Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 1.1: Trình độ, năng lực cán bộ của Ban quản lý khu di tích và thắng cảnh Hương Sơn

Bảng 1.1: Trình độ, năng lực cán bộ của Ban quản lý khu di tích và thắng cảnh Hương Sơn

Tải bản đầy đủ - 0trang

4

5



Trung cấp

6

7,06

Sơ cấp

5

5,88

Tổng cộng

85

100

Nguồn: Ban quản lý khu di tích và thắng cảnh Hương Sơn

Từ bảng trên ta thấy nếu xét theo trình độ học vấn thì nhân viên có trình độ



đại học chiếm tỷ lệ cao nhất chiếm 80%. Những nhân viên này đại bộ phận làm

trong các bộ phận quản lý và các bộ phận chuyên trách. Đối với trình độ thạc sĩ, ở

Ban quản lý Hương Sơn có 3 cán bộ, tương tứng với tỷ lệ 3,53%. Đây đều là các

cán bộ lãnh đạo của Ban quản lý Hương Sơn. Các nhân viên còn lại có trình độ từ

cao đẳng đến trung cấp, sơ cấp là 14 người, đây hầu như là các nhân viên làm trong

các bộ phận lao động trực tiếp, các nhân viên bảo vệ, nhân viên đảm trách công tác

trật tự và vệ sinh mơi trường tại địa bàn Ban quản lý.

Về trình độ ngoại ngữ của các nhân viên tại Ban quản lý thì hầu như các

nhân viên chuyên trách và quản lý tại đây đều biết ít nhất một ngoại ngữ đó là tiếng

Anh, đây là ngơn ngữ giao tiếp quốc tế là điều kiện hết sức quan trọng để có thể

phát triển du lịch. Nhận thức được tầm quan trọng của ngoại ngữ đối với việc phát

triển du lịch nên ban lãnh đạo của Ban quản lý thường xuyên tạo điều kiện cho các

nhân viên của Ban có cơ hội tham gia vào các kháo học nâng cao trình độ nghiệp vụ

cũng như trình độ ngoại ngữ, hợp tác với các trường đại học mở các lớp dạy ngoại

ngữ tiếng anh và tiếng pháp cho các cán bộ công nhân viên trong Ban.

Ngồi những nhân viên chính thức ở trên ban quản lý còn phối hợp với lãnh

đạo huyện Mỹ Đức sử dụng một số lượng lớn người dân trong huyện tham gia vào

hoạt động chở đò đưa khách du lịch tham quan. Mỗi hộ dân trong xã phải tự trang

bị tư liệu lao động cho mình đó là những chiếc thuyền phục vụ cho hoạt động chở

khách, những chiếc thuyền này phải đảm bảo đúng theo các tiêu chuẩn của Ban

quản lý đưa ra như kích cỡ, điều kiện về an toàn, các vật dụng cần thiết như chỗ

ngồi cho khách, xơ dựng rác… Và những chiếc thuyền đó sẽ được Ban quản lý

kiểm định trước khi cấp biển số gắn lên thuyền để tiện cho việc quản lý. Mỗi hộ

dâm tham gia sẽ được cấp 2 biển số, 1 biển số phục vụ chở khách Việt Nam và 1

biển số phục vụ chở khách quốc tế. Các hộ dân sẽ chở đò theo thứ tự biển số của gia

đình mình có dưới sự điều hành phân cơng của các nhân viên chính thức của Ban

quản lý. Hàng năm Ban quản đều tổ chức các buổi đi tham quan học tập chở đò cho

người chở đò.



23



Hai là, cơ sở vật chất, công nghệ phục vụ công tác quản lý du lịch

Cơ sở vật chất kỹ thuật được hiểu là toàn bộ những tư liệu lao động để “sản

xuất” mua bán các dịch vụ và hàng hoá nhằm đáp ứng các nhu cầu về tham quan

giải trí của du khách. Từ cách hiểu này thì cở sở vật chất kỹ thuật tại ban quản lý

khu du lịch Hương Sơn bao gồm toàn bộ các trang thiết bị phục vụ cho nhu cầu

tham quan giải trí của khách du lịch. Trong hai năm hoạt động vừa qua được sự

quan tâm của chính quyền huyện Mỹ Đức và sự chỉ đạo sát xao của sở du lịch Hà

Nội, Ban quản lý đã không ngừng đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ

cho nhằm nâng cao khả năng thu hút khách du lịch đến với khu du lịch Hương Sơn,

bao gồm:

- Đầu tiên chúng ta phải kể đến toàn bộ các các cảnh quan phục vụ khách du

lịch gắn với các điểm tham quan có trong khu du lịch. Đây là những cở sở có ý

nghĩa rất quan trọng đối với bất cứ một khu du lịch nào. Nó là điều kiện tiên quyết

để cho hoạt động du lịch có thể phát triển được. Tại khu du lịch Hương Sơn có rất

nhiều điểm tham quan hấp dẫn với khách du lịch với nhiều cảnh quan thiên nhiên

hấp dẫn cùng các cơng trình có giá trị lịch sử và tâm linh. Cơng tác đầu tư xây

dựng, chăm sóc và bảo vệ cảnh quan tại đây luôn được Ban quản lý đặc biệt chú

trọng như: Thi công nạo vét sông, mở rộng các cửa hang và cuối hang tạo ra khoảng

không gian rộng nơi đây thể hiện rõ cảnh quan khu du lịch tạo thuận lợi cho cơng

tác chở đò đưa du khách ngắm cảnh quan thiên nhiên nơi đây, tiến hành duy trì

chăm sóc, cắt tỉa hàng cây dải ngăn cách, lắp đặt hệ thống đường điện cao áp dài

phục vụ nhân dân địa phương và tạo điều kiện để khách du lich đến tham quan nghỉ

lại qua đêm tại khu du lịch, trồng cây bóng mát, lắp đặt ghế đá, sửa lại khu vực bến

thuyền, dựng 2 lán để xe ơ tơ hơn 1000m2 bằng dây leo…

+ Tiếp đó là các văn phòng tòa nhà, các trang thiết bị phục vụ cho hoạt động

quản lý tại khu du lịch Hương Sơn của Ban quản lý. Nó bao gồm: trụ sở chính làm

việc của ban quản lý đặt tại bến xe, các chốt, trạm dành cho cán bộ công nhân viên

làm việc. Ban giám đốc và bộ phận tổ chức tổng hợp cơng tác tổ chức hành chính

làm việc tại tòa nhà hai tầng trong bến xe. Các phòng ban được trang bị những thiết

bị cần thiết cho công việc của mính. Còn các trạm khác được đặt tại những khu vực

mà trạm phụ trách như:

+ Trạm điều hành bến xe Hương Sơn cũng được đặt tại khu bến xe. Tại đây



24



có các phòng: phòng điều làm việc cho trưởng trạm, phòng bán vé, phòng dành cho

tổ hướng dẫn, bốt dành cho bọ phận phụ trách việc quản lý xe vào ra tại bến xe. Tại

các phòng này cũng được trang bị những vật dụng cần thiết.

+ Trạm điều hành bến đò được đặt tại bến Đục – Suối Yến, tại đây được

trang bị các vật dụng cần thiết cho việc điều hành tại bến đò: như nhà làm việc cùng

các vận dụng cần thiết

+ Trạm điều hành chùa Hương đặt tại khu chùa Hương

Như vậy có thể thấy mức độ trang bị vật chất kỹ thuật tại khu du lịch đã

được lãnh đạo Ban quản lý rất quan tâm tuy nhiên cũng còn khơng ít hạn chế đặc

biệt là mức độ trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật cho cán bộ công nhân viên tại Ban

mới chỉ dừng lại ở các vận dụng truyền thống cần thiết như nơi làm việc, bàn làm

việc…chưa có sự hỗ chợ nhiều của máy móc trang thiết bị hiện đại. Các trang thiết

bị trang bị cho các bộ phận thì còn rất nhiều hạn chế, nơi làm việc của các trạm trật

hẹp và còn thiếu các trang thiết bị hỗ trợ tiên tiến như máy tính, bộ đàm liên lạc

giữa các nhân viên… điều này dẫn đến sự trao đổi thông tin giữa các nhân viên

trong các trạm khác nhau, cũng như thơng tin từ cấp dưới đối với cấp trên còn bị

hạn chế và không kịp thời.

1.5. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về du lịch của một số địa phương

1.5.1. Kinh nghiệm quản lý du lịch tại quần thể danh thắng Tràng An,

tỉnh Ninh Bình

Quần thể danh thắng Tràng An với diện tích khoảng 12.000ha, là tổ hợp của

các điểm du lịch trọng điểm của tỉnh như: Khu du lịch sinh thái Tràng An, Khu di

tích lịch sử văn hóa Cố đơ Hoa Lư, Khu tâm linh núi-chùa Bái Đính, Khu du lịch

Tam Cốc-Bích Động. Mỗi khu, điểm du lịch ở đây có những thế mạnh, sản phẩm du

lịch riêng, do đó đã có sức hút rất lớn đối với khách du lịch trong thời gian qua.

Các khu, điểm du lịch đã tạo công ăn việc làm cho hàng vạn người dân tham

gia các hoạt động dịch vụ, kinh doanh, thương mại trong không gian của khu Quần

thể danh thắng Tràng An. Tuy nhiên, có thể thấy các hoạt động này chưa thực sự đi

vào nền nếp, vẫn cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa Ban quản lý Quần thể danh

thắng Tràng An với chính quyền địa phương.

Cơ sở hạ tầng du lịch trong phạm vi Quần thể danh thắng Tràng An luôn

được đầu tư. Nhiều dự án, công trình văn hóa phục vụ mục đích du lịch được triển



25



khai. Hệ thống giao thông đường thủy và đường bộ kết nối các tuyến điểm du lịch

được đảm bảo. Các bãi đỗ xe được mở rộng và nâng cấp, các phương tiện vận

chuyển khách đáp ứng đủ về số lượng và chất lượng, tạo điều kiện thuận lợi cho

việc đi lại của khách du lịch. Công tác vệ sinh môi trường, an ninh trật tự được duy

trì thường xuyên. Hệ thống các nhà hàng, khách sạn đã dần đi vào ổn định. Văn hóa

du lịch và ứng xử giao tiếp của những người tham gia các hoạt động dịch vụ du lịch

tại đây cũng đã có nhiều thay đổi tích cực.

Công tác quản lý về hoạt động du lịch trong phạm vi Quần thể danh thắng

Tràng An luôn được Ban quản lý xác định có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn,

tôn tạo và phát huy các giá trị của di sản. Vì vậy, việc phối hợp chặt chẽ với chính

quyền địa phương và các doanh nghiệp làm du lịch để đảm bảo tốt các hoạt động du

lịch là một nhiệm vụ trọng tâm của Ban quản lý Quần thể danh thắng Tràng An.

Ban quản lý Quần thể danh thắng Tràng An cũng đã phối hợp với các sở,

ban, ngành, các chuyên gia ở các Viện nghiên cứu và trường đại học triển khai có

hiệu quả các hoạt động tuyên truyền, vận động người dân thực hiện nếp sống văn

minh, văn hóa du lịch, phục vụ khách tham quan tận tình, chu đáo, hướng tới tính

chun nghiệp.

Người dân ở các khu, điểm du lịch trọng điểm đã nhận thức được tiềm năng,

thế mạnh và lợi ích của du lịch trong sự phát triển kinh tế của địa phương. Việc thực

hiện các nội quy, quy định về nếp sống văn minh du lịch ln có sự kiểm tra, giám

sát, do đó tình trạng người dân làm dịch vụ chèo kéo khách để bán hàng, xin tiền,

thợ ảnh tự ý chụp ảnh cho khách, xe ôm tùy tiện đưa khách vào trong phạm vi quản

lý của các khu du lịch về cơ bản đã được chấn chỉnh và xử lý.

Một số nơi trước đây là “điểm nóng” trong quản lý các hoạt động kinh doanh

du lịch như Khu di tích lịch sử văn hóa Cố đơ Hoa Lư, đến nay đã có chuyển biến

nhất định, khu vực bán hàng lưu niệm đã được quy hoạch tập trung khang trang và

sạch đẹp. Tại Khu du lịch tâm linh núi-chùa Bái Đính, bãi xe đã được vận hành linh

hoạt, có hiệu quả, khơng còn hiện tượng ùn tắc cục bộ trong những ngày cao điểm.

Các hiện tượng người ăn mày, ăn xin, bán hàng tự phát, gây phiền hà cho du khách

cơ bản được kiểm soát.

Mặc dù du khách đến với các khu, điểm du lịch trong phạm vi Quần thể danh

thắng Tràng An đã thực sự mãn nhãn về cảnh quan thiên nhiên, giá trị về lịch sử,



26



văn hóa, kiến trúc, tâm linh và cơ bản hài lòng về cơng tác quản lý du lịch của tỉnh.

Tuy nhiên, tại các khu, điểm này vào mùa cao điểm vẫn còn xảy ra tình trạng lộn

xộn, một số hoạt động dịch vụ chưa chuyên nghiệp, chưa đáp ứng, nhu cầu của du

khách. Tại các khu, điểm du lịch vẫn còn hiện tượng chèo kéo, bán hàng rong, chụp

ảnh và công tác vệ sinh môi trường vẫn chưa được đảm bảo, rác thải vẫn chưa được

thu gom kịp thời. Việc ứng xử văn hóa, văn minh trong khu du lịch có lúc còn chưa

làm hài lòng du khách. Nguyên nhân do ý thức của người dân còn hạn chế, việc đơn

đốc, giám sát của các doanh nghiệp chủ quản chưa cao. Chất lượng nguồn nhân lực,

nhất là các nhân viên điều hành tại các điểm du lịch chưa theo kịp yêu cầu. Công tác

phối hợp, quản lý các hoạt động du lịch còn một số bất cập, chưa đồng bộ. Bên cạnh

đó, sự kết nối giữa các tuyến, điểm du lịch trong phạm vi Quần thể danh thắng

Tràng An chưa thực sự thuận lợi cho các du khách tham quan du lịch. Các hoạt

động du lịch tự phát gây khó khăn trong cơng tác quản lý.

Để khắc phục tình trạng trên, thời gian tới các ngành, các cấp cần phối hợp

để mở thêm nhiều các lớp trang bị kiến thức du lịch cộng đồng. Qua đó nâng cao kỹ

năng giao tiếp, trình độ ngoại ngữ, những hiểu biết cơ bản về lịch sử, văn hóa, kiến

trúc và các giá trị cảnh quan. Tuy nhiên, chính quyền địa phương và các doanh

nghiệp quản lý du lịch trên địa bàn cũng cần đảm bảo quyền lợi chính đáng cho

những người tham gia các dịch vụ du lịch, tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa người dân và

các doanh nghiệp để cùng xác định mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế

trọng điểm, hướng tới phát triển du lịch bền vững. Muốn đạt được mục tiêu này thì

trước hết cần có một cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các ngành chức năng, đơn vị

quản lý và chính quyền địa phương trong việc quản lý các hoạt động du lịch.

Việc thành lập các hội nghề nghiệp cũng sẽ giúp những người tham gia hoạt

động du lịch tại đây chia sẻ kinh nghiệm, thông tin phục vụ khách du lịch ngày càng

tốt hơn.

Về phía các cơ quan chức năng quản lý về du lịch cũng cần nêu cao hơn nữa

vai trò của mình trong việc thanh tra, kiểm tra để ngăn ngừa và xử lý kịp thời các

trường hợp vi phạm quy định về an ninh trật tự, vệ sinh môi trường và các hiện

tượng ép giá, chèo kéo khách du lịch của những người làm dịch vụ du lịch trên địa

bàn.

1.5.2. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về du lịch tại tỉnh Lào Cai



27



Nằm trên trục đường giao lưu quốc tế và là cửa ngõ nối Việt Nam, các nước

ASEAN với miền Tây nam rộng lớn của Trung Quốc, là nơi cư trú của 25 dân tộc

anh em đã tạo lên mảnh đất Lào Cai giàu tiềm năng to lớn về khí hậu, đất đai,

khống sản, tài nguyên, đặc biệt là có cửa khẩu Quốc tế Lào Cai và nhiều cặp cửa

khẩu quốc gia khác thuận lợi cho phát triển thương mại, du lịch dich vụ và đầu tư.

Với đặc điểm khí hậu đa dạng, phong cảnh hùng vỹ, văn hoá đa dạng và độc

đáo, Lào Cai có nhiều yếu tố thuận lợi để phát triển nhiều loại hình du lịch: sinh

thái, nghỉ dưỡng, mạo hiểm, văn hóa lịch sử và du lịch cộng đồng. Đây là điều kiện

rất thuận lợi để Lào Cai hợp tác, phát triển du lịch khu vực vùng biên giới với tỉnh

Vân Nam, Trung Quốc - một trong những điểm đến độc đáo và hấp dẫn nhất Trung

Quốc.

Hiện nay, toàn tỉnh Lào Cai có 17 doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế;

trong đó, có 04 cơng ty kinh doanh lữ hành quốc tế được tham gia đón khách Trung

Quốc theo Quy chế 849. Trong những năm qua, doanh nghiệp du lịch kinh doanh lữ

hành quốc tế, đặc biệt các doanh nghiệp lữ hành quốc tế đón khách theo quy chế

849 đã chủ động khai thác và kinh doanh các dịch vụ du lịch theo các tour, chương

trình của khách du lịch Trung Quốc vào Việt Nam; nâng cao chất lượng phục vụ, tạo

được uy tín với đối tác trong và ngồi nước. Lượng khách du lịch Trung Quốc của

các cơng ty lữ hành đón được ngày một tăng cao và tạo được thu nhập ổn định và

công ăn việc làm cho cán bộ công nhân viên.

Tống số khách Trung Quốc qua cửa khẩu Hà Khẩu – Lào Cai từ năm 2013 –

2015 đạt: 370.414 lượt khách ; trong đó, khách Trung Quốc sử dụng thẻ theo quy

chế 849 là: 139.771 lượt.

Trong những năm qua, tỉnh Lào Cai (Việt Nam) và tỉnh Vân Nam (Trung

Quốc) không ngừng tăng cường giao lưu, hợp tác, thúc đẩy việc quản lý hoạt động

du lịch trên địa bàn hai tỉnh, thể hiện bằng việc thường xuyên tổ chức Hội đàm để

bàn việc hợp tác phát triển du lịch và cùng giải quyết những vẫn đề phát sinh trong

quá trình thực hiện, đồng thời xác định những nội dung hợp tác mới trình cấp trên

phê duyệt và thực hiện. Từ năm 2005 đã tổ chức các cuộc hội đàm luân phiên, cụ

thể như sau:

Ngày 26/4/2014, tại Lào Cai, hội đàm giữa Sở Thương mại và Du lịch Lào

Cai (Việt Nam) do ông Nguyễn Quang Đức – Giám đốc Sở TM-DL làm đại diện và



28



Cục Du lịch tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) do ông Dư Phồn – Phó Cục trưởng Cục

Du lịch làm đại diện đã ký Biên bản Hội đàm về phát triển du lịch giữa hai tỉnh. Hai

bên thống nhất triển khai 4 nội dung quan trọng, trong đó nội dung tăng cường cải

tiến phục vụ du lịch cùng hợp tác phát triển vấn đề: Khách du lịch đi du lịch đến các

điểm du lịch của mỗi bên bằng sổ thông hành, các bộ phận quản lý du lịch cấp

tương đương của hai bên trên cơ sở số người thực tế được thông báo làm thủ tục và

thu phí; Ngành du lịch hai bên sẽ cùng nỗ lực, tích cực thúc đẩy Ngân hàng hai bên

thiết lập quan hệ thanh toán ngân hàng trực tiếp và nghiệp vụ chuyển khoản, để giúp

các Công ty du lịch hai bên làm tốt cơng tác tổ chức đón tiếp khách du lịch.

Ngày 11/8/2015, hội đàm giữa Đoàn đại biểu tỉnh Lào Cai (Việt Nam) do

đồng chí Nguyễn Ngọc Kim – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai (Việt Nam) và

Đoàn đại biểu Châu Vân Sơn (tỉnh Vân Nam – Trung Quốc) do đồng chí Tống Gia

Lâm – Châu trưởng Chính phủ nhân dân Châu Văn Sơn, Trung Quốc làm trưởng

đoàn cùng ký Biên bản Hội đàm quan hệ hợp tác phát triển du lịch giữa hai bên

trong thời gian tới. Hai bên thống nhất hợp tác 8 lĩnh vực, trong đó lĩnh vực du lịch

tập trung chủ yếu vào nội dung: Hỗ trợ nhau tuyên tuyền, quảng bá tiềm năng du

lịch và xây dựng tuyến du lịch 02 điểm du lịch Sa Pa – Lào Cai và Phổ Giả Hắc –

Văn Sơn từ đó tổ chức các tour tuyến đi sâu vào nội địa các điểm du lịch nổi tiếng

của mỗi bên (Lào Cai – Văn Sơn – Nội địa Trung Quốc và Văn Sơn – Lào Cai – Nội

địa Việt Nam).

Đặc biệt năm 2015 hai bên cũng tổ chức nhiều diễn đàn hợp tác kinh tế,

thương mại, hội chợ, triển lãm tại cả hai nước như: Diễn đàn hợp tác kinh tế thương

mại, xúc tiến đầu tư Việt Nam - Trung Quốc; Hội chợ thương mại biên giới Việt Trung. Hoạt động hợp tác phát triển du lịch đã có nhiều chuyển biến tích cực, hai

bên hỗ trợ nhau đẩy mạnh tuyên truyền quảng bá về tiềm năng du lịch của mỗi bên,

phối hợp thực hiện tốt việc quản lý và hướng dẫn du lịch, do đó số lượng khách du

lịch qua cửa khẩu quốc tế Lào Cai - Hà Khẩu tăng nhanh.

Ngoài ra, với nỗ lực của hai bên, trong những năm qua chương trình hợp tác

phát triển du lịch giữa Lào Cai (Việt Nam) và Vân Nam (Trung Quốc) đã được triển

khai dưới nhiều hình thức như:

- Hợp tác tuyên truyền quảng bá du lịch: hai bên cùng thúc đẩy việc tham gia

các hội chợ du lịch tại Côn Minh, Hà Khẩu và Lào Cai; tổ chức các đồn khảo sát



29



cho phóng viên và hãng lữ hành để xúc tiến quảng bá du lịch; mời tham gia Giải leo

núi để quảng bá loại hình du lịch sinh thái gắn với thể thao mạo hiểm; Lào Cai đặt

biển quảng cáo du lịch Trung Quốc tại cửa khẩu Lào Cai và Trung Quốc cho quảng

cáo du lịch Việt Nam trên hệ thống quảng cáo cố định tuyến phố dọc sông Hồng Hà Khẩu ...

- Hợp tác đào tạo nhân lực: Đã phối hợp cùng Trường Đại học Vân Nam,

Học Viện Hồng Hà - Vân Nam - Trung Quốc đào tạo sau đại học, đại học ở lĩnh vực

kinh tế du lịch cho cán bộ ở phòng du lịch. Ngồi ra, nhiều chương trình bồi dưỡng

kiến thức, học tiếng Trung Quốc và nghiệp vụ du lịch cũng được thực hiện thơng

qua vai trò chỉ đạo các doanh nghiệp tích cực triển khai. Tỉnh Vân Nam – Trung

Quốc đã mở những khóa học ngắn ngày về nâng cao năng lực quản lý nhà nước

trong lĩnh vực du lịch cho các tỉnh ở khu vực miền Bắc Việt Nam.

- Hợp tác khai thác tuyến điểm và sản phẩm du lịch: Tỉnh Lào Cai và tỉnh

Vân Nam cũng đã phối hợp tổ chức những chuyến khảo sát để xây dựng tuyến du

lịch mới khả thi kết nối với những khu vực của Việt Nam thông qua cửa khẩu Lào

Cai. Trong năm 2015 Trung tâm xúc tiến đầu tư thương mại du lịch tỉnh đã phối hợp

với Sở VHTTDL Lào Cai; Cục du lịch Hà Khẩu tổ chức chuyến khảo sát Lào CaiQuảng Ninh-Hải Phòng-Ninh Bình-Hà Nội; Tháng 12/2015 tổ chức chuyến khảo sát

theo tuyến: Hà Nội-Nha Trang-Cần Thơ-TP Hồ Chí Minh với sự tham gia của cơ

quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp của Trung Quốc.

Tỉnh Lào Cai có 4 huyện (Bát Xát, Mường Khương, Si Ma Cai, Bảo Thắng)

có chung đường biên giới với tỉnh Vân Nam –Trung Quốc. Đây cũng là những

huyện có phong cảnh thiên nhiên hoang sơ, hùng vĩ với bản sắc dân tộc thiểu số độc

đáo rất thích hợp để phát triển loại hình du lịch cộng đồng và du lịch sinh thái. Sở

VHTTDL Lào Cai kết hợp với Biên phòng, cơng an, đài báo và các doanh nghiệp

tiến hành khảo sát những điểm du lịch, tuyến du lịch tiềm năng để công nhận tuyến,

điểm du lịch địa phương làm căn cứ cho các doanh nghiệp đưa vào khai thác. Đến

nay trên địa bàn tỉnh có tổng số: 17 điểm du lịch cộng đồng, 12 tuyến du lịch cộng

đồng trong đó có 2 điểm, 6 tuyến du lịch thuộc khu vực biên giới.

Trong thời gian qua, tỉnh Lào Cai đã có những điều kiện thuận lợi nhất định

để đạt được những kết quả trong quá trình triển khai, hợp tác để thu hút khách

Trung Quốc qua cửa khẩu quốc tế Lào Cai. Từ 1/11/2014, chính phủ Trung Quốc đã



30



mở cửa cho phép tất cả công dân cư trú tại các tỉnh, thành phố của Trung Quốc đều

được ra nước ngồi du lịch, do đó lượng khách du lịch Trung Quốc sang du lịch Việt

Nam qua cửa khẩu Hà Khẩu trong thời gian này tăng đột biến. Thủ tục xuất nhập

cảnh cho khách du lịch qua lại cặp cửa khẩu Hà Khẩu (Trung Quốc) – Lào Cai (Việt

Nam) đi du lịch mỗi nước được giải quyết nhanh chóng, thuận tiện, đảm bảo quyền

lợi cho du khách. Đường cao tốc Hà Khẩu - Côn Minh và cầu Kim Thành nối liền

Lào Cai và Hà Khẩu đã được khai thông. Đây là điều kiện thuận lợi trong việc trao

đổi khách, thúc đẩy hợp tác phát triển du lịch giữa đôi bên. Hai bên đã và đang tiến

hành thực hiện thí điểm mơ hình quản lý kinh doanh lữ hành, nhằm nâng cao chất

lượng dịch vụ phục vụ du khách, đáp ứng nhu cầu của khách du lịch, góp phần thu

hút nhiều khách du lịch hai bên, đặc biệt là khách quốc tịch nước thứ 3 của Lào Cai

– Việt Nam, Côn Minh – Trung Quốc.

Chất lượng dịch vụ của các tour du lịch được nâng cao do các lữ hành xã bên

Trung Quốc và các đơn vị lữ hành Việt Nam đã tăng cường phối hợp trong việc

quản lý chất lượng dịch vụ du lịch đảm bảo quyền lợi của du khách trong đó đặc

biệt chú ý đến các tiêu chuẩn ăn, nghỉ và vận chuyển. Các doanh nghiệp lữ hành hai

bên đã làm việc và có cam kết cùng nhau phát triển ổn định các thị trường khách du

lịch truyền thống đảm bảo cạnh tranh lành mạnh. Hợp tác để lựa chọn các doanh

nghiệp có uy tín đón khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch Trung Quốc. Doanh

nghiệp kinh doanh lữ hành của hai bên đã chủ động và tích cực trong việc nghiên

cứu thị trường khách và có phương án đón khách hiệu quả. Sở Văn hóa, Thể thao và

Du lịch và các ngành cơ quan hải quan, biên phòng, cửa khẩu có sự phối hợp chặt

chẽ, nhịp nhàng, cùng hỗ trợ nhau trong q trình triển khai đón khách Trung Quốc

đường bộ, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị đón khách du lịch Trung

Quốc sang Lào Cai (Việt Nam).

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, một số những yếu tố khách quan và

chủ quan đang trực tiếp ảnh hưởng đến tình hình hợp tác và hoạt động kinh doanh

du lịch như: Cùng với suy thoái kinh tế, thị trường tài chính, tiền tệ là nguyên nhân

chủ chốt ảnh hưởng lớn đến ngành du lịch Lào Cai, làm tăng giá cả và chất lượng

một số dịch vụ và chất lượng tour du lịch. Số lượng khách Trung Quốc vào Việt

Nam và ngược lại còn ít, nhất là thị trường khách Việt Nam sang Trung Quốc.

Nguyên nhân là do các tour nội địa đưa khách từ Việt Nam sang Trung Quốc chưa



31



được chú trọng đầu tư; giá tour từ Việt nam sang Trung quốc khá cao so mức chi trả

của khách du lịch Việt Nam (do sự chênh lệch mệnh giá đồng tiền giữa hai nước);

thị trường khách nội địa tiềm năng chất lượng chưa cao, mức chi trả thấp, điều đó

tác động khá nhiều đến tình hình kinh doanh của các đơn vị. Việc điều tiết sổ thông

hành tại thời cao điểm từ phía chính phủ Trung Quốc còn nhiều bất cập, ảnh hưởng

lớn đến việc đón khách Trung Quốc sang Lào Cai (Việt Nam) qua cửa khẩu quốc tế

Hà Khẩu, đồng thời ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.

Vấn đề vận chuyển khách du lịch gặp nhiều khó khăn do cơ sở hạ tầng còn

thiếu, chất lượng chưa đảm bảo. Phương tiện vận chuyển khách du lịch từ Hà Nội

tới Lào Cai chưa đáp ứng được nhu cầu của du khách, tình trạng tăng giá vé, khan

hiếm vé trong ngành đường sắt đã ảnh hưởng đến việc nhận tour của các doanh

nghiệp. Sản phẩm du lịch còn nghèo nàn chưa đáp ứng được thị hiếu và nhu cầu của

du khách như: tour du lịch trong tỉnh và liên tỉnh có phần nhàm chán, đơn điệu,

không hấp dẫn, ẩm thực tại điểm du lịch không có gì mới mẻ, thiếu khu vui chơi

giải trí thích hợp, hấp dẫn, thu hút khách...

Trong quá trình kinh doanh, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn về nguồn

nhân lực, nhất là nguồn nhân lực có trình độ chun mơn nghiệp vụ cao. Thêm vào

đó, một số nhân viên thường xuyên thay đổi chỗ làm, gây biến động lao động ở các

doanh nghiệp. Số lượng hướng dẫn viên có thẻ quốc tế (64 hướng dẫn viên) còn ít

trong khi số lượng khách quốc tế ngày một tăng nên chưa thể đáp ứng được nhu cầu

của du khách cũng như hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là hướng

dẫn viên quốc tế có sử dụng ngoại ngữ tiếng Trung Quốc.

1.5.3. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về du lịch tại tỉnh Cà Mau

Cà Mau là tỉnh cực Nam của Tổ quốc, có ba mặt giáp biển với 250 km bờ

biển. Phía Bắc giáp tỉnh Kiên Giang, phía Đơng Bắc giáp tỉnh Bạc Liêu, phía Đơng

và Đơng Nam giáp Biển Đơng, phía Tây và Tây Nam giáp vịnh Thái Lan. Có diện

tích tự nhiên là 5.331,7 km2; dân số khoảng 1,5 triệu người (năm 2015). Nơi đây

phát triển nhiều hồ nuôi tơm; có nhiều sơng ngòi và kênh rạch chằng chịt nên đi lại

và vận chuyển bằng tàu, thuyền rất thuận tiện. Biển Cà Mau có đảo Hòn Khoai,

Hòn Chuối. Thành phố Cà Mau (thuộc tỉnh Cà Mau) cách thành phố cần Thơ 180

km, cách Thành phố Hồ Chí Minh 380 km; là một thành phố trẻ có tốc độ phát triển

kinh tế nhanh trong những năm gần đây. Các công trình trọng điểm như cảng biển



32



quốc tế Năm Căn, các cảng cá, sân bay Cà Mau, cơng trình siêu thị Cà Mau (một

trung tâm thương mại lớn, có cửa hàng siêu thị, khách sạn 3 sao và văn phòng cho

thuê) đã và đang được đầu tư cải tạo, nâng cấp... Cà Mau có 2 Vườn Quốc gia, đó là

Vườn quốc gia Mũi Cà Mau với diện tích tự nhiên 42.000 ha và Vườn quốc gia U

Minh Hạ với diện tích 8.286 ha. Ở đây đã quy hoạch và thực hiện đầu tư, kêu gọi

đầu tư phát triển du lịch sinh thái. Mặt khác, Cà Mau nằm trong hành lang phát triển

kinh tế phía Nam của Chương trình hợp tác phát triển các nước tiểu vùng sơng Mê

Kơng (GMS), có điều kiện thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế với các nước

ASEAN. Do vậy, hợp tác và hội nhập là chiến lược quan trọng đối với du lịch Cà

Mau.

Du lịch được xem là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Cà Mau. Trong những

năm qua, được sự quan tâm chỉ đạo, hỗ trợ của các ngành, các cấp trong tỉnh, ngành

du lịch Cà Mau đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần thúc đẩy chuyển

dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa. Các sản

phẩm du lịch ngày càng đa dạng, phong phú hơn, nhiều điểm du lịch mới được đưa

vào hoạt động như khu du lịch Mũi Cà Mau, khu du lịch Hòn Đá Bạc, Vườn sưu tập

động vật hệ sinh thái rừng tràm lâm - ngư trường sông Trẹm, khu du lịch Lý Thanh

Long, Vườn chim trong lòng thành phố Cà Mau... Du lịch ở Cà Mau được tập trung

phát triển theo hướng du lịch sinh thái, đây được coi là hướng đột phá trong phát

triển du lịch của tỉnh. Theo chương trình phát triển tổng thể du lịch Cà Mau giai

đoạn 2015-2020 và định hướng đến năm 2030, tỉnh sẽ tập trung triển khai thực hiện

các quy hoạch bảo tồn, phát triển khu du lịch sinh thái Vườn quốc gia rừng ngập

mặn Mũi Cà Mau; Khu du lịch sinh thái Vườn quốc gia U Minh Hạ; phát triển du

lịch cụm đảo Hòn Khoai; đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất - kỹ thuật

cần thiết cho ngành du lịch vận hành và phát triển phù hợp với xu thế chung của

khu vực và cả nước, trong đó tập trung bảo vệ, tơn tạo tài ngun mơi trường và

những giá trị văn hóa, sinh thái đặc thù của tỉnh.

Có được những kết quả tích cực nói trên về phát triển du lịch, tỉnh Cà Mau

đã chú trọng thực hiện các biện pháp chủ yếu sau: Thực hiện các biện pháp, phương

pháp thích hợp để nâng cao nhận thức của người dân về vị trí, vai trò của du lịch đối

với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; tăng cường tuyên truyền, giáo dục về

pháp luật du lịch nhằm giúp họ hiểu và nghiêm chỉnh chấp hành; xây dựng chiến



33



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 1.1: Trình độ, năng lực cán bộ của Ban quản lý khu di tích và thắng cảnh Hương Sơn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×