệ sinh phòng dịch, sinh đẻ có kế

hoạch, sốt rét, bướu cổ ở miền núi, vùng cao, vùng sâu, nơi xa xôi hẻo lánh.



10



- Những người thường xuyên tăng cường đi tuyến cơ sở để khám, chữa bệnh và chăm

sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân thuộc địa bàn xã, thôn, bản ở miền núi, vùng cao,

vùng sâu, xa xôi hẻo lánh;

Mức 3, hệ số 0,2 áp dụng:

- Những người làm cơng tác phòng chống dịch bệnh, vệ sịnh phòng dịch, sinh đẻ có kế

hoạch, sốt rét, bướu cổ ở vùng trung du.

Với mức phụ cấp lưu động hiện nay mà CBYT trong khu vực công hiện hưởng như

vậy thay cho cơng tác phí, dễ nhận ra rằng nó khơng phản ánh được tính chất lưu động

khó khăn, vất vả của họ. Cách tính trả phụ cấp như trên quá cứng nhắc và thiếu tính linh

hoạt, chưa tính đến các chi phí lưu trú và sinh hoạt trong q trình cơng tác lưu động của

CBYT

2.1.7. Phụ cấp độc hại, nguy hiểm

Ngành y tế là một trong những ngành có điều kiện lao động nặng nhọc - độc hai nguy

hiểm

Đối với ngành y tế, theo Thông tư 19/LB-TT Thông tư liên bộ của liên bộ lao độngthương binh và xã hội- tài chính – y tế hướng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp trách nhiệm,

phụ cấp lưu động, phụ cấp độc hại nguy hiểm trong ngành y tế thì phụ cấp độc hại, nguy

hiểm được quy định các mức hưởng như sau:



Mức 1, hệ số 0,4 áp dụng đối với những người:

- Trực tiếp điều trị, phục hồi chức năng và phục vụ bệnh nhân phong (hủi), kể cả làm

các xét nghiệm Hansen;

- Chiếu chụp điện quang;

- Mổ xác, giải phẩu pháp y và bảo quản trông nom xác;

- Dùng các chất phóng xạ Radium. Cobal để khám chữa bệnh.



11



- Trực tiếp phục vụ bệnh nhân tâm thần ở các bệnh viện chuyên khoa và các khoa tâm

thần ở các bệnh viện đa khoa (kể cả phục vụ thương binh và bệnh binh tâm thần ở các

khu điều trị, điều dưỡng thương binh, bệnh binh);

- Trực tiếp phục vụ bệnh nhân mắc bệnh SIDA, bệnh dại, bệnh truyền nhiễm, bệnh lao

ở các bệnh viện, viện chuyên khoa, các khoa truyền nhiễm và khoa lao ở các bệnh viện

đa khoa;

- Thường xuyên chuyên trách làm công tác kiểm nghiệm độc chất pháp.

Mức 2, hệ số 0,3 áp dụng đối với những người:

- Giải phẩu bệnh lý;

- Trực tiếp làm xét nghiệm vi sinh (vi rút, vi trùng);

- Chiết xuất dược liệu độc bảng A;

- Thường xuyên sử dụng các hoá chất độc mạnh mà trong môi trường làm việc vượt

qua tiêu chuẩn quy định như sau:

+ Axít sufuric (H2SO4) vượt quá đậm độ 0,01 mg/lít khơng khí;

+ Benzol vượt q đậm độ 0,05 mg/lít khơng khí;

+ Toluen vượt q đậm độ 0,10 mg/lít khơng khí;

+ Xynol vượt q đậm độ 0,10 mg/lít khơng khí.

- Sản xuất các chấp hấp thụ dùng cho phân tích sắc ký như silicazen các ống chuẩn độ

dung dịch mẹ.

Mức 3, hệ số 0,2 áp dụng đối với những người:

- Trực tiếp chăm sóc, điều trị bệnh nhân ung thư hở có mùi hơi thối ở các bệnh viện

chuyên khoa hoặc khoa ung thư của bệnh viện đa khoa;



12



- Trực tiếp khám, chữa bệnh, phục vụ bệnh nhân da liễu (giang mai, lậu, sùi mào gà,

trùng roi, nấm mốc, hạ cam, ghẻ);

- Trực tiếp điều trị, chăm sóc bệnh nhân liệt do chấn thương cột sống, suất huyết não,

viêm màng não lao, viêm màng não mủ, viêm tuỷ;

- Trực tiếp chăm sóc, điều trị bệnh nhân sau mổ (trong 48 giờ) thuộc ca mổ loại I, II,

bệnh nhân bỏng từ độ II trở lên và có diện tích bỏng 8% đối với trẻ em và 15% đối với

người lớn;

- Trực tiếp giữ giống, chủng loại vi sinh vật, ký sinh trùng trên động vật và chăn nuôi

súc vật đã tiêm cấy vi trùng gây bệnh;

- Trực tiếp phục vụ vệ sinh buồng bệnh và giặt quần áo bệnh nhân;

- Sử dụng máy có dòng điện cao tần để điều trị bệnh nhân;

- Thường xuyên làm công tác vệ sinh phòng dịch, chống sốt rét phải tiếp xúc với mơi

trường phân, nước thải, rác, hơi khí độc;

- Rửa chai, lọ, dụng cụ thí nghiệm có hố chất độc, vi sinh vật gây bệnh (phải dùng

hoá chất độc để xử lý sát trùng);

- Làm xét nghiệm sinh hoá, huyết học, ký sinh trùng;

- Pha chế thuốc độc bảng A và thủ kho hoá chất;

- Pha chế huyết thanh, vacxin trong phòng kín và hấp sấy tiệt trùng các dụng cụ, trang

thiết bị.

Mức 4, hệ số 0,1 áp dụng đối với những người:

- Trực tiếp phục vụ bệnh nhân thận nhân tạo;

- Trực tiếp chữa răng và làm hàm răng giả;



13



- Làm việc trong buồng tối, thiếu ánh sáng và không khí như buồng rửa phim, buồng

làm thị trường;

- Gián tiếp phục vụ bệnh nhân tâm thần, lao, truyền nhiễm, phong.

Điều kiện làm việc nêu trên đều là những môi trường làm việc độc hại, nguy hiểm, các

CBYT phải tiếp xúc với nhiều mầm bệnh và các yếu tố gây ra bệnh nghề nghiệp. Với

điều kiện làm việc như vậy, CBYT khơng chỉ có nguy cơ cao mắc bệnh nghề nghiệp mà

còn có nguy cơ cao lây nhiễm các bệnh nguy hiểm, thậm chí có thể gây tử vong. Tuy

nhiên, với mức hưởng phụ cấp độc hại nguy hiểm như trên, không thể nào bù đắp được

hết những rủi ro, nguy hiểm mà họ phải đối mặt trong quá trình làm việc. Mức phụ cấp

này có thể nói là một thiệt thòi và thiếu sót lớn đối với các cán bộ CBYT.

2.2 Các chế độ phụ cấp đặc thù nghề hiện nay đang áp dụng đối với ngành y tế

2.2.1. Phụ cấp ưu đãi theo nghề

Phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với ngành y là phụ cấp đặc biệt áp dụng đối với những

đối tượng công chức, viên chức, cán bộ y tế xã, phường, thị trấn (đang làm việc theo chế

độ hợp đồng theo Quyết định số 58/TTg ngày 03 tháng 02 năm 1994 của Thủ tướng

Chính phủ quy định một số vấn đề về tổ chức và chế độ chính sách đối với y tế cơ sở)

trực tiếp làm chuyên môn y tế; công chức, viên chức làm công tác quản lý, phục vụ

không trực tiếp làm chuyên môn y tế tại các chuyên khoa HIV/AIDS, phong, lao, tâm

thần, giải phẫu bệnh lý, pháp y (sau đây gọi chung là công chức, viên chức) trong các cơ

sở sự nghiệp y tế công lập.

Phụ cấp ưu đãi theo nghề được tính theo tỷ lệ phần trăm (sau đây viết là %) trên mức

lương ngạch, bậc hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt

khung (nếu có) của đối tượng được hưởng.

Mức phụ cấp ưu đãi:

Mức phụ cấp 70% áp dụng đối với công chức, viên chức thường xuyên, trực tiếp làm

các công việc: Xét nghiệm, khám, điều trị, chăm sóc người bệnh HIV/AIDS, phong, lao,

tâm thần; Giám định pháp y, pháp y tâm thần, giải phẫu bệnh lý.

Mức phụ cấp 60% áp dụng đối với công chức, viên chức thường xuyên, trực tiếp làm

các cơng việc :Khám, điều trị, chăm sóc người bệnh cấp cứu, hồi sức cấp cứu, cấp cứu



14



115, truyền nhiễm; Xét nghiệm, phòng chống bệnh truyền nhiễm; Kiểm dịch y tế biên

giới.

Mức phụ cấp 50% áp dụng đối với công chức, viên chức thường xuyên, trực tiếp

khám, điều trị, chăm sóc, phục vụ người bệnh gây mê hồi sức, điều trị tích cực, nhi,

chống độc, bỏng và da liễu.

Mức phụ cấp 40% áp dụng đối với công chức, viên chức thường xun, trực tiếp làm

chun mơn y tế dự phòng; xét nghiệm; khám bệnh, chữa bệnh; kiểm sốt nhiễm khuẩn,

chăm sóc người bệnh, phục hồi chức năng; giám định y khoa; y dược cổ truyền; dược,

mỹ phẩm; an toàn vệ sinh thực phẩm, trang thiết bị y tế; sức khỏe sinh sản tại các cơ sở

sự nghiệp y tế công lập và tại các cơ sở điều dưỡng thương binh, bệnh binh, người khuyết

tật đặc biệt.

Mức phụ cấp 30% áp dụng đối với: Công chức, viên chức thường xuyên, trực tiếp làm

chuyên môn y tế để thực hiện các công việc: truyền thông giáo dục sức khỏe; dân số - kế

hoạch hóa gia đình; Cơng chức, viên chức quản lý, phục vụ không trực tiếp làm chuyên

môn y tế tại các cơ sở, viện, bệnh viện chuyên khoa, các trung tâm: HIV/AIDS, phong,

lao, tâm thần, giải phẫu bệnh lý, pháp y.

Đối với công chức, viên chức không trực tiếp làm chuyên môn y tế; công chức, viên

chức y tế làm công tác quản lý, phục vụ tại các đơn vị sự nghiệp y tế nói chung (trừ đối

tượng quy định tại điểm b khoản 5 Điều này), viên chức làm công tác chuyên môn y tế tại

cơ quan, đơn vị, trường học thì thủ trưởng đơn vị căn cứ vào đặc thù công việc và nguồn

thu để xem xét, quyết định nhưng không vượt quá mức 20% so với mức lương ngạch, bậc

hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) của

đối tượng được hưởng.

Phụ cấp ưu đãi đã thể hiện được sự quan tâm đặc biệt của nhà nước và xã hội đối với

ngành y tế. Tuy nhiên, chỉ dựa vào lương và các khoản phụ cấp lương, thu nhập của

CBYT ở bệnh viện công so với một số ngành nghề khác, đặc biệt ở khu vực tư nhân, thì

thu nhập của các CBYT kể cả những người có trình độ cao và thâm niên nhiều năm công

tác sẽ thấp hơn rất nhiều, mặc dù hao phí lao động, đặc biệt là chất xám bỏ ra khơng ít.

Theo kết quả nghiên cứu khoa học cấp Bộ về “Thực trạng nhận thức và thực hành y đức

trong nhân viên y tế ở ba tuyến huyện, tỉnh, TW” [13] đã cho thấy, có hơn 54% bác sỹ có

thu nhập dưới 2 triệu đồng/tháng, và từ đó cho đến nay, chính sách lương và phụ cấp đối

với lĩnh vực Y tế khơng có nhiều thay đối. Điều đó cho thấy rằng phụ cấp ưu đãi chưa

đóng vai trò lớn trong tăng sức cạnh tranh của ngành Y tế so với các ngành nghề, lĩnh vực

khác. Hiện nay, theo số liệu thống kê mới nhất của tổng cục thống kê vào năm 2015 thì tỉ

lệ bác sĩ trên 1 vạn dân ở nước ta là 8 bác sĩ/ 1 vạn dân [14] . Để đạt được mục tiêu 10

bác sĩ/ 1 vạn dân của bộ Y tế đến năm 2020 và để tránh nguy cơ thiếu trầm trọng CBYT



15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×