Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Trụ sở làm việc

Trụ sở làm việc

Tải bản đầy đủ - 0trang

Lời mở đầu

Từ năm 1986, nớc ta thực hiện quá trình đổi mới từ một

nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa, thị trờng lao động đã

đợc hình thành và phát triển.

Việt Nam là nớc có quy mô lực lợng lao động lớn (tại thời

điểm 1.7.2006 lực lợng lao động trong độ tuổi lao động là

44,38 triệu lao động) và bình quân mỗi năm có trên một

triệu ngời bớc vào độ tuổi lao động, dự báo lực lợng lao động

sẽ tiếp tục tăng trong thập niên sắp tới, tạo sức ép lớn về vấn

đề việc làm. Đồng thời, trong quá trình củng cố và sắp xếp

lại các doanh nghiệp Nhà nớc có một lực lợng lớn lao động dôi

d, trong số này những ngời ở độ tuổi dới 50 chiếm khoảng

80% và họ có nhu cầu tìm việc làm. Sự hình thành và phát

triển của thị trờng lao động cũng tạo ra sự di chuyển lao

9



động lớn trong khu vùc cã quan hƯ lao ®éng, di chun lao

động từ nông thôn ra thành thị và quá trình đô thị hoá...

làm tăng thêm sức ép về việc làm và thất nghiệp cần phải

giải quyết.

Bảo hiểm thất nghiệp là chính sách đợc Đảng và Nhà nớc

ta rất quan tâm. Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp

hành Trung ơng Đảng khoá IX về tiếp tục sắp xếp, đổi mới,

phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nớc đã

nêu rõ cần khẩn trơng ban hành chính sách bảo hiểm thất

nghiệp theo hớng Nhà nớc, doanh nghiệp và ngời lao động

cùng chia sẻ trách nhiệm. Bộ luật Lao động đợc sửa đổi, bổ

sung năm 2002 đã quy định về bảo hiểm thất nghiệp, tại

Điều 140 của Bộ luật Lao động quy định Nhà nớc quy định

chính sách bảo hiểm xã hội nhằm từng bớc mở rộng và nâng

cao việc bảo đảm vật chất, chăm sóc, phục hồi sức khoẻ, góp

phần ổn định đời sống cho ngời lao động và gia đình

trong các trờng hợp ngời lao động ốm đau, thai sản, hết tuổi

lao động, chết, bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất

nghiệp, gặp rủi ro hoặc các khó khăn khác. Chính phủ quy

định cụ thể việc đào tạo lại đối với ngời lao động thất

nghiệp, tỷ lệ đóng bảo hiểm thất nghiệp, điều kiện và mức

trợ cấp thất nghiệp, việc thành lập, quản lý và sư dơng Q

b¶o hiĨm thÊt nghiƯp”; Lt B¶o hiĨm x· hội số

71/2006/QH11 thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006 và công

bố ngày 21/07/206, trong đó đã quy định về chế độ Bảo

hiểm thất nghiệp và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01

năm 2009. Để thực hiện các chính sách, chế độ về bảo hiểm

thất nghiệp theo quy định cần phải sớm nghiên cứu, xây

dựng cơ chế và mô hình thực hiện chính sách bảo hiểm

thất nghiệp.

Đề tài đợc chia làm 3 chơng:

- Chơng I: Cơ sở lý luận xây dựng cơ chế, mô

hình tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm thất

nghiệp.

- Chơng II: Thực trạng chính sách và việc thực hiện

chính sách đối với lao động thất nghiệp thời gian qua.

- Chơng III: khuyến nghị cơ chế, mô hình và các

giải pháp tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm thất

nghiệp ở Việt Nam trong thời gian tới.



10



Đây là những nghiên cứu đầu tiên về cơ chế, mô

hình tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm thất

nghiệp, có không ít các vấn đề đặt ra cần phải giải

quyết và áp dụng trong thực tế. Do thời gian và kinh

phí có hạn... nên việc nghiên cứu và đề xuất không

tránh khỏi những khiếm khuyết, thiếu sót. Rất mong

sự tham gia, đóng góp để chúng tôi hoàn thiện và

phục vụ trực tiếp cho công tác quản lý Nh nớc về bảo

hiểm thất nghiệp.



chơng I

Cơ sở lý luận xây dựng cơ chế, mô hình tổ chức thực

hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp



11



1. Một số khái niệm liên quan đến bảo hiểm thất

nghiệp:

1.1. Việc làm:

Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp

luật cấm đều đợc thừa nhận là việc làm ( Điều 13 của Bộ luật

Lao động năm 1994)

Giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi ngời có khả năng

lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của Nhà

nớc, của các doanh nghiệp và toàn thể xã hội.

1.2. Thôi việc:

Thôi việc đợc hiểu là việc chấm dứt hợp đồng lao động

giữa ngời ngời lao động và ngời sử dụng lao động.

1.3. Mất việc làm:

Mất việc làm đợc hiểu là ngời lao động đang làm việc

cho ngời sử dụng lao động bị mất việc làm.

Trong quy định hiện nay thì mất việc làm đợc quy

định trong trờng hợp do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ

mà ngời lao động đã làm việc thờng xuyên trong doanh

nghiệp không đợc ngời sử dụng lao động bố trí công việc

mới.

1.4. Thất nghiệp:

Thất nghiệp là tình trạng một bộ phận trong lực lợng lao

động muốn làm việc nhng không thể tìm đợc việc làm với

mức tiền công không thấp hơn mức lơng tối thiểu hiện hành.

Thất nghiệp là do cung về lao động vợt quá hoặc không

phù hợp về cơ cấu với cầu về lao động làm cho một bộ phận

ngời lao động không tìm đợc việc làm.

1.5. Ngời thất nghiệp:

Ngời thất nghiệp theo quy định của Luật Bảo hiểm xã

hội là ngời đang đóng bảo hiểm thất nghiệp mà bị mất việc

làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc

nhng cha tìm đợc việc làm.

1.6. Bảo hiểm thất nghiệp:

Bo him tht nghip là một biện pháp hỗ trợ người lao động trong nền

kinh tế thị trường. Bên cạnh việc hỗ trợ một khoản tài chính đảm bảo ổn định

cuộc sống cho người lao động trong thời gian mất việc thì mục đích chính của

bảo hiểm thất nghiệp là thơng qua các hoạt động đào tạo nghề, tư vấn, giới



12



thiệu việc làm, sớm đưa những lao động thất nghiệp tìm được một việc làm

mới thích hợp và ổn định.

1.7. Ngêi lao ®éng tham gia bảo hiểm thất

nghiệp:

Ngời lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp là công

dân Việt Nam làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp

đồng làm việc mà các hợp dồng này không xác định thời hạn

hoặc xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng với ngời sư dơng lao ®éng.

1.8. Ngêi sư dơng lao ®éng tham gia bảo hiểm

thất nghiệp:

Ngời sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp

là ngời sử dụng lao động có sử dụng từ 10 lao động trở lên.

1.9. Trợ cấp thất nghiệp:

Trợ cấp thất nghiệp là khoản tiền hàng tháng đợc trả cho

ngời lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp khi có đủ

điều kiện hởng bảo hiểm theo quy định của Luật Bảo hiểm

xã hội.

Điều kiện hởng bảo hiểm thất nghiệp: Đã đóng bảo

hiểm thất nghiệp đủ mời hai tháng trở lên trong thời gian hai

mơi bốn tháng trớc khi thất nghiệp; đã đăng ký thất nghiệp

với tổ choc bảo hiểm xã hội; cha tìm đợc việc làm sau 15

ngày đăng ký thất nghiệp theo quy định.

1.10. Ngời có viƯc lµm.

Ngêi cã viƯc lµm lµ ngêi lµm viƯc trong mọi lĩnh vực

ngành nghề, dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn

cấm, mang lại thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình,

đồng thời đóng góp một phần cho xã hội.

1.11. Ngời lao động có việc làm.

Ngời lao động có việc làm là ngời trong độ tuổi lao

động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân, với

thời gian làm việc không ít hơn mức chuẩn quy định cho

ngời lao động có việc làm trong tuần lễ điều tra. Tuỳ theo

tình hình kinh tế-xã hội và đặc điểm của từng nhóm

ngành nghề, Nhà nớc quy định mức thời gian làm việc chuẩn

để đợc coi là có việc làm.

1.12. Ngời lao động cha có việc làm.



13



Ngời lao ®éng cha cã viƯc lµm lµ ngêi lao ®éng cã nhu

cầu làm việc nhng cha tìm đợc việc làm hoặc đang làm

việc nhng với thời gian thấp hơn mức thời gian chuẩn do Nhà

nớc quy định.

1.13. Ngời lao động thiếu việc làm.

Ngời lao động thiếu việc làm là ngời trong khoảng thời

gian điều tra, có thời gian làm việc dới mức quy định chuẩn

cho ngời có đủ việc làm và có nhu cầu làm việc thêm. Mức

thời gian chuẩn tuỳ thuộc vào ngành nghề và tính chất công

việc do Nhà nớc quy định cụ thể cho từng thời kỳ.

2. Vai trò, vị trí và sự cần thiết của chính sách

bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam:

2.1. Vai trò:

- Đối với ngời lao động:

Chính sách bảo hiểm thất nghiệp sẽ bù đắp về thu

nhập cho ngời lao động khi bị mất việc làm, ngoài ra ngời

lao động bị thất nghiệp đợc đóng bảo hiểm y tế trong thời

gian bị thất nghiệp và đợc t vấn, giới thiệu việc làm, đào tạo

nghề để sớm quay trở lại thị trờng lao động.

- Đối với ngời sử dụng lao động:

Theo pháp luật lao động hiện hành thì trách nhiệm trả

trợ cấp thôi việc, mất việc làm là của doanh nghiệp, chính

sách bảo hiểm thất nghiệp sẽ chi trả trợ cấp bảo hiểm thất

nghiệp cho ngời lao động bị thất nghiệp thay cho việc chi

trả trợ cấp mất việc làm, thôi việc cho ngời lao động của

doanh nghiệp và tiến tới doanh nghiệp không phải trích tiền

vào quỹ dự phòng mất việc, thôi việc.

- Đối với cơ quan quản lý Nhà nớc và sự ổn định, phát

triển kinh tế xã hội của đất nớc:

Thất nghiệp trở thành một vấn đề xã hội, thì chính

sách đối với vấn đề thất nghiệp là một chính sách xã hội, nh

bao nhiêu chính sách xã hội khác, phải đợc Nhà nớc quan tâm.

Nhng không phải chỉ đa ra chính sách mà Nhà nớc phải trích

một khoản từ ngân sách để đóng góp vào quỹ bảo hiểm

thất nghiệp. Tham gia đóng góp vào quỹ bảo hiểm thất

nghiệp, Nhà nớc chỉ phải đóng 1/3 quỹ, nhng Nhà nớc có một

khoản tiền lớn để khắc phục hậu quả của tình trạng thất

nghiệp, để ổn định xã hội. Mặt khác, nhiều khi doanh

14



nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh, lao động

thất nghiệp không hẳn tại doanh nghiệp hay ngời lao động,

mà trách nhiệm này thuộc về Nhà nớc.

2.2. Một số nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm thất

nghiệp:

Thứ nhất, chế độ b¶o hiĨm thÊt nghiƯp ph¶i thĨ hiƯn

tÝnh x· héi, cã sự chia sẻ rủi ro.

Bảo hiểm thất nghiệp là hạt nhân của chính sách thị

trờng lao động, nằm trong hệ thống chính sách kinh tế-xã

hội, góp phần đảm bảo lợi ích của các bên trong quan hệ lao

động. Do vậy, bảo hiểm thất nghiệp có tính chất tơng trợ,

lấy số đông bù số ít, nếu không đồng thời quán triệt nguyên

tắc này thì các khoản trợ cấp sẽ chỉ đơn thuần là một

khoản tiền tiết kiệm trả muộn và ý nghĩe xã hội của bảo

hiểm thất nghiệp sẽ mất đi.

Từ những hạn chế của chế độ trợ cấp mất việc làm, thôi

việc trong các văn bản pháp luật trớc đây, cũng nh những qui

định trong Bộ luật Lao động, việc tham gia vào bảo hiểm

thất nghiệp phải là bắt buộc ®èi víi ngêi lao ®éng vµ ngêi sư

dơng lao ®éng. Những chủ thể này đều có trách nhiệm

tham gia bảo hiểm thất nghiệp và xem đây là một nội dung

trong hợp đồng lao động. Nhà nớc chỉ thực hiện chức năng

quản lý và hỗ trợ khi cần thiết.

- Thứ hai, chế độ bảo hiểm thất nghiệp phải thể hiện

mối quan hệ hữu cơ giữa đóng góp và thụ hởng.

Trong cơ chế thị trờng, đối với các hoạt động kinh

doanh, Nhà nớc chỉ thực hiện chức năng quản lý nên khi xây

dựng bảo hiểm thất nghiệp cần có tỷ lệ tơng xứng giữa

đóng góp với thụ hởng của ngời lao động, hạn chế tới mức

thấp nhất sự bù đắp của Nhà nớc đối với quỹ bảo hiểm thất

nghiệp.

Một trong các vai trò quan trọng của bảo hiểm thất

nghiệp là hỗ trợ cuộc sống cho ngời lao động khi bị mất thu

nhập do thất nghiệp gây nên. Do đó, việc qui định tỷ lệ hởng và thời gian hởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp hàng

tháng phải đảm bảo mức sống tối thiểu cho ngời lao động và

đợc cân đối với mức ®ãng gãp b¶o hiĨm thÊt nghiƯp tríc ®ã

15



cđa ngêi lao động. Khi xác định mức hởng trợ cấp bảo hiểm

thất nghiệp một mặt căn cứ vào khả năng chi trả của quỹ

bảo hiểm thất nghiệp, mặt khác còn phải khuyến khích ngời

lao động chủ động tìm kiếm việc làm nhằm thoát khỏi tình

trạng thất nghiệp. Đây là điểm khác biệt trong việc xác

định mức trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp so với các loại trợ cấp

bảo hiểm xã hội thông thờng. Nếu qui định tỷ lệ % hởng trợ

cấp bảo hiểm thất nghiệp quá thấp, thời gian đợc hởng quá ít

sẽ làm mất ý nghĩa của bảo hiểm thất nghiệp. Nếu qui định

mức trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp quá cao, thời gian hởng trợ

cấp kéo dài sẽ dẫn đến khó cân đối tài chính giữa thu và

chi bảo hiểm thất nghiệp, dễ gây tâm lý ỷ lại trông chờ vào

sự trợ giúp của bảo hiểm thất nghiệp, chấp nhận tình trạng

thất nghiệp để hởng trợ cấp mà không tích cực tìm việc

làm. Chính vì vậy để hạn chế tình trạng này, thời hạn hởng

trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp cần đợc qui định hợp lý, phải

căn cứ tình hình thùc tÕ cđa nỊn kinh tÕ - x· héi ViƯt Nam,

phù hợp với thông lệ và luật pháp quốc tế.

- Thứ ba, Quĩ bảo hiểm thất nghiệp phải đợc quản lý

thống nhất, dân chủ, công khai và hạch toán độc lập.

Do quĩ bảo hiểm thất nghiệp đợc hình thành từ sự

đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm thất nghiệp là: ngời

sử dụng lao động, ngời lao động và Nhà nớc nên hoạt động

của quỹ phải dựa trên nguyên tắc quản lý thống nhất, dân

chủ, công khai và hạch toán độc lập. Quỹ bảo hiểm thất

nghiệp do một cơ quan quản lý thống nhất từ trung ơng đến

địa phơng theo chế độ tài chính của Nhà nớc. Quỹ đợc sử

dụng vào các mục đích nh: Chi trả trợ cấp bảo hiểm thất

nghiệp cho ngời lao động; Chi cho các hoạt động tìm việc

làm cho ngời thất nghiệp; Chi cho công tác đào tạo, đào tạo

lại, học nghề cho ngời thất nghiệp; Chi phí cho hoạt động

của bộ máy quản lý bảo hiểm thất nghiệp Quỹ đợc hạch

toán thành từng mục riêng. Hoạt động của quỹ bảo hiểm thất

nghiệp có sự kiểm tra, giám sát của đại diện các bên tham

gia b¶o hiĨm thÊt nghiƯp. Q b¶o hiĨm thÊt nghiƯp đợc

quyết toán hàng năm và thông báo định kỳ về tình hình



16



thực hiện bảo hiểm thất nghiệp đối với ngời lao động, ngời

sử dụng lao động và cơ quan quản lý cấp trên.

Mức đóng góp phải phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội,

không là gánh nặng đối với doanh nghiệp và ngời lao động.

Tỷ lệ đóng góp phải tính toán cho phù hợp, bảo đảm không

ảnh hởng ®Õn cc sèng cđa ngêi lao ®éng, nhng còng Ýt

¶nh hởng đến giá thành sản phẩm, dịch vụ của doanh

nghiệp để doanh nghiệp còn có thể cạnh tranh trong nền

kinh tế thị trờng. Mức đóng góp này thờng qui định bằng tỷ

lệ % tiền lơng của ngời lao động. Do vậy, các qui định về

tiền lơng tối thiểu, định mức, đơn giá tiền lơng, thang

bảng lơng khi xây dựng phải đảm bảo tính đến yếu tố này.

Do vậy, quĩ bảo hiểm thất nghiệp là một quĩ tài chính

độc lập, tự thu, tự chi. Sau khi thành lập, quĩ phải độc lập

với ngân sách Nhà nớc để chủ động giải quyết vấn đề thất

nghiệp. Không đợc sử dụng quĩ này để giải quyết các vấn

đề xã hội khác.

- Thứ t, nhà nớc thống nhất quản lý

nghiệp.



bảo hiểm thất



Nguyên tắc này đợc qui định tại Điều 56 của Hiến pháp

1992 Nhà nớc qui định thời gian lao động, chế độ tiền lơng, chế độ nghỉ ngơi và chế độ bảo hiểm xã hội đối với

viên chức nhà nớc và những ngời làm công ăn lơng, khuyến

khích phát triển các hình thức bảo hiểm xã hội khác đối với

ngời lao động và Khoản 1 Điều 140 Bộ luật Lao động Nhà

nớc qui định chính sách bảo hiểm xã hội nhằm từng bớc mở

rộng và nâng cao việc bảo đảm vật chất, chăm sóc, phục hồi

sức khoẻ, góp phần ổn định đời sống cho ngời lao động và

gia đình trong các trờng hợp ngời lao động ốm đau, thai

sản, hết tuổi lao động, chết, bị tai nạn lao động, bệnh

nghề nghiệp, thất nghiệp, gặp rủi ro hoặc các khó khăn

khác. Nhà nớc thống nhất qu¶n lý b¶o hiĨm thÊt nghiƯp

thĨ hiƯn tríc hÕt ë việc Nhà nớc trực tiếp ban hành pháp luật

về bảo hiĨm thÊt nghiƯp, tỉ chøc thùc hiƯn vµ kiĨm tra việc

thực hiện chế độ này. Căn cứ vào tình hình ph¸t triĨn kinh

tÕ - x· héi ë tõng thêi kú mà Nhà nớc xây dựng chơng trình

17



Quốc gia về bảo hiểm thất nghiệp, các qui định pháp luật

về bảo hiểm thất nghiệp (nh thu hẹp hay mở rộng đối tợng

bảo hiểm thất nghiệp, điều kiện hởng và mức hởng).

Với t cách là ngời đại diện và thực hiện các chính sách xã

hội, Nhà nớc còn có trách nhiệm đóng góp vào quĩ bảo hiểm

thất nghiệp, áp dụng các biện pháp để bảo tồn giá trị quĩ và

làm cho quĩ tăng trởng. Ngoài ra, Nhà nớc thống nhất tổ

chức, quản lý sự nghiệp bảo hiểm thất nghiệp cho toàn xã hội

nhng không bao cấp, không lấy ngân sách để chi trả mà chỉ

hỗ trợ một phần.

Nhà nớc thống nhất tổ chức và quản lý toàn bộ sự

nghiệp bảo hiểm thất nghiệp không có nghĩa là loại bỏ hoàn

toàn sự tham gia của ngời lao động. Với t cách là ngời đại

diện cho tập thể lao động, những ngời lao động, công đoàn

trung ơng đợc quyền tham gia với Chính phủ trong các vấn

đề: xây dựng, thành lập hệ thống tổ chức bảo hiểm xã hội,

ban hành Qui chế về tổ chức, hoạt động của quỹ bảo hiểm

xã hội (Điều 150 BLLĐ). Các công đoàn địa phơng và cơ sở

tham gia cùng với các cấp chính quyền và ngời sử dụng lao

động trong việc thực hiện và giám sát việc thực hiện chế độ

bảo hiểm xã hội nói chung và bảo hiểm thất nghiệp nói riêng.

- Thứ năm, bảo hiểm thất nghiệp phải góp phần lành

mạnh hoá thị trờng lao động.

Bảo hiểm thất nghiệp không thể giải quyết những vấn

đề mang tính gốc rễ gây ra thất nghiệp Trợ cấp thất

nghiệp bản thân nó không thể giải quyết đợc vấn đề thất

nghiệp (William Beverigde). Do vậy, để giải quyết thất

nghiệp đòi hỏi phải có một chính sách tổng thể, đợc thiết

kế ®Ĩ kÝch thÝch nỊn kinh tÕ. Xu híng chung cđa các nớc

hiện nay là, ngoài trợ cấp cho ngời lao ®éng khi thÊt nghiƯp

cã ®iỊu kiƯn sinh sèng ngêi ta còn thực hiện thêm biện pháp

đào tạo lại ngời lao động để họ có điều kiện dễ tìm việc

làm mới. Vì vậy, bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam cần đợc

liên kết chặt chẽ với các biện pháp thị trờng lao động tích

cực nh: tạo ra chỗ làm việc mới, bảo vệ chỗ làm việc, nâng

cao năng lực cho ngời lao động, tìm việc làm cho ngời thất

18



nghiệp. Các biện pháp này luôn gắn liền với chính sách và

chơng trình việc làm quốc gia. Khi có bảo hiểm thất nghiệp

thì nên thống nhất với chơng trình việc làm quốc gia, coi

đây nh một biện pháp, chính sách hỗ trợ lao ®éng nh»m

®Èy lïi thÊt nghiÖp, nhanh chãng ®a ngêi thÊt nghiệp trở lại

làm việc.

3. Căn cứ pháp luật để xây dựng cơ chế và mô

hình thực hiện chính sách bảo hiĨm thÊt nghiƯp ë

ViƯt Nam:

- Lt Tỉ chøc ChÝnh phđ;

- Luật Bảo hiểm xã hội;

- Bộ Luật lao động đã đợc sửa đổi, bổ sung;

- Nghị định 86/2002/NĐ-CP ngày 05 tháng 11 năm 2002

của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và

cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ;

- Nghị định 83/2006/NĐ-CP ngày 17 tháng 08 năm 2006

của Chính phủ quy định trình tự, thủ tục thành lập, tổ chức

lại, giải thể tổ chức hành chính, tổ chức sự nghiệp Nhà nớc;

- Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 24 tháng 06 năm 2006

của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm

về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài

chính của các đơn vị sự nghiệp công lập;

- Các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.

4. Kinh nghiệm của một số nớc về mô hình và cơ

chế thực hiện b¶o hiĨm thÊt nghiƯp:

4.1. B¶o hiĨm thÊt nghiƯp ë Trung Quèc.

Hệ thống bảo hiểm thất nghiệp ở Trung Quốc Đại lục lần đầu tiên được

thiết lập vào năm 1986 khi Các điều khoản tạm thời về Bảo hiểm Thất nghiệp

cho nhân viên thuộc Doanh nghiệp Nhà nước (Các điều khoản tạm thời) được

Hội đồng Nhà nước ban hành. Trên thực tế, vào đầu năm 1951, luật pháp về

mối liên hệ an ninh xã hội được ban hành và các điều khoản bao gồm các

khoản trợ cấp ốm đau, thương tật ở nơi làm việc, thai sản, chăm sóc sức khoẻ,

nghỉ hưu và tử tuất. Tuy nhiên, các khoản trợ cấp thất nghiệp khơng bao gồm

trong đó bởi vì thất nghiệp không được mong đợi trong hệ thống cộng sản tại

thời điểm đó. Chỉ sau khi Trung Quốc mở rộng việc cải tổ và các doanh

nghiệp chuyển dụng sang nền kinh tế thị trường, nền kinh tế mà hệ thống việc

làm phải được thay đổi để tăng năng suất và sự cạnh tranh. Các doanh nghiệp

cũng bắt đầu xem xét việc bảo đảm nhu cầu cơ bản của nhân viên.

19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Trụ sở làm việc

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×