Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chương 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Tải bản đầy đủ - 0trang

14.396,26ha, chiếm 62,2% tổng diện tích tự nhiên; đất phi nơng nghiệp

6.567,42ha, chiếm 28,37% so với tổng diện tích tự nhiên; đất chưa sử dụng

2.183,25ha, chiếm 9,43% tổng diện tích tự nhiên). Dân số năm 2010 là 170.831

nhân khẩu (chiếm 2,65% tổng dân số của Hà Nội). Mật độ dân số trung bình là

747 người/km2. Trung tâm của huyện là thị trấn Đại Nghĩa.

Cư dân trên địa bàn huyện Mỹ Đức chủ yếu là người Kinh, chỉ có một số ít

đồng bào Mường cư trú ở xã An Phú. Từ xưa đạo phật là chủ yếu ở vùng đất này.

Đạo thiên chúa mới du nhập từ cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, hiện nay đồng

bào theo đạo Thiên chúa chiếm khoảng trên 10% dân số trong huyện.

Khác hẳn với các huyện ngoại thành của thủ đô Hà Nội, địa bàn huyện

Mỹ Đức có đủ các yếu tố cấu thành về mặt địa chất như núi đá, đồi đất, sông

suối, hồ đầm, vùng chiêm trũng và dải đất bãi bồi ven sơng Đáy. Sự kết cấu địa

chất đó đã phân địa bàn huyện Mỹ Đức thành 3 vùng. Đó là dải đất bãi cao ráo

ven sơng Đáy về phía đơng. Vùng núi đá, đất đồi ở phía tây, kẹp giữa 2 vùng đó

là vùng chiêm trũng. Cả 3 vùng này có kết cấu địa chất hồn tồn khác nhau và

nằm trải dài theo dòng chảy của sơng Đáy và rặng núi đá giăng thành được khởi

đầu từ Miếu Môn xuống tới xã Hương Sơn. Cả 3 vùng này được nối với nhau

bởi những tuyến đường giao thông quan trọng, đó là quốc lộ 73B đoạn Miếu

Mơn đi Ba Thá, quốc lộ 22 nối từ đường 21A đoạn chợ Bến đi Đại Nghĩa. Với vị

trí địa lý này, huyện Mỹ Đức có điều kiện thuận tiện giao lưu kinh tế - xã hội với

các địa phương trong và ngoài tỉnh thông qua hệ thống đường bộ và đường thủy,

khai thác thị trường Hà Nội, Hòa Bình, Hà Nam. Mỹ Đức là một huyện có cả

đồng bằng và rừng núi, có nguồn ngun liệu dồi dào cho ngành cơng nghiệp

chế biến, thủ công mỹ nghệ, công nghiệp khai thác. Hơn nữa, huyện có rừng và

danh lam thắng cảnh nổi tiếng như Chùa Hương, điểm du lịch Hồ Quan Sơn.

Toàn huyện có trên 200 di tích lịch sử văn hóa, trong đó có 67 di tích lịch sử văn

hóa đã được xếp hạng. Vì vậy, Mỹ Đức có nhiều điều kiện phát triển, mở rộng

dịch vụ du lịch văn hóa.

Là huyện thuần nông, thổ nhưỡng của Mỹ Đức chủ yếu là đất phù sa không

được bồi, đất vùng trũng thuộc loại đất thịt nặng, nghèo nàn. Đất đai vùng này thích



ứng cho cây lương thực, cây rau màu, cây nông nghiệp... cho năng suất cao, khối

lượng sản phẩm lớn không thua kém các vùng có trình độ thâm canh khá.

2.1.2. Điều kiện chính trị, luật pháp, thể chế

Mỹ Đức là huyện sớm có phong trào cách mạng ở phía nam thành phố,

với hai chi bộ Đốc Tín và Vĩnh Lạc từng giữ vai trò lãnh đạo cách mạng trên địa

bàn huyện trong cuộc vận động giải phóng dân tộc thời kỳ 1939-1945. Sau cách

mạng tháng 8- 1945, hầu hết đảng viên của 2 chi bộ được tỉnh ủy Hà Đông điều

động đi nhận công tác ở nơi khác. Tháng 9-1945, Chi bộ Đảng huyện Mỹ Đức ra

đời. Trong bối cảnh sau cách mạng tháng Tám, Đảng ta phải rút vào hoạt động

bí mật, tổ chức Đảng gọi là Hội. Để đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, chi bộ

đội công tác huyện phân địa bàn thành các tiểu khu, cử đảng viên phụ trách các

tiểu khu, thành lập Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác nhằm tập hợp những quần

chúng tiên tiến để bồi dưỡng, giáo dục, thử thách và phát triển vào Đảng, thực

hiện mục tiêu mỗi xã có một chi bộ Đảng làm hạt nhân lãnh đạo phong trào.

Nhờ có phương hướng đúng, lực lượng đảng viên và cơ sở Đảng gia tăng,

giữa năm 1946, Ban cán sự Đảng huyện Mỹ Đức được thành lập. Tháng 10 năm

đó, Ban cán sự chuyển thành Ban Huyện ủy. Đó là cơ sở để tháng 11-1947 Đảng

bộ huyện Mỹ Đức ra đời. Tính đến năm 2012, Đảng bộ huyện đã trải qua 22 kỳ

Đại hội.

Tính đến ngày 31- 10- 2013, tồn Đảng bộ huyện Mỹ Đức có 7.158 đảng

viên, sinh hoạt ở 56 tổ chức cơ sở Đảng (trong đó xã, thị trấn 22 Đảng bộ; 4

Đảng bộ khối cơ quan và 30 chi bộ trực thuộc huyện ủy).

Xác định công tác xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, trong những

năm qua, cơng tác giáo dục chính trị tư tưởng được các cấp ủy Đảng từ huyện

đến cơ sở thường xuyên chú trọng. Các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, của

Thành phố và của huyện đều được quán triệt đầy đủ, kịp thời tới toàn thể cán bộ,

đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong huyện. Đặc biệt, trong việc triển khai

thực hiện cuộc vận động “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí

Minh”. Hàng năm đều có kế hoạch tổ chức thực hiện cuộc vận động cho cán bộ,

đảng viên và nhân dân học tập nghiêm túc các chuyên đề theo đúng kế hoạch chỉ



đạo của cấp trên. Thông qua việc học tập, giúp cho cán bộ, đảng viên và các tầng

lớp nhân dân nhận thức sâu sắc về những nội dung cơ bản, về những giá trị to

lớn của tư tưởng, tấm gương đạo đức cách mạng của Người, góp phần ngăn

chặn, đẩy lùi sự suy thối về tư tưởng, chính trị đạo đức, lối sống và các tệ nạn

xã hội… tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong toàn Đảng bộ và toàn dân.

Đảng viên ở xã, thị trấn sinh hoạt theo địa bàn dân cư. Đây là cơ sở tiền

đề quan trọng giúp các cấp ủy, các chi bộ xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của

chi bộ, đồng thời cũng tạo điều kiện để gắn việc phân công nhiệm vụ cho đảng

viên được rõ ràng, bám sát với quần chúng nhân dân.

Điều kiện chính trị xã hội ở huyện Mỹ Đức còn có những đặc thù riêng

tác động đến chất lượng của đội ngũ cán bộ, cơng chức của huyện đó là những

vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ

dân tộc và chính sách đối với cán bộ dân tộc cần phải được quan tâm thích đáng.

Có thể nói, các điều kiện về vị trí địa lý, kinh tế - xã hội, cơ sở hạ tầng kỹ thuật

của huyện đã có sự phát triển nhanh và ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho quá

trình mở cửa và hội nhập với sự phát triển kinh tế cả vùng, khu vực. Song, với

quan điểm phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt.

Việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơng chức trong hệ thống chính trị đáp

ứng được yêu cầu của sự phát triển, quy hoạch đào tạo, thu hút cán bộ công chức

giỏi về chuyên mơn nghiệp vụ, vững vàng về chính trị, nắm bắt và ứng dụng vào

thực tiễn công tác những tiến bộ khoa học - kỹ thuật phục vụ nhiệm vụ phát triển

kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là tất yếu và cấp

thiết.

2.1.3. Điều kiện kinh tế, văn hóa - xã hội

* Về kinh tế: Người dân Mỹ Đức từ xưa tới nay luôn cần cù, giản dị, trung

thực, chịu thương, chịu khó và có tinh thần đồn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong lao

động- sản xuất, trong chiến đấu và trong cuộc sống. Tiếp tục phát huy những kết

quả đạt được sau những năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và

lãnh đạo, trong những năm qua (2011-2015), Đảng bộ huyện xác định phát triển

kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm. Mặc dù là một huyện nông nghiệp, xuất phát điểm



thấp, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ huyện, nhân dân trong huyện đoàn

kết, nỗ lực phấn đấu vươn lên và giành được nhiều kết quả đáng khích lệ trên tất

cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa- xã hội, an ninh- quốc phòng… Bình qn thu

nhập đầu người năm 2011 là 10,40 triệu đồng, năm 2015 là 22 triệu đồng. Thu

ngân sách nhà nước năm 2015 là 218 tỷ 708 triệu đồng.

Bảng 2.1. Tổng giá trị sản xuất của huyện Mỹ Đức giai đoạn 2011 - 2015

(giá so sánh năm 1994 và 2010)

Đơn vị: Triệu đồng



Chỉ tiêu

1. Tổng giá trị

Trong đó:

- Nơng nghiệp

- Cơng nghiệp - XD

- Dịch vụ

2. Thu nhập bình

quân/ người/triệu

đồng/năm

3. Tốc độ tăng năm sau

so với năm trước

(%/năm)



2011



2012



2013



2014



2015



1.872,5



2.117,7



2.243,7



5.729,2



6.267,8



706

579,2

587,3



743,1

645,8

822,8



776,3

610,3

857,1



2.137,6

1.701,7

1.889,9



2.233,6

1.880,8

2.153,4



12,7



14



17,5



19



22



11,6



10,4



25



8,6



15,8



(Nguồn: Chi cục thống kê huyện Mỹ Đức năm 2012 - 2015)

Cơ cấu kinh tế của huyện, ngành nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng tương

đối lớn từ 33 đến 37%. Tỷ trọng khu vực công nghiệp - xây dựng trong tổng giá

trị cơ bản có xu hướng giảm năm 2011 tỷ trọng của khu vực này là 31,3% thì

năm 2015 là 29,9%; tỷ trọng của khu vực thương mại - dịch vụ có chiều hướng

tăng, năm 2011 là 31% thì đến năm 2015 là 34,8%.



Bảng 2.2. Cơ cấu kinh tế của Mỹ Đức

Đơn vị: %



Chỉ tiêu

Cơ cấu Tổng GTGT

1. Nông nghiệp

2. Công nghiệp - Xây dựng

3. Dịch vụ



2011

100,0

37,7

31,3

31



2012

100,0

33,6

29,2

37,2



2013

100,0

34,6

27,2

38,2



2014

100,0

37

29,6

33,4



2015

100,0

35,3

29,9

34,8



(Nguồn: Báo cáo kinh tế xã hội huyện Mỹ Đức các năm 2011 - 2015)

Qua bảng trên cho thấy, mặc dù có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, song

nhìn chung kinh tế của Mỹ Đức vẫn là nền kinh tế nông nghiệp, thể hiện ở chỗ

nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng tương đối cao trong tổng giá trị. Nếu so với cơ

cấu kinh tế của toàn Thành phố Hà Nội thì Mỹ Đức vẫn có sự khác biệt rất lớn.

Cụ thể, cơ cấu kinh tế của Thành phố Hà Nội năm 2014: tỷ trọng khu vực dịch

vụ là 52,5%, khu vực công nghiệp - xây dựng là 41,4% và khu vực nơng nghiệp

chỉ có 6,1%.

Do vậy, để muốn phát triển phù hợp với xu thế phát triển của Thành phố

Hà Nội trong thời gian tới Mỹ Đức cần phải đẩy nhanh hơn nữa tốc độ chuyển

dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện.

* Về văn hóa- xã hội: Sự nghiệp giáo dục-y tế được đầu tư xây dựng kiên

cố, phát triển mạnh. Cả 22/22 trạm y tế xã, thị trấn đã đạt chuẩn quốc gia và đều

có bác sỹ. Hiện nay tồn huyện Mỹ Đức có 83 trường học các cấp (trong đó 5

trường phổ thơng trung học và trung tâm hướng nghiệp dạy nghề, trung tâm giáo

dục thường xuyên; 23 trường trung học cơ sở, 29 trường tiểu học, và 24 trường

mầm non). Chất lượng giáo dục và chất lượng khám chữa bệnh ngày càng được

nâng cao. Năm 2000, huyện đã được cơng nhận hồn thành phổ cập giáo dục

tiểu học đúng độ tuổi; năm 2001 huyện được cơng nhận hồn thành phổ cập giáo

dục trung học cơ sở và đang tích cực triển khai phổ cập giáo dục bậc trung học

phổ thông. Đội ngũ giáo viên từ mầm non đến trung học phổ thông 100% đã đạt

chuẩn (trong đó trên 45% vượt chuẩn). Bình quân mỗi năm Mỹ Đức có 150 đến

200 em học sinh thi đỗ vào các trường cao đẳng, đại học. Tiếp tục thực hiện



Nghị quyết TW5 (khóa VIII) và Nghị quyết TW10 (khóa IX) về xây dựng nền

văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc gắn với phong trào “toàn dân

đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa mới ở khu dân cư”, xây dựng “người Hà

Nội thanh lịch, văn minh,” được các tầng lớp nhân dân trong huyện tích cực

hưởng ứng và đẩy mạnh. Tính đến 30 - 12 năm 2015, huyện đã có 70/112 làng

đạt danh hiệu làng văn hóa; 75/138 cơ quan, đơn vị đạt danh hiệu văn hóa cấp

thành phố và huyện. 40.996/47.360 số hộ gia đình đạt gia đình văn hóa (chiếm

86,56% tổng số hộ trên địa bàn tồn huyện). Cơng tác xóa đói, giảm nghèo được

các cấp ủy Đảng và chính quyền quan tâm, tỷ hệ hộ nghèo năm 2005 là 20%,

năm 2015 giảm chỉ còn 10%. Tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên năm 2005 là 1,05%,

năm 2015 giảm còn là 0,9%. Trong giai đoạn 2005- 2015, tỷ lệ gia tăng dân số

tự nhiên của huyện Mỹ Đức là 0,97%/năm.

Kinh tế, văn hóa- xã hội phát triển, đời sống vật chất, tinh thần của nhân

dân ở huyện Mỹ Đức hiện nay đã được đổi thay nhiều. Trải qua các cuộc kháng

chiến cứu nước và bảo vệ Tổ quốc, bên cạnh việc hồn thành nghĩa vụ đóng góp

lương thực- thực phẩm cho Nhà nước, lớp lớp người con quê hương ra trận. Tồn

huyện có 2.820 Anh hùng liệt sỹ đã quên mình ngã xuống cho sự hồi sinh của dân

tộc ( trong đó liệt sỹ chống Pháp 553, liệt sỹ chống Mỹ 1.906, liệt sỹ bảo vệ tổ

quốc 361), nhiều người để lại một phần máu thịt của mình trên các chiến trường,

nhiều gia đình có cơng lớn với cách mạng. Ghi nhận những thành tích to lớn đó,

năm 2000, huyện vinh dự được Nhà nước trao tặng danh hiệu đơn vị Anh hùng

lực lượng vũ trang nhân dân; 8/22 xã, thị trấn trong huyện cũng đã vinh dự được

Nhà nước trao tặng danh hiệu này vì đã có cơng lao đóng góp to lớn cho sự

nghiệp cứu nước của dân tộc trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống

Mỹ. Cùng với phần thưởng cao q đó, tồn huyện có 117 bà mẹ Việt Nam được

Nhà nước phong tặng, truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Các cấp ủy

Đảng, chính quyền và nhân dân trong huyện khơng bao giờ qn cơng lao đóng

góp to lớn của các Anh hùng liệt sỹ, các thương, bệnh binh, các gia đình có cơng

với cách mạng. Bằng những việc làm thiết thực, cùng với thực hiện tốt chính sách

của Đảng và Nhà nước, nhân dân trong huyện tự đóng góp xây dựng quỹ đền ơn



đáp nghĩa và đóng góp nhiều ngày cơng xây dựng hồn thành nhà tình nghĩa cho

các thương binh nặng, gia đình có cơng với cách mạng có hồn cảnh khó khăn.

Ngồi ra, các xã thị trấn còn thường xuyên thăm hỏi, giúp đỡ các đối tượng chính

sách, những gia đình có cơng với cách mạng. Được sự quan tâm giúp đỡ của các

cấp ủy Đảng, chính quyền và các tầng lớp nhân dân trong huyện, hiện nay 100%

số gia đình chính sách, gia đình có cơng với cách mạng trong huyện đã có mức

sống khá, so với mức sống chung của nhân dân toàn huyện.

* Đối với cơng tác An ninh- Quốc phòng: Được sự quan tâm chỉ đạo của

các cấp ủy Đảng, chính quyền từ huyện đến xã, trong những năm qua tình hình

an ninh chính trị, an tồn xã hội trên địa bàn huyện ln được bảo đảm và giữ

vững, khơng có vụ việc lớn xảy ra. Công tác quân sự địa phương thực hiện tốt.

Lực lượng quân sự địa phương luôn bảo đảm sẵn sàng chiến đấu. Các xã, thị

trấn đều có lực lượng dân quân tự vệ và lực lượng dự bị động viên sẵn sàng ứng

phó với bất kỳ tình huống nào xảy ra. Hàng năm các xã, thị trấn đều hoàn thành

tốt chỉ tiêu giao quân cấp trên giao.

2.1.4. Chính sách chế độ đào tạo, đãi ngộ, sử dụng và phát triển

Về công tác tuyển dụng cán bộ, công chức: Để trở thành cán bộ, công

chức, hàng năm các cơ quan, đơn vị trên đại bàn huyện căn cứ vào chỉ tiêu định

biên và số lượng cán bộ biến động để tổng hợp trình cơ quan có thẩm quyền cấp

trên xét duyệt kế hoạch và bơ trí, sắp xếp tuyển dụng dưới 02 hình thức xét

tuyển và thi tuyển.

Cơng tác đào tạo và đào tạo lại cán bộ, công chức: Căn cứ vào quy

hoạch, kế hoạch đào tạo đối với cán bộ, công chức và quy định tại Nghị định số

18/ 2010/ NĐ- CP của Chính phủ ngày 05/3/2010 về đào tạo, bồi dưỡng công

chức và các văn bản có liên quan các cơ quan, đơn vị đã chủ động trong việc đào

tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức pháp luật;

kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước và quản lý chuyên ngành, tin học, ngoại

ngữ, tiếng dân tộc và kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng lãnh đạo, quản lý cơ quan

Đảng, Nhà nước. Cụ thể ở bảng 2.3:

Bảng 2.3. Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công chức năm 2015



STT

Nội dung đào tạo bồi dưỡng

1

Đào tạo Trung cấp lý luận chính trị

Bồi dưỡng nghiệp vụ cơng tác Đảng,

2

MTTQ và các đồn thể

3

Bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý Nhà nước



Số lớp

1



Số CBCC

20



5



28



6



12



(Nguồn: Phòng nội vụ huyện Mỹ Đức)

Về công tác quy hoạch cán bộ: Trong công tác quy hoạch cán bộ luôn tạo

sự chủ động; khắc phục tình trạng hẫng hụt trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản

lý, bảo đảm tính kế thừa, phát triển và sự chuyển tiếp giữa các thế hệ cán bộ, giữ

vững đoàn kết nội bộ và ổn định chính trị; đưa vào quy hoạch tỷ lệ cán bộ lãnh

đạo quản lý là nữ đạt từ 30% trở lên, cán bộ trẻ 20% trở lên.

Huyện ủy chỉ đạo, hướng dẫn, triển khai công tác quy hoạch cán bộ theo

đúng quy định của Trung ương, của tỉnh và trực tiếp thẩm định, phê duyệt quy

hoạch các chức danh diện Huyện ủy quản lý; chỉ đạo các cơ quan tham mưu về

công tác tổ chức, cán bộ tham mưu xây dựng và ban hành tiêu chuẩn cán bộ lãnh

đạo, quản lý giữ các chức danh từ phó trưởng phòng và chức vụ tương đương trở

lên trong các cơ quan đảng, đồn thể, chính quyền; xây dựng và ban hành tiêu

chuẩn, đối tượng luân chuyển; chỉ đạo hướng dẫn các cơ quan, đơn vị triển khai

quy hoạch công chức chuyên môn theo vị trí cơng việc, ngạch bậc.

Về cơng tác điều động, luân chuyển cán bộ, công chức:

Luôn phân biệt rõ giữa luân chuyển với điều động, tránh nhầm lẫn giữa

luân chuyển cán bộ với điều động, bố trí, sắp xếp cán bộ. Việc luân chuyển cán

bộ chỉ thực hiện đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý và quy hoạch

làm chức vụ lãnh đạo, quản lý cao hơn. Điều động cán bộ là chuyển đổi vị trí

cơng tác theo quy định của pháp luật hoặc theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng

công chức trong cơ quan, tổ chức, đơn vị và giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị

theo theo năng lực cán bộ và yêu cầu nhiệm vụ cụ thể của cơ quan có thẩm

quyền. Việc điều động, luân chuyển cán bộ để có thời gian thử thách nhằm tạo

nguồn cho công tác cán bộ. Mặt khác việc định kỳ luân chuyển các chức danh để

thực hiện cơng tác phòng, chống tham nhũng theo Nghị định số 158/2007/NĐ-



CP ngày 27/10/2007 của Chính phủ và Quyết định số 75/2010/QĐ-UBND ngày

06/10/2010 của UBND huyện Mỹ Đức về việc quy định danh mục các vị trí

cơng tác và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí cơng tác đối với các chức danh

quy định.

Công tác đánh giá cán bộ, cơng chức:

Thời gian qua, cơng tác đánh giá CBCC có những mặt tiến bộ về nhận

thức và cách làm. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày

15/3/2010 nhằm cụ thể hố Luật Cán bộ, cơng chức, trong đó có những quy định

về trình tự thủ tục đánh giá cơng chức. Hằng năm, huyện ủy, UBND huyện có

văn bản chỉ đạo, hướng dẫn đến toàn bộ các cơ quan, đơn vị thực hiện đánh giá,

phân loại cán bộ, công chức, viên chức, gắn với nâng cao trách nhiệm của người

đứng đầu cơ quan, đơn vị trong việc đánh giá cán bộ, công chức. Kết quả đánh

giá là căn cứ để bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật và thực

hiện chính sách đối với cán bộ, công chức.

Đánh giá công chức được dựa trên các quy định về nghĩa vụ và trách

nhiệm của cán bộ, công chức tại Luật Cán bộ, công chức. Cụ thể căn cứ vào: Vị

trí cơng việc, u cầu và trách nhiệm cơ quan, đơn vị phân công rõ ràng, cụ thể

cho người công chức; sản phẩm công tác cụ thể của mỗi một chức danh, một

người công chức trong thời gian đánh giá (tháng, quý, năm).

Đánh giá cán bộ được căn cứ vào: tiêu chuẩn cán bộ (tiêu chuẩn chung và

tiêu chuẩn cụ thể); hiệu quả công tác thực tế: hiệu quả về kinh tế; hiệu quả về

xây dựng Đảng, chính quyền và đồn thể; hiệu quả về đồn kết nội bộ; mức độ

tín nhiệm của cấp dưới, đồng sự và của quần chúng; môi trường và điều kiện

công tác, căn cứ vào trách nhiệm liên đới; đồng thời xem xét tổng thể các mối

quan hệ xã hội và gia đình.

Về việc sử dụng và đãi ngộ cán bộ, cơng chức:

Việc sử dụng cán bộ, công chức hầu hết được bố trí đúng ngành, nghề,

lĩnh vực đào tạo trước khi được tuyển dụng, hoặc cán bộ, cơng chức đó hồn



thiện kiến thức chun mơn trong q trình làm việc để phù hợp với lĩnh vực

mình được giao thực hiện.

Về chế độ đãi ngộ đối với cán bộ, công chức: Cán bộ, công chức được

hưởng tất cả các quyền lợi theo quy định về chế độ tiền lương, phụ cấp theo hệ

thống thang bảng lương, cấp bậc, phụ cấp công vụ, chế độ bảo hiểm y tế, bảo

hiểm thất nghiệp, bảo hiểm xã hội được thực hiện theo quy định của Nhà nước.

So với mức lương cơ bản hầu như chưa đảm bảo thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt

trong cuộc sống của bản thân CBCC và gia đình của họ. Do đó, còn có nhiều ý

kiến cần cải cách chế độ tiền lương, đặc biệt tiền lương cho CBCC để đáp ứng

được nhu cầu cơ bản của cán bộ, công chức và gia đình họ.

Một số ngành đặc thù được hưởng chính sách phụ cấp ngành như: Ngành

thanh tra Nhà nước hưởng phụ cấp 25% lương tối thiểu, ngành kiểm tra Đảng

hưởng phụ cấp 30% lương tối thiểu, cán bộ, công chức tăng cường về công tác ở

cơ sở được hỗ trợ tiền xăng xe 700.000đồng/ tháng/ người và 15.000.000 đồng

và đầu tư trang, thiết bị làm việc.

2.1.5. Môi trường và điều kiện làm việc

Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Đức rất coi trọng việc tuyên truyền nâng cao

nhận thức cho cán bộ lãnh đạo, cán bộ, công chức và nhân dân về văn hóa cơng

sở. Cán bộ, cơng chức phải có tác phong tốt. Tác phong của người cơng chức có

văn hóa ở cơng sở thể hiện cách giải quyết cơng việc dứt khốt, có ngun tắc

nhưng nhẹ nhàng, tơn trọng người giao tiếp: nói năng mạch lạc, đi đứng đàng

hồng, ánh mắt thiện cảm, nó xa lạ với việc nhận của đút lót, hối lội... Văn hóa

cơng sở tại các cơ quan hành chính thể hiện ở quyền được thông tin và cách thức

cung cấp thông tin cho công chúng. Cơng dân đến cơng sở phải có quyền nhận

được những thông tin mà họ cần. Thực hành dân chủ cơ sở chính là biểu hiện

của việc nâng cao văn hóa cơng sở tại các cơ quan hành chính Nhà nước.

Để thực hiện được yêu cầu nói trên, hàng năm UBND huyện đã đưa

chương trình bồi dưỡng về văn hóa cơng sở vào chương trình đào tạo lại cán bộ,

cơng chức. Bộ Nội vụ đã ban hành Quyết định số 03/2007/QĐ-BNV về việc ban



hành Quy tắc ứng xử của cán bộ, cơng chức, viên chức trong bộ máy chính

quyền địa phương. Giáo dục, khơi dậy và phát huy truyền thống yêu nước và

cần cù lao động của cán bộ, công chức huyện để đáp ứng yêu cầu giáo dục, kích

thích tính tích cực lao động cho đội ngũ cán bộ, cơng chức. Đó là, tiếp thu, phát

triển những giá trị truyền thống còn phù hợp, như: truyền thống tương thân,

tương ái, đồng cam, cộng khổ, đoàn kết, giúp đỡ nhau trong lao động... Bên cạnh

đó từng bước loại bỏ triệt để những truyền thống khơng còn phù hợp hoặc đã trở

nên lạc hậu, cản trở sức lao động của đội ngũ cán bộ, cơng chức hiện tại, như:

bình qn chủ nghĩa, "xấu đều hơn tốt lỏi".

2.2. Thực trạng đội ngũ cán bộ công chức tại Ủy ban nhân dân huyện Mỹ

Đức

2.2.1. Về quy mơ

Tính đến ngày 31/12/2015, số lượng cán bộ, công chức thuộc các cơ quan

chuyên môn của Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Đức là 126 người. Quy mô cán bộ,

công chức UBND huyện qua các năm được thể hiện trong bảng sau:

Bảng 2.4. Số lượng cán bộ công chức UBND huyện từ năm 2011 đến 2015



Năm

Số lượng



2011

135



2012

145



2013

133



2014

135



2015

126



(Nguồn: Phòng nội vụ UBND huyện)

Theo bảng trên ta thấy, số lượng CBCC có sự biến động tăng giảm qua

các năm do nghỉ hưu, luân chuyển, điều động, kỷ luật...cán bộ. Năm 2015, số

lượng CBCC huyện là 126 người, giảm 9 người so với năm 2014 (và 2011),

tương ứng với tỷ lệ giảm là 6,7%. Nguyên nhân là do trong năm 2015, có 4 cán

bộ nghỉ hưu, 5 cán bộ được luân chuyển, điều động sang vị trí khác nhưng

UBND huyện chưa kịp tuyển dụng nhân sự mới.

2.2.2. Về cơ cấu

a) Sơ đồ tổ chức

Sơ đồ tổ chức của UBND huyện Mỹ Đức được mô tả qua sơ đồ sau:

Sơ đồ 2.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của UBND huyện Mỹ

Đức



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×