Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phân bố của các loài theo sinh cảnh:

Phân bố của các loài theo sinh cảnh:

Tải bản đầy đủ - 0trang

NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM



Thành phần lồi cơn trùng ở đây nghèo nàn, thường gặp một số loài bướm

thuộc họ Bướm cải (Pieridae), Bướm tro (Lycaenidae), một số loài Cánh cứng ăn lá

(Chrysomelidae), một số loài thuộc bộ Cánh thẳng (Orthoptera), v.v...

+ Sinh cảnh khu dân cư:

Thuộc sinh cảnh này gồm các thơn, xóm sống tập trung ở những nơi đất cao

mà xung quanh có các cánh đồng trồng nơng nghiệp. Thường mỗi hộ gia đình đều

có một mảnh vườn, có thể có ao hồ nhỏ để thả cá.

Tóm lại: Hệ động thực vật trên cạn thuộc khu vực dự án bao gồm các giống loài

sau:

+ Hệ thực vật: 249 loài, 78 họ, 174 chi thuộc 3 ngành thực vật: Thông đất, Dương xỉ

và Mộc lan.

+ Hệ động vật:

- Về thú:



11 loài thuộc 7 họ và 3 bộ.



- Về chim:



54 lồi thuộc 31 họ và 10 bộ.



- Về Bò sát-ếch nhái: 24 loài thuộc 11 họ và 3 bộ.

- Cơn trùng:



144 lồi thuộc 63 họ và 12 bộ



Thảm thực vật có 3 dạng chiếm chủ yếu là:

- Dạng thảm thực vật các lồi cây trồng trên đất nơng nghiệp:

- Dạng thảm thực vật các loài cây trồng và cây tự nhiên vùng đất ngập nước vùng

ven biển:

- Dạng thảm thực vật các loài cây trồng cho hoa quả, thực phẩm và tiêu dùng đời

sống hàng ngày tại các khu dân cư :

Các dạng sinh cảnh tương ứng với 3 dạng thảm thực vật nói trên gồm:

+ Dạng sinh cảnh đồng ruộng trồng lúa và hoa màu: Đây là dạng sinh cảnh

chiếm chủ yếu trong khu dự án

Thú: có 9 loài thú, chiếm 82 % tổng số loài trong khu vực dự án.

Chim: Số loài phân bố ở sinh cảnh này 47 lồi, chiếm 87% tổng số lồi ghi

nhận được.

Bò sát, ếch nhái: có 19 lồi, chiếm 79,2% tổng số lồi.

Cơn trùng: có 115 lồi, chiếm 79,86% tổng số lồi.

+ Sinh cảnh đất ngập nước ven biển:

Thú: Có 3 lồi, chiếm 27 % tổng số loài phân bố ở sinh cảnh này. Chim: Đây

Báo cáo ĐTM Dự án xây dựng đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng



72



NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM



là sinh cảnh có địa hình đơn điệu nhất trong khu vực dự án, cũng có thể do vậy mà

gặp ít lồi chim nhất trong các dạng sinh cảnh của 3 hệ sinh thái: 34 loài, chiếm

62% tổng số lồi.

Bò sát, ếch nhái: Có 14 lồi, chiếm 58,4% tổng số loài phân bố ở dạng sinh cảnh

rừng trồng gò đồi xen lẫn đồng ruộng.

Cơn trùng: Có 18 lồi, chiếm 12,5% tổng số loài.

+ Sinh cảnh khu dân cư:

Thú: gồm 10 loài, chiếm 91 %, chiếm 67 % tổng số lồi, tập trung chiếm ưu

thế các lồi trong nhóm chuột, dơi.

Chim: số lượng loài chim tương đối phong phú, cụ thể có 45 lồi chim chiếm

83,3 % tổng số lồi ghi nhận được tại khu vực dự án.

Bò sát, ếch nhái: Có 16 lồi, chiếm 67% tổng số lồi phân bố ở dạng sinh

cảnh khu dân cư .

Côn trùng: Có 68 lồi, chiếm 47,22,5% tổng số lồi.

Khu vực tuyến dự án khơng có các lồi động vật thực vật nào q hiếm và

các lồi nằm trong sách đỏ hay đang được bảo tồn.

2) Hệ sinh thái thuỷ sinh

Hệ thực vật nổi



Theo kết quả khảo sát tại các điểm thuộc địa phận dự án, đã xác định được 32 loài

thực vật nổi thuộc các ngành tảo silíc, tảo lam, tảo lục và tảo mắt. Tập hợp các dẫn

liệu, cùng với kết quả khảo sát danh sách 89 loài thực vật nổi có trong các thuỷ vực

thuộc địa phận tuyến đường đi được đưa ra (Danh lụcVI). Trong thành phần thực

vật nổi, có thể dễ dàng nhận thấy các nhóm lồi nước lợ ven bờ thuộc các chi tảo

silíc như Coscinodiscus, Chaetoceros, Biddulphia, Skeletonema tại các thuỷ vực bị

ảnh hưởng của thuỷ triều có độ muối trên 3% o như sơng Tam Bạc. Ngoài ra, các

loài thực vật nổi nước ngọt phân bố rộng rãi tại hầu hết các thuỷ vực nước đứng

dạng hồ ao.

Kết quả phân tích mẫu thực vật nổi (TVN) sơ bộ đã xác định được trên 80

loài thực vật nổi thuộc 17 họ của các ngành tảo silic (Bacillariophyta), tảo lục

(Chlorophyta), tảo Lam (Cyanophyta) và tảo mắt (Euglenophyta). Số lượng các loài

thực vật nổi xác định được có thể còn thấp hơn so với thực tế. Các loài thực vật nổi

là các loài nhiệt đới phân bố rộng.

Mật độ thực vật nổi nhìn chung thấp, từ trên 9.000 đến xấp xỉ 30.000

tb/l.Trong đó, kênh dẫn nước thải Cầu Tre có mật độ thực vật nổi cao nhất, thấp

nhất là sông Dế.

Báo cáo ĐTM Dự án xây dựng đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng



73



NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM



Trong thành phần mật độ số lượng thực vật nổi, điều rõ ràng là tại các thuỷ

vực tiếp nhận nước thải như kênh Cầu tre, hồ Tam bạc, các lồi thuộc nhóm tảo mắt

chỉ thị cho thuỷ vực bị ô nhiễm hữu cơ thuộc các chi Euglena, Phacus phát triển.

Hệ động vật nổi

Khu vực Hải Phòng

Qua kết quả phân tích vật mẫu thu được trong đợt khảo sát tháng 10/2005, đã

xác định 11 lồi, thuộc 6 nhóm trong động vật nổi thuộc các nhóm: Trùng bánh xe,

râu ngành, chân mái chèo, ấu trùng côn trùng hai cánh Diptera, tôm con, cá con,

giun. Tập hợp các dẫn liệu, danh sách 43 loài động vật nổi các thuỷ vực thuộc địa

phận dự án đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng được đưa ra (Danh lục VII). Trong

thành phần động vật nổi, có một số lồi đại diện cho nhóm sinh thái nước lợ ven

biển như các loài chân mái chèo Acartia sinensis, Sinocalanus laevidactylus. Các

loài khác là những loài nước ngọt thích ứng muối rộng như Mongolodiaptomus

formosanus, Thermocyclops, Diaphanosoma sarsi, Moina dubia, Moinodaphnia

macleayi.

Nhìn chung, các lồi có nguồn gốc nước lợ thường thấy trong các sơng, các

lồi nước ngọt phân bố chủ yếu trong các thuỷ vực nước tĩnh dạng hồ ao. Đặc biệt,

nhóm trùng bánh xe tập trung ở hầu hết các kênh dẫn nước thải và hồ ao.

Khu vực Hải Dương

Mật độ động vật nổi (ĐVN) sông Bắc Hưng Hải (sông đào nhỏ ở đồng bằng

Bắc Bộ) dao động từ 8.000 - 38.000 con/m3, thành phần chủ yếu là giáp xác phù du

(73%). Sơng Châu có mật độ lớn hơn 52.100 - 123.600 con/m 3, trùng bánh xe chiếm

ưu thế. Về động vật đáy, mật độ và sinh khối khá cao. Ở sông Bắc Hưng Hải, về

mùa hè sinh vật lượng trung bình 683 con/m 2, với sinh khối 8,7 g/m2, sinh khối

trong mùa đông cao hơn, trung bình 9,3 g/m 2, thành phần chủ yếu là Amphipoda,

Isopoda và hến (Corbicula). Mật độ động vật đáy ở sông kinh Thầy đạt 913 c/m 2,

sinh khối 3,078 g/m2, giáp xác chiếm hơn 90% số cá thể.

Kết quả khảo sát sơng Thái Bình khu vực thành phố Hải Dương trong năm

2005 cho thấy mật độ động vật nổi dao động từ trên 90 c/m3 đến trên 1.600 c/m3.

Trong đó, chiếm ưu thế là Copepoda (trên 70% số lượng).

Kết quả phân tích vật mẫu thu thập đã xác định được khoảng 45 loài động vật

nổi thuộc 13 họ của các nhóm giáp xác chân chèo (Copepoda), giáp xác râu ngành

(Cladocera), trùng bánh xe (Rotatoria), giáp xác 2 mảnh vỏ (Ostracoda). Số lượng

các lồi ĐVN xác định được trong vùng có thể còn thấp hơn so với thực tế. Tuy

nhiên, số liệu này cũng đã phản ánh được mức độ phong phú và đa dạng về thành

phần loài của các loài ĐVN.

Báo cáo ĐTM Dự án xây dựng đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng



74



NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM



Về mật độ ĐVN, giữa các loại hình thủy vực sơng, hồ, kênh rạch chênh lệch

không nhiều. Tại một số ao thả cá, số lượng trùng bánh xe lên đến 96.500 con/m 3.

Tại các thủy vực này, người dân thường nuôi cá bằng các chất thải hữu cơ và các

loại chất thải sinh hoạt khác khiến cho thủy vực bị ô nhiễm nặng về chất hữu cơ

(Alpha-mesosaprobic, tương ứng với chỉ số đa dạng D=1,7).

Tại hai điểm khảo sát kênh tưới nước và kênh tiêu nước đồng ruộng, mật độ

ĐVN có thay đổi theo xu hướng tăng lên do nguồn nước thải ra từ đồng ruộng có

thành phần hữu cơ cao hơn so với nguồn nước vào. Tuy nhiên, chỉ số đa dạng (D)

thay đổi không đáng kể chứng tỏ nồng độ các chất hữu cơ trong nguồn nước thải ra

vẫn nằm trong giới hạn chịu đựng của các loài ĐVN, nguồn nước này chưa bị ơ

nhiễm các chất hữu cơ.

Nhìn chung, các dạng thủy vực khảo sát khá phong phú về thành phần loài,

ổn định về mật độ số lượng, chỉ số đa dạng (D) khá cao. Tuy nhiên, còn tồn tại một

số thủy vực như ao, hồ thả cá có dấu hiệu của hiện tượng phì dưỡng, ơ nhiễm hữu

cơ do nước thải sinh hoạt và chế độ cung cấp thức ăn cho cá khơng hợp lý, ngồi ra,

hiện tượng chăn nuôi vịt trong vùng cũng ảnh hưởng phần nào tới chất lượng nước

mặt của các thủy vực nước đứng. Tại các thủy vực này khơng có hiện tượng giao

lưu nguồn nước với sông, suối nên chất thải hữu cơ của vịt có thể trở thành một

nguồn gây ơ nhiễm.

Hệ động vật đáy

Qua các vị trí khảo sát tại các thuỷ vực thuộc địa phận dự án đường cao tốc

Hà Nội-Hải Phòng và vùng phụ cận đã xác định được 20 lồi động vật đáy thuộc

các nhóm ấu trùng cơn trùng, giun ít tơ, tơm cua, trai ốc. Các lồi tơm càng giống

Macrobrachyum thấy ở các sơng, hồ, chỉ thấy một loài cua S. sinensis phân bố trong

ven bờ ruộng lúa. Các loài trai hến, ốc thấy chủ yếu ở sơng Sặt.

Kết quả phân tích động vật đáy (ĐVĐ) đã xác định được trên 30 loài trai ốc

nước ngọt và nước lợ thuộc 12 họ, 22 giống. Trong đó, họ ốc vặn (Viviparidae) và

họ trai sơng (Unionidae) có số lượng loài nhiều nhất. Tiếp đến là họ ốc tháp

(Thiaridae), họ hến (Corbiculidae) cùng có 5 lồi. Đây đều là các họ trai ốc nước

ngọt phổ biến trong các thủy vực của Việt Nam.

Động vật đáy nói chung và động vật thân mềm nói riêng được đưa vào danh

sách các nhóm được sử dụng để đánh giá chất lượng mơi trường nước ở các thuỷ

vực nội địa. Các loài thuộc họ ốc tháp (Thiaridae), họ hến (Corbiculidae) có mặt

trong hệ thống tính điểm BMWP, hệ thống tính điểm dùng để đánh giá chất lượng

nước tại các thủy vực nước chảy của Việt Nam. Các lồi tơm cua đều là các loài phổ

biến, phân bố rộng rãi trong các vùng nhiệt đới.

Trong động vật đáy, nhóm cơn trùng nước chỉ mới được nghiên cứu trong

Báo cáo ĐTM Dự án xây dựng đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng



75



NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM



khoảng 5-6 năm trở lại đây. Do hạn chế về mặt tài liệu và chuyên gia nên các kết

quả nghiên cứu mới chỉ giới hạn ở mức độ họ và giống.

Thành phần các loài cá và nghề cá

Với sự phong phú về các loại hình thủy vực, trong đó có nhiều nhánh sơng

của hệ thống sơng Hồng chảy qua, thành phần các loài cá trong khu vực nghiên cứu

tương đối phong phú.

Các nghiên cứu thống kê khu hệ cá các thuỷ vực nước ngọt thuộc khu vực dự

án địa phận các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng và Hà Nội (huyện Gia Lâm)

cho thấy hầu hết là các loài cá tự nhiên, phổ biến ở vùng Đồng Bằng Bắc Bộ như:

cá chép, trôi, trắm, mè, rô đồng, trê, lươn. Một số lồi cá được ni thả như: trắm

cỏ, mè, rô phi.

Bảng chương 2. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, MƠI TRƯỜNG VÀ KINH TẾ XÃ HỘI.31.

Thành phân lồi cá khu vực dự án

STT



Tên phổ thông



Tên khoa học



1



Cá mương



Hemiculter leucisculus



2



Cá ngạnh



Cranoglanis sinensis



3



Trê đen



Clarias fuscus



4



Lươn



Fluta alba



5



Rô đồng



Anabas tetudineus



6



Cá chuối



Ophiocephalus striatus



7



Cá diếc



Carassius auratus



8



Cá trơi



Cirrhina molitonella



9



Cá chép



Cyprinus carpio



10



Trắm



Mylopharyngodon piceus



11



Đi cờ



Macropodus opercularis



12



Đòng đong



Puntlus semifascilatus



13



Rơ phi



Tilapia mosambica



5.5.4



Thổ nhưỡng và tài nguyên đất



1) Thành phố Hà Nội

Theo niên giám thống kê năm 2004 Thành phố Hà Nội có tổng diện tích tự nhiên là

92,1 nghìn ha trong đó, đất nơng nghiệp là 41,8 nghìn ha chiếm 45,4%, đất lâm

nghiệp có rừng 6,6 nghìn ha, chiếm 7,2%, đất chuyên dùng 22,6 nghìn ha chiếm

24,5% và đất ở là 11,6 nghìn ha chiếm 12,6%.

Báo cáo ĐTM Dự án xây dựng đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng



76



NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM



2) Tỉnh Hải Dương

Diện tích tự nhiên của Hải Dương là 164,8 nghìn ha, trong đó đất nơng nghiệp là

104,1 nghìn ha chiếm 63,2%, đất lâm nghiệp có rừng 9,1 nghìn ha chiếm 5,5%, đất

chun dùng 28,1 nghìn ha chiếm 17,1%, đất ở 11,3 nghìn ha chiếm 6,9%.

Đất được chia làm 2 nhóm chính:

 Đất đồng bằng chiếm 89% diện tích đất tự nhiên

 Đất đồi núi chiếm 11% diện tích đất tự nhiên.

3) Tỉnh Hưng n

Diện tích tự nhiên của Hưng n là 92,3 nghìn ha, trong đó đất nơng nghiệp là 62,6

nghìn ha chiếm 67,8%, khơng có đất lâm nghiệp có rừng, đất chun dùng 16,2

nghìn ha chiếm 17,6%, đất ở 7,4 nghìn ha chiếm 8,0%.

Diện tích đất nơng nghiệp, ao, hồ giảm do q trình đơ thị hố, cơng nghiệp hố,

mở rộng khu dân cư mới, thị trấn, thị tứ, mở rộng nâng cấp và làm mới nhiều tuyến

đường giao thông, xây dựng các công sở,…Đất đai ở Hưng Yên là do phù sa Sông

Hồng, sông Luộc và sông Đuống bồi đắp nên nhìn chung tính chất đất đồng đều, phì

nhiêu thuận lợi cho thâm canh phát triển nông nghiệp.

4) Thành phố Hải Phòng

Diện tích tự nhiên của thành phố Hải Phòng là 152,6 nghìn ha, trong đó đất nơng

nghiệp là 71,2 nghìn ha chiếm 46,7%, đất lâm nghiệp có rừng là 22,0 nghìn ha

chiếm 14,4%, đất chuyên dùng 22,9 nghìn ha chiếm 15,0%, đất ở 6,8 nghìn ha

chiếm 4,5%.

Đất canh tác Hải Phòng có một số nét đặc biệt sau:

 Do địa hình phức tạp, đồng bằng xen đồi núi đá vơi, lại giáp biển nên các

loại đất có thành phần sialit vùng ven biển thường bị nhiễm mặn. Đất vùng

ven biển bị ảnh hưởng của thuỷ triều, dòng chảy trong hệ thống sơng… nên

thường có hiện tượng xói lở và lắng đọng phù sa, tạo hiện tượng mất đất

hoặc tôn cao vùng triều. Đồng thời do ảnh hưởng của thuỷ triều các sơng ở

Hải Phòng bị nước mặn xâm nhập vào, là một trong những nguyên nhân gây

ô nhiễm mặn cho đất canh tác.

 Đất có địa hình hơi nghiêng về phía biển, tiện cho tưới tiêu bề mặt. Song do

hệ thống đê sơng, đê biển chằng chịt lòng sơng lâu ngày bị lắng động phù sa

tạo nên một số diện tích bị úng ngập như ở Đồn Xá - Hồng Đức (Kiến

Thuỵ).

 Đất ngoài đê bị nhiễm mặn, đất trong nội đồng được cải tạo, độ chua mặn

Báo cáo ĐTM Dự án xây dựng đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng



77



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phân bố của các loài theo sinh cảnh:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×