Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hà Nội, ngày 27. tháng 03 năm 2006

Hà Nội, ngày 27. tháng 03 năm 2006

Tải bản đầy đủ - 0trang

1. Tình hình lao động và việc làm:

Tình trạng thất nghiệp của lực lợng lao động trong độ tuổi

lao động ở khu vực thành thị giai đoạn từ 1996 đến nay đợc

thể hiện trong biểu dới đây:

Biểu: Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực đô thị, giai đoạn 1996 20051

Đơn vị tính: %

Năm



199

6



199

7



199

8



19

99



200 200

0

1



200

2



200 200

3

4



200

5



Tỷ lệ thất

nghiệp



5,88



6,01



6,85



7,4

0



6,2

6



6,01



5,7

8



5,30



6,2

8



5,6

0



Mặc dầu tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị có xu hớng

giảm dần từ năm 1999 đến nay, nhng cũng cần lu ý một số

đặc điểm nổi bật sau đây:

- Cung lao động vợt quá cầu gây sức ép rất mạnh về giải

quyết việc làm. Tính đến thời điểm 1/7/2005 qui mô của lực lợng lao động Việt Nam (từ 15 tuổi ®Õn 60 ti ®èi víi nam vµ

®Õn 55 ti ®èi với nữ) đạt khoảng 41,8 triệu ngời, trong đó

tỷ lệ lao động nữ là 48,7%. Tuy lực lợng lao động đông đảo và

tơng đối trẻ, nhng phải đối mặt với tình trạng thiếu lao động

kỹ thuật và bán kỹ thuật. Tỷ lệ lực lợng lao động đã qua đào tạo

mới chỉ đạt 24,8%, mặc dầu đã tăng thêm 2,2% so với tỷ lệ này

của cùng thời kỳ năm trớc. Do vậy, ngay cả khi có cầu lao động,

lực lợng lao động cũng không đáp ứng đợc yêu cầu của vị trí

công việc đòi hỏi. Bên cạnh đó với khuynh hớng phát triển dân

số nh hiện nay, lực lợng lao động sẽ tiếp tục tăng đáng kể trong

thập niên sắp tới, tạo sức ép lớn về việc làm trong khi khả năng

tạo việc làm mới còn hạn chế.

- Đổi mới sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nớc: Trong quá trình

củng cố, sắp xếp lại, các doanh nghiệp Nhà nớc bớc đầu đợc

điều chỉnh hợp lý, có tác động tích cực đến quá trình tích tụ

và tập trung vốn, đóng góp quan trọng vào tăng trởng và thu

Thực trạng lao động - việc làm ở Việt Nam các năm 1996 - 2004.

Nhà xuất bản lao động - xã hội

1



2



ngân sách Nhà nớc. Tuy nhiên, quá trình này cũng tạo ra một áp

lực về lao động dôi d, theo lộ trình sắp xếp lại doanh nghiệp

Nhà nớc của Ban Đổi mới và phát triển doanh nghiệp, dự kiến

đến năm 2005 sẽ có khoảng 250.000 lao động thuộc diện dôi d.

Điều đáng quan tâm ở đây là trong số lao động dôi d này,

những ngời ở độ tuổi 50 trở xuống chiếm khoảng 80% và họ

vẫn có nhu cầu việc làm.

- Đổi mới công nghệ và tác động của việc thực hiện các

Hiệp định thơng mại song phơng và đa phơng: do đổi mới

công nghệ, thiết bị của các doanh nghiệp để nâng cao năng

lực cạnh tranh trong thời gian tới có ý nghĩa sống còn đối với các

doanh nghiệp khi bớc vào hội nhập theo các điều kiện của AFTA

và các hiệp định thơng mại song phơng khác, lao động không

đáp ứng đợc yêu cầu đổi mới trong các doanh nghiệp Nhà nớc

cũng nh trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế

khác sẽ gia tăng. Mặc dầu cha có số liệu cơ thĨ nhng cã thĨ thÊy

søc Ðp vỊ viƯc lµm sẽ ngày càng trở nên gay gắt.

- Sự di chuyển lao động từ nông thôn ra thành thị: Với tỷ lệ

thời gian lao động đợc sử dụng khoảng 78% của dân số hoạt

động kinh tế thờng xuyên ở khu vực nông thôn, diện tích đất

nông nghiệp bị thu hẹp do chuyển mục đích sử dụng, sự chênh

lệch lớn trong thu nhập giữa lao động thành thị và lao động

nông thôn (khoảng 2 lần) cùng với một tốc độ đô thị hoá tơng

đối nhanh tất yếu sẽ tạo nên một sự di chuyển lao động tự do từ

nông thôn ra các thành phố để tìm kiếm việc làm, dẫn đến

rất nhiều dạng thất nghiệp trá hình tồn tại ở nhiều khu vực khác

nhau ở thành thị.

2. Hệ thống bảo hiểm xã héi ViƯt Nam

ë ViƯt Nam, hƯ thèng b¶o hiĨm x· hội có một lịch sử phát

triển lâu dài. Trớc năm 1993, các chế độ bảo hiểm xã hội chỉ

dành cho công chức, viên chức Nhà nớc, ngời lao động trong các

doanh nghiệp quốc doanh và lực lợng vũ trang. Kinh phí chi trả

cho các chế độ bảo hiểm xã hội hoàn toàn do Ngân sách Nhà nớc chịu trách nhiệm. Từ năm 1995 trở lại đây, cùng với việc tăng

trách nhiệm tài chính trong thời kỳ chuyển đổi nền kinh tế, hệ

3



thống bảo hiểm xã hội cũ đã đợc thay thế bằng một hệ thống mới

phù hợp hơn với việc mở rộng đối tợng tham gia bảo hiểm bắt

buộc đến các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có sử

dụng từ 10 lao động trở lên.

Từ 1 tháng 1 năm 2003, theo điều 141 của Bộ luật Lao

động, đối tợng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc lại đợc tiếp

tục mở rộng. Loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc đợc áp dụng

đối với doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức có sử dụng lao động

làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở

lên và hợp động lao động không xác định thời hạn. Nh vậy, số lợng ngời tham gia hệ thống bảo hiểm xã hội sẽ tăng lên rất nhiều,

trong đó có cả đối tợng sẽ tham gia chế độ bảo hiĨm thÊt

nghiƯp.

ViƯc thùc hiƯn tõng bíc më réng hƯ thèng b¶o hiĨm x· héi cã

ý nghÜa to lín vỊ khÝa cạnh quản lý và tài chính. Việc mở rộng

dần dần các chế bảo hiểm xã hội đợc xem là một biện pháp

tránh đợc sự tăng lên đột ngột đối với chi phí lao động có thể

gây ra những khó khăn đối với các doanh nghiệp dẫn tới các ảnh

hởng tiêu cực lên việc làm. Xu hớng ở các nớc đang phát triển là

bảo hiểm thất nghiệp thờng đợc áp dụng vào giai đoạn phát

triển sau của hệ thống bảo hiểm xã hội, khi điều kiện kinh tế

và trình độ quản lý cho phép. Nh vậy, đây là thời điểm có

thể ¸p dơng chÝnh s¸ch b¶o hiĨm thÊt nghiƯp ë ViƯt Nam.

3. ý nghÜa kinh tÕ vµ x· héi cđa chÝnh sách bảo hiểm

thất nghiệp

Khi một chính sách bảo hiểm thất nghiệp đợc áp dụng có

nghĩa là ngời lao động và ngời sử dụng lao động phải đóng

góp thêm bảo hiểm xã hội, do vậy khía cạnh tài chính của vấn

đề này cần đợc đánh giá một cách nghiêm túc. Bảo hiểm thất

nghiệp thờng đợc coi là một chế độ tốn kém, tuy nhiên, cần

xem xét một cách cẩn trọng những vấn đề về kinh tế và xã hội

nếu không có chính sách bảo hiểm thất nghiệp.

Theo thiết kế, tổng tỷ lệ đóng góp (cả ngời lao động và

ngời sử dụng lao động) cho bảo hiểm thất nghiệp đợc qui định

4



trong thời gian tới không vợt quá 3% mức tiền lơng hàng tháng, sẽ

tơng đối thấp so với tổng đóng góp cho tất cả các chế độ khác

gồm bảo hiểm y tế, ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hu trí

và tuất (23%). Mặt khác, bảo hiểm thất nghiệp dờng nh đáp

ứng tốt nhất những nhu cầu của ngời lao động bị mất việc làm

trong thời gian tới khi đợc kết hợp một cách hiệu quả với hệ thống

dịch vụ việc làm và các biện pháp thị trờng lao động tích cực.

Khi so sánh chính sách bảo hiểm thất nghiệp với các chính

sách đền bù cho ngời lao động bị mất việc làm thông qua chi

trả một lần (ví dụ chế độ trợ cấp thôi việc hoặc mất việc làm)

sẽ thấy hiệu quả hơn khi áp dụng chính sách bảo hiĨm thÊt

nghiƯp. Theo kinh nghiƯm ®· cã ë rÊt nhiỊu nớc cũng nh ở Việt

Nam, chi trả một lần luôn tạo ra một gánh nặng về tài chính

đối với các doanh nghiệp nhất là khi bản thân doanh nghiệp

đang gặp những vấn đề về kinh tế, đang bị giảm khả năng

chống chọi với những biến động lớn và gặp khó khăn trong sắp

xếp công việc cho ngời lao động của mình.

Bảo hiểm thất nghiệp cũng là một cách thức hiệu quả hơn

để bảo vệ ngời lao động bị thất nghiệp so với bất kỳ một loại

tiết kiệm bắt buộc hoặc quỹ tiết kiệm dự phòng, vì tiết kiệm

bắt buộc hoặc quỹ tiết kiệm dự phòng thờng gây tốn kém cho

ngời sử dụng lao động và ngời lao động do phải đóng góp

nhiều, lại không tuân thủ nguyên tắc chia sẻ rủi ro và vì vậy tạo

ra rất ít khả năng bảo trợ cho ngời lao động, trừ phi ngời lao

động đã tiết kiệm đợc trong rất nhiều năm và đầu t của quỹ

đã đợc thực hiện tốt (điều này rất khó thực hiện ở Việt Nam).

Một điểm quan trọng nữa là do bản chất đóng góp của bảo

hiểm thất nghiệp nên mức hởng chế độ thờng đợc gắn với mức

thu nhập của cá nhân làm cơ sở để đóng bảo hiểm, do vậy sẽ

đảm bảo một sự bảo trợ đầy ý nghĩa đối với những ngời lao

động có mức tiền công cao và không bị quá hào phóng trong trờng hợp của ngời lao động có mức tiền công thấp hơn.

Một chế độ bảo hiểm thất nghiệp thoả đáng kết hợp chặt

chẽ với các biện pháp thị trờng lao động sẽ đóng góp tích cực

vào việc giảm ảnh hởng của thất nghiệp đối với những ngời

5



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hà Nội, ngày 27. tháng 03 năm 2006

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×