Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 2.5: Kết quả tiêu thụ theo đối tượng khách hàng của công ty giai đoạn 2013 - 2015

Bảng 2.5: Kết quả tiêu thụ theo đối tượng khách hàng của công ty giai đoạn 2013 - 2015

Tải bản đầy đủ - 0trang

mua nhỏ, do đó lượng tiêu thụ đối với nhóm khách hàng này chiếm tỷ lệ nhỏ nhất.

Tuy nhiên không vì thế mà bỏ qua đối tượng này, vì khi các đơn vị cung cấp vật liệu

xây dựng lớn đang chú ý nhiều đến nhóm khách hàng là các doanh nghiệp, cơ quan

nhà nước thì họ sẽ dễ bỏ qua đơí tượng này, đây là điều kiện tốt để một doanh

nghiệp nhỏ như cơng ty có thể phát triển thêm để san sẻ chiếc bánh của thị trường.

Có thể thấy khách hàng của Công ty chủ yếu là các doanh nghiệp do đó việc

thanh tốn khi mua hàng thường sẽ bị chậm trễ tùy theo tiến độ giải ngân cho các

cơng trình. Đây cũng là thách thức cho Cơng ty trong việc điều tiết vốn cho hoạt

động kinh doanh, đặc biệt là công tác quản lý các khoản công nợ phải thu khách

hàng.

2.2.2.2. Đặc điểm của môi trường cạnh tranh

Theo thống kê của Hội Vật liệu xây dựng Việt Nam, trong năm 2015 cạnh

tranh trên thị trường VLXD sẽ quyết liệt hơn bởi kinh tế trong nước hội nhập sâu

hơn với khu vực và thế giới. Đây cũng là năm Việt Nam cam kết cắt giảm 93% số

dòng thuế có mức thuế suất 0% và 7%. Đặc biệt, khu vực thương mại tự do ASEAN

(AFTA) cũng đang tiến tới thực hiện những cam kết cuối cùng để thành lập Cộng

đồng ASEAN (AEC) vào năm 2015. Đáng chú ý, thời gian qua, ngành VLXD trong

nước đầu tư ào ạt, dàn trải và thiếu định hướng chiến lược, dẫn đến cung vượt cầu,

tranh mua tranh bán. Trong khi đó, ngày càng nhiều sản phẩm VLXD nội địa lại bị

hàng ngoại chèn ép ngay trên sân nhà.

Đối với ngành thép, đến nay công suất sản xuất thép của các nhà máy trên cả

nước đã lên đến 11 triệu tấn, vượt gần gấp đôi nhu cầu. Do nguồn cung vượt quá xa

nhu cầu đã ra tạo sức ép cạnh tranh lớn giữa các doanh nghiệp trong ngành. Đáng

chú ý, dù cung-cầu chênh nhau khá lớn nhưng hiện vẫn có nhiều dự án thép đã và

đang được tiếp tục đầu tư mở rộng hoặc xây mới, nằm xen kẽ ở hầu hết các tỉnh,

thành phố trong cả nước. Chuyên gia kinh tế Nguyễn Đức Minh Hải, Đại học Quốc

gia TPHCM cho biết, khi các hiệp định thương mại song phương, đa phương có

hiệu lực sẽ tạo ra sức ép từ các quốc gia có thế mạnh về thép như Hàn Quốc, Nga,

Belarus… vào ngành thép Việt Nam. Các hoạt động cạnh tranh cả trong nước và

ngoài nước cũng sẽ diễn biến mạnh mẽ hơn. Do đó, các dây chuyền sản xuất thép

mới ra đời như Vinakyoei, Possco SS, Formosa góp phần tăng cung mạnh mẽ. Tuy

nhiên, việc gia tăng nguồn cung trong nước, nhưng lại cộng thêm hàng nhập khẩu

tràn vào nhờ được ưu đãi thuế nhập khẩu giảm theo Hiệp định Tự do thương mại sẽ



41



tạo ra khó khăn lớn cho ngành thép trong nước. Đáng lo ngại hơn, còn có thép

Trung Quốc thường xuyên được đưa vào thị trường Việt Nam tiêu thụ với số lượng

lớn.

Không chỉ lại ở lĩnh vực thép, thời gian gần đây còn xảy ra hiện tượng cung

vượt cầu ở một số mặt hàng như xi măng, gạch ốp lát, kính xây dựng… Ngun

nhân do tình trạng đầu tư quá nóng, các doanh nghiệp tư nhân và Nhà nước đều ào

ạt đầu tư vào lĩnh vực này. Bên cạnh đó, việc bổ sung q nhiều dự án nằm ngồi

quy hoạch đã làm tăng thêm sức ép về nguồn cung VLXD đối với thị trường. Theo

các chuyên gia kinh tế, dù đầu tư ào ạt nhưng tiềm lực tài chính của các doanh

nghiệp trong ngành VLXD hiện không mạnh. Tỷ lệ vốn vay trên tổng vốn đầu tư

lớn, do đó doanh nghiệp VLXD rất dễ bị ảnh hưởng khi thị trường tài chính có biến

động. Chưa kể, cũng do tiềm lực tài chính yếu nên doanh nghiệp khơng đầu tư được

các thiết bị tốt để sản xuất nên chất lượng và giá thành thiếu tính cạnh tranh. Đặc

biệt, khi hội nhập vào sân chơi tồn cầu, nhiều nước có nguồn cung VLXD dư thừa

như Thái Lan, Nhật Bản, Trung Quốc… sẽ đẩy mạnh xuất khẩu để giảm tồn kho,

qua đó sẽ càng cạnh tranh gay gắt hơn.

Với đặc thù kinh doanh chính của cơng ty TNHH đầu tư thương mại và dịch

vụ Gia Phúc là vật liệu xây dựng và nội thất, chắc chắn dưới áp lực cạnh tranh ngày

càng cao hiện nay, cơng ty cần phải có những chiến lược kinh doanh đúng đắn để

phù hợp với điều kiện thực tế và đem lại hiệu quả cho doanh nghiệp.

2.2.2.3. Chính sách quản lý của Nhà nước

Trong điều kiện kinh tế thị trường, cùng với các chính sách mở cửa và xu thế

hội nhập, tính cạnh tranh ngày càng quyết liệt và quyết định đến thành bại của

ngành vật liệu xây dựng. Từ quan điểm và lợi ích khác nhau dẫn đến các hành động

thực tế trong cạnh tranh ngay cả trong cơ chế chính sách, sẽ ảnh hưởng rất lớn đến

sự phát triển của doanh nghiệp nói chung và công ty TNHH đầu tư thương mại và

dịch vụ Gia Phúc.

Hiện tại đối với ngày vật liệu xây dựng và nội thất, nội dung quản lý nhà

nước như sau:

- Ban hành và hướng dẫn thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về vật

liệu xây dựng; các quy định về khuyến khích hoặc hạn chế đầu tư, sản xuất, kinh

doanh, sử dụng, xuất nhập khẩu vật liệu xây dựng, khoáng sản làm vật liệu xây

dựng;

- Tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý thực hiện quy hoạch phát



42



triển vật liệu xây dựng, quy hoạch: khoáng sản làm vật liệu xây dựng;

- Ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với sản phẩm, hàng hóa vật liệu

xây dựng;

- Quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng;

- Thẩm định, đánh giá về công nghệ sản xuất, chất lượng vật liệu xây dựng;

công nghệ chế biến, chất lượng khoáng sản làm vật liệu xây dựng;

- Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong lĩnh vực vật liệu xây dựng.

Mặt khác, Bộ xây dựng cũng đang dự thảo Nghị định về quản lý chất lượng

vật liệu xây dựng áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất, thương mại hoạt động

trong lĩnh vực này.

Sản phẩm vật liệu xây dựng sản xuất trong nước đưa ra thị trường phải đáp

ứng các yêu cầu sau: Chứng nhận hợp quy đối với sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây

dựng thuộc đối tượng áp dụng của quy chuẩn kỹ thuật; sản phẩm vật liệu xây dựng

phải đạt tiêu chuẩn đã công bố; những sản phẩm vật liệu xây dựng chưa có tiêu

chuẩn quốc gia thì nhà sản xuất phải có trách nhiệm cơng bố tiêu chuẩn cơ sở hoặc

tiêu chuẩn nước ngoài áp dụng và phải chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm do

mình sản xuất theo tiêu chuẩn công bố; sản phẩm vật liệu xây dựng yêu cầu có nhãn

hàng hóa thì nhãn hóa phải ghi đầy đủ nội dung theo quy định của pháp luật về nhãn

hàng hóa.

Bên cạnh đó, sản phẩm vật liệu xây dựng nhập khẩu phải công bố tiêu chuẩn

áp dụng, đối với sản phẩm vật liệu xây dựng theo quy chuẩn phải có chứng nhận

hợp quy và cơng bố hợp quy.

Những quy định này đòi hỏi Cơng ty phải tăng cường chi phí cho cơng tác

kiểm tra chất lượng hàng hóa đầu vào trước khi bán ra thị trường. Điều này ảnh

hưởng đến giá thành sản phẩm và hiệu quả kinh doanh cũng như hiệu quả sử dụng

vốn của doanh nghiệp.

2.3. Phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của cơng ty đầu tư thương mại

và dịch vụ Gia Phúc trong giai đoạn 2013-2015

2.3.1. Phân tích hiệu quả sử dụng vốn lưu động

a) Vốn lưu động, cơ cấu vốn lưu động của Công ty giai đoạn 2013 - 2015

Vốn lưu động (VLĐ) là phần vốn đóng vai trò trong việc đảm bảo hoạt động

thường xuyên, liên tục cho doanh nghiệp và cũng là bộ phận vốn có tốc độ luân

chuyển nhanh, phức tạp. Do vậy việc quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ là

rất cần thiết đối với doanh nghiệp để tăng khả năng sinh lời của vốn, tuy nhiên cũng

là q trình hết sức khó khăn xuất phát những đặc trưng của VLĐ và tình hình của



43



Cơng ty.

Bảng 2.6: Cơ cấu vốn lưu động của công ty giai đoạn 2013 2015

Đơn vị tính: triệu đồng

Chỉ tiêu

A. Tài sản ngắn hạn

I. Tiền và tài sản tương đương

II. Các khoản phải thu ngắn hạn

1. Phải thu của khách hàng

2. Trả trước cho người bán

3. Các khoản phải thu khác

4. Dự phòng phải thu ngắn hạn khó đòi

III. Hàng tồn kho

IV. Tài sản ngắn hạn khác



31/12/2013

529.646

69.120

201.852

186.951

16.212

513

(1.823)

254.088



31/12/2014

668.931

71.633

240.688

223.527

18.395

589

(1.823)

348.921



31/12/2015

712.595

91.638

317.957

248.977

58.596

11.008

(625)

298.170



4.587

7.689

4.830

Nguồn: Báo cáo tài chính Công ty



Qua bảng trên ta thấy, tổng quy mô VLĐ trong vòng 3 năm qua tăng liên tục

qua từng năm. Để có thể hiểu rõ hơn về những biến động và ngun nhân tác động

tới những biến động đó thì ta đi vào phân tích chi tiết từng khoản mục:

+ Tiền và các khoản tương đương tiền: Trong giai đoạn 2013 – 2015 khoản

mục tiền và tương đương tiền của Cơng ty có xu hướng tăng lên. Cuối năm 2013 là

69.120 triệu đồng thì đến cuối năm 2014 tăng lên rất nhẹ là 71.633 triệu (tăng 2.513

triệu đồng tương đương với 3,64%), sang đến cuối năm 2015 thì khoản mục này lại

tăng rất mạnh lên 20.005 triệu đồng (tăng 20.005 triệu tương ứng với 27,93%). Tính

đến cuối năm 2015, tiền và tương đương tiền chiếm 12,86% trong tài sản ngắn hạn

của Cơng ty. Để tìm hiểu ngun nhân và tác động của sự biến động này đến hiệu

quả sản xuất kinh doanh của Công ty như thế nào, chúng ta sẽ nghiên cứu ở những

phần tiếp theo.

+ Các khoản phải thu ngắn hạn: Các khoản phải thu ngắn hạn của Công ty

tăng rất mạnh trong giai đoạn 2013-2015. Năm 2014 khoản mục này tăng 38.836

triệu với tỷ lệ tăng là 19.24% thì năm 2015 con số tăng còn ấn tượng hơn với giá trị

tăng là 77.268 triệu với tỷ lệ tăng là 32,10% so với năm trước. Đến cuối năm 2015,

các khoản phải thu ngắn hạn đã chiếm 44,62% trong tài sản ngắn hạn của Cơng ty.

Sở dĩ có hiện tượng này là do trong giai đoạn 2013-2015, Công ty đã thúc đẩy thêm

các các mơ hình kinh doanh mới, thị trường bất động sản hoạt động trở lại dẫn đến



44



nhu cầu xây dựng, vật liệu xây dựng tăng lên, từ đó các khoản phải thu của khách

hàng có xu hướng tăng lên. Mặt khác, để đảm bảo việc cung ứng nguyên vật liệu

cho sản xuất kinh doanh, thực hiện thi cơng những cơng trình đảm bảo cho cả sản

xuất lẫn thi công không bị gián đoạn. Công ty đã tăng cường các khoản trả trước

người bán để có nguồn cung ứng nguyên vật liệu ổn định. Tuy nhiên khoản này làm

tăng khoản vốn Cơng ty bị chiếm dụng, có thể gây ứ đọng vốn ảnh hưởng đến hiệu

quả sản xuất của Cơng ty. Để đánh giá tình hình hợp lý của hiện tượng này chúng ta

sẽ tiếp tục tìm hiểu.

+ HTK là bộ phận chiếm chủ yếu trong TSNH chỉ sau các khoản phải thu

ngắn hạn. Giá trị HTK là khoảng 298.170 triệu đồng vào cuối năm 2015, giảm

-50.751 triệu đồng so với cùng kỳ năm 2014 trong khi cuối năm 2014 là 348.921

triệu đồng, tăng khoảng 84.833 triệu đồng so với cùng kỳ năm 2013. Hiện tại, hàng

tồn kho đã chiếm 41,84% trong tổng tài sản ngắn hạn của Công ty, xấp xỉ gần bằng

các khoản phải thu ngắn hạn. Nếu Cơng ty khơng có biện pháp quản trị hàng tồn

kho hiệu quả, thì điều này có thể làm ứ đọng, gây lãng phí vốn, ảnh hưởng khơng

nhỏ đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty.

+ TSNH khác: tăng giảm không ổn định trong 3 năm qua, từ cuối năm 2013

là 4.587 triệu đồng, tăng 3.102 triệu đồng tương ứng với 67,63% vào cuối năm 2014

nhưng năm 2015 lại giảm -2.858 triệu. Nhưng khoản TSNH khác này chiếm tỷ

trọng không đáng kể trong tài sản ngắn hạn của Công ty

- Vốn bằng tiền và khả năng thanh tốn



Bảng 2.7: Bảng tính các hệ số khả năng thanh tốn của

cơng ty

STT

1

2

3

4

5



Chỉ tiêu



ĐVT 31/12/2013

Tr.

Tài sản ngắn hạn

529.646

Đồng

Tr.

Hàng tồn kho

254.088

Đồng

Tiền và khoản tương Tr.

69.120

đương tiền

Đồng

Tr.

Nợ phải trả ngắn hạn

363.329

Đồng

Khả năng thanh toán

Lần

1,46

hiện thời (1/4)



45



31/12/2014



31/12/2015



668.931



712.595



348.921



298.170



71.633



91.638



381.097



382.812



1,76



1,86



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 2.5: Kết quả tiêu thụ theo đối tượng khách hàng của công ty giai đoạn 2013 - 2015

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×