Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Sơ đồ 3.1: Tổ chức bộ máy Bảo hiểm thất nghiệp theo ngành dọc từ Trung ương tới địa phương

Sơ đồ 3.1: Tổ chức bộ máy Bảo hiểm thất nghiệp theo ngành dọc từ Trung ương tới địa phương

Tải bản đầy đủ - 0trang

mình, giúp việc thủ trưởng đơn vị có các phó thủ trưởng. Thủ

trưởng đơn vị, cấp phó của thủ trưởng đơn vị do Cục trưởng Cục

Việc làm bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Giám đốc Bảo

hiểm thất nghiệp.

b. Cơ chế tài chính:

- Cơ chế thu: Bảo hiểm thất nghiệp không thực hiện công tác

thu trực tiếp bảo hiểm thất nghiệp mà hoạt động thu này được gắn

kết với hoạt động thu bảo hiểm của Bảo hiểm xã hội. Bảo hiểm xã

hội thực hiện cơng tác thu tài chính đối với các loại hình bảo hiểm,

trong đó có bảo hiểm thất nghiệp. Tài chính thu từ bảo hiểm thất

nghiệp sau đó được chuyển giao cho Bảo hiểm thất nghiệp để thực

hiện công tác cân đối và quản lý tài chính.

- Cơ chế chi: Bảo hiểm thất nghiệp thực hiện chi trả trợ cấp

thất nghiệp, phí đào tạo nghề, phí tư vấn giới thiệu việc làm đối với

các đối tượng hưởng bảo hiểm thất nghiệp.

Nguồn lực tài chính đảm bảo:

a. Chi thường xuyên:

Trên cơ sở số nhân lực cả hệ thống khoảng 1.445-2.063

người, mức chi bình quân 55-60 triệu đồng/người/năm trong vòng

03 năm tới thì kinh phí chi thường xun hàng năm là: 74-109 tỷ

đồng/năm.

b. Chi đầu tư ban đầu:

- Trụ sở làm việc: Tổng diện tích trụ sở làm việc cần bố trí

khoảng 64.000-76.800m2. Nếu giá xây dựng bình qn khoảng 8

triệu/m2 thì tổng kinh phí xây dựng mới trụ sở (không bao gồm

quyền sử dụng đất) khoảng: 512-614,4 tỷ đồng.

Đối với 250-300 điểm tiếp nhận đặt tại quận/huyện, cụm

quận huyện căn cứ tình hình thực tế có thể thuê hoặc đầu tư đồng

thời với trụ sở chính, nguồn kinh phí được đảm bảo bởi Quỹ BHTN.

Trường hợp xây dựng mới thì tổng kinh phí cần đầu tư khoảng:

600-720 tỷ đồng.

- Trang thiết bị phục vụ công việc: theo định mức khoảng 30



75



triệu đồng/người (bao gồm các thiết bị phục vụ chung), thì tổng

kinh phí khoảng 433,5-618,9 tỷ đồng.

Như vậy, tổng kinh phí đầu tư ban đầu (phương án cao) theo

phương án này là 1.953,3 tỷ đồng. Việc đầu tư này không nhất

thiết phải thực hiện đồng thời tại các địa phương mà có thể chia

thành nhiều giai đoạn. Trước mắt tập trung cho các địa phương có

quy mơ thất nghiệp lớn và gặp nhiều khó khăn về diện tích làm

việc và tiếp đón người đến đăng ký thất nghiệp.

3.2.2.3. Tăng cường công tác phối hợp của các cơ quan quản lý

- Tăng cường công tác phối hợp giữa các cơ quan có liên

quan trong việc thực hiện chính sách BHTN như BHXH Việt Nam và

Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, để tạo điều kiện thuận lợi cho

người lao động khi tham gia và thụ hưởng BHTN, trước hết là BHXH

Việt Nam, ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, Tài chính, Nội

vụ, Cơng đồn, hạn chế thời gian giải quyết hưởng BHTN cho người

lao động ở hai cơ quan này bằng việc đơn giản hóa thủ tục hành

chính. Tăng cường cơng tác phối hợp giữa các cơ quan có liên

quan: trong việc thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp để tạo

điều kiện thuận lợi hơn nữa cho người lao động khi tham gia và thụ

hưởng chính sách bảo hiểm thất nghiệp, trước hết là ngành Lao

động - Thương binh và Xã hội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Tài chính,

Nội vụ, Cơng đồn.

Nâng cao vai trò của tổ chức cơng đồn trong việc bảo vệ

quyền lợi NLĐ trong đó có quyền lợi được đóng BHTN bắt buộc. Bởi

cơng đồn chính là tổ chức của NLĐ, thành lập và hoạt động để

bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ.

Đối với các tỉnh thành trong cả nước, các cấp uỷ, chính quyền

các cấp cần phải phối hợp đồng bộ với cơ quan BHTN tăng cường

hơn nữa công tác thanh tra, kiểm tra các đơn vị SDLĐ, kiểm tra số

lao động, tổng quỹ lương làm căn cứ đóng BHTN để tránh tình



76



trạng trốn đóng của một số chủ SDLĐ. Sở lao động thương binh và

xã hội chịu trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về BHTN. Bởi

vậy, trong thời gian tới Sở LĐTB & XH cần tiếp tục theo dõi, kiểm

tra giám sát tình hình triển khai chính sách BHTN trong thực tiễn,

đồng thời tiếp tục nghiên cứu để bổ sung và hoàn thiện chính sách

BHTN cho phù hợp. Bên cạnh đó, cơ quan lao động có trách nhiệm

tổ chức tốt việc giải quyết hồ sơ cho đối tượng hưởng trợ cấp thất

nghiệp và thực hiện tổ chức tư vấn, giới thiệu, đào tạo tay nghề

cho người lao động bị thất nghiệp để họ có điều kiện quay trở lại

thị trường lao động, để thực hiện tốt công việc này trong thời gian

tới Bộ LĐTB&XH cần thực hiện một số công việc sau đây:

+ Phối hợp cùng với cơ quan BHXH đẩy mạnh công tác tuyên

truyền sâu rộng nội dung của chính sách BHTN đến với người lao

động và người sử dụng lao động.

+ Tổ chức tốt việc tiếp nhận hồ sơ đăng ký thất nghiệp của

người lao động xem xét và giải quyết kịp thời hồ sơ của người thất

nghiệp để cơ quan BHXH tiến hành chi trả trợ cấp thất nghiệp đảm

bảo được quyền lợi cho người lao động.

+ Quản lý tốt đối tượng thất nghiệp như thống kê số lượng

lao động thất nghiệp chưa có việc làm đang hưởng trợ cấp thất

nghiệp, thống kê những người lao động bị thất nghiệp đã tìm kiếm

được việc làm mới để thơng báo kịp thời cho cơ quan BHXH ngừng

việc chi trả trợ cấp thất nghiệp. Đây là cơng việc rất quan trọng

đòi hỏi cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan lao động và cơ

quan BHXH.

3.2.2.4. Hoàn thiện phần mềm về thu - chi bảo hiểm thất nghiệp

Bộ LĐTB & XH cần hoàn thiện phần mềm quản lý bảo hiểm

thất nghiệp để thực hiện trên phạm vi cả nước, chia sẻ thơng tin

giữa các cơ quan có liên quan. Các cơ quan BHXH tại các tỉnh,

thành phố cần tập trung đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, máy móc



77



thiết bị, cài đặt mạng, sử dụng 01 cổng kết nối Internet cho BHXH

các huyện, Thành phố, xây dựng trang Web trọng tâm là phục vụ

công tác tin học để xây dựng bộ máy hành chính của cơ quan hoạt

động có hiệu quả theo hướng "một cửa" và hiện đại.

Bên cạnh đó, cần tăng cường cơ sở vật chất, cán bộ và kinh

phí cho các trung tâm giới thiệu việc làm để tiếp nhận, giải quyết

và quản lý người thất nghiệp. Ngoài đầu tư vào các trang thiết bị

đầy đủ, đồng bộ, yếu tố con người cần được quan tâm từ việc đào

tạo, bồi dưỡng nâng cao về nghiệp vụ, điều động bố trí kịp thời,

hợp lý để triển khai các phần mềm quản lý nghiệp vụ theo sự phân

cấp quản lý của BHXH Việt Nam. Thường xuyên theo dõi, hướng

dẫn đôn đốc, kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động CNTT của các

đơn vị trực thuộc để đưa vào tiêu chí thi đua khen thưởng của từng

đơn vị, cá nhân hàng tháng, quý, năm. Do đó nhận thức về ứng

dụng CNTT phục vụ công tác chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ,

công chức làm việc trên môi trường mạng của đơn vị ngày càng

được nâng cao

3.2.4. Tăng cường tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp

3.2.4.1. Đẩy mạnh cơng tác thông tin tuyên truyền

Tiếp tục tăng cường công tác thơng tin, tun truyền về

BHTN: Bằng nhiều hình thức phong phú và phù hợp cho từng đối

tượng là người sử dụng lao động và người lao động, thông qua các

phương tiện thông tin đại chúng, các ấn phẩm và thường xuyên tổ

chức các cuộc tuyên truyền, đối thoại trực tiếp với doanh nghiệp

và người lao động tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh

tế, vùng làng nghề...

Cần có kế hoạch truyền thông dài hạn (5 năm trở lên) về

BHTN đồng bộ từ Trung ương đến các địa phương:

- Ở Trung ương:

+ Cần có kế hoạch phối hợp thường xun với các cơ quan



78



thơng tấn báo chí ở Trung ương để phổ biến, giải thích các chế độ

chính sách về BHTN. Cần xây dựng chuyên mục trên Đài Truyền

hình và Đài Tiếng nói Việt Nam. Bên cạnh đó, cung cấp nội dung

và tạo điều kiện để các báo viết bài và đăng tải thường xuyên;

+ Tăng cường hơn nữa tổ chức hội thảo về công tác tuyên

truyền về BHTN, hội thảo chia sẻ kinh nghiệm công tác tuyên

truyền về BHTN;

+ Tổ chức họp báo định kỳ về chính sách BHTN;

+ Tổ chức hội nghị tuyên truyền về BHTN tại các khu công

nghiệp, khu chế xuất;

+ Bổ sung thêm các ấn phẩm tun truyền, đa dạng hóa các

hình thức tun truyền và phát hành đĩa về BHTN cho các địa

phương; Tăng cường hơn nữa đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị

phục vụ công tác tuyên truyền về BHTN như: màn hình, máy

chiếu, loa đài...

+ Cần có kế hoạch đưa chương trình giảng dạy về BHTN vào

các trường đại học, cao đẳng, trung học và các trường dạy nghề để

nâng cao ý thức, kiến thức về BHTN.

- Tại các địa phương:

Cần phối hợp thường xuyên với các báo, đài ở địa phương để

tổ chức tuyên truyền về BHTN. Phối hợp với các cơ quan liên quan,

đặc biệt là Liên đồn Lao động tỉnh, Đài phát thanh truyền hình, Sở

Văn hóa - Thơng tin tỉnh tiến hành tun truyền trực tiếp thông

qua phát hành các ấn phẩm về BHTN: tờ rơi, pa nơ, áp phích... Mỗi

tỉnh cần xây dựng một website về BHXH nói chung và BHTN nói

riêng để cung cấp các thông tin về thủ tục, văn bản pháp luật, văn

bản hướng dẫn về BHTN, đến với các doanh nghiệp và người lao

động. Hoặc xây dựng một website riêng về BHTN đồng bộ từ Trung

ương đến các địa phương để người lao động và người sử dụng lao

động có thể tiếp cận các thông tin về BHTN tại bất cứ nơi đâu.

Mặt khác, niêm yết công khai tại địa điểm tiếp nhận hồ sơ,



79



giấy tờ, đơn thư và giải quyết chế độ BHTN gồm: sơ đồ chỉ dẫn các

bộ phận công tác của cơ quan, tên bộ phận và cá nhân chịu trách

nhiệm giải quyết công việc; mẫu đơn, hồ sơ; thời hạn giải quyết

từng loại công việc và những điều cấm cán bộ, công chức không

được làm khi tiếp xúc, giải quyết công việc để các đơn vị tiện theo

dõi, tránh tình trạng phải đi lại nhiều lần.

+ Đối với các ban, ngành tại các quận, huyện: cần chú trọng

tuyên tuyền phổ biến chính sách BHTN trên hệ thống đài phát

thanh địa phương. Tăng cường tuyên truyền đối với đối tượng là

các cán bộ xã phường, bởi cán bộ này là những người nắm vững số

lượng và loại hình doanh nghiệp trên địa bàn, có vai trò quan trọng

trong việc thơng tin quản lý lao động nói chung và về BHTN nói

riêng.

+ Đối với các tổ chức cơng đồn các cấp: cần đẩy mạnh hơn

nữa vai trò của cơng đồn trong việc tun truyền, phổ biến chính

sách BHTN đặc biệt trong công tác phối hợp với cơ quan BHXH

trong việc thu BHTN và hướng dẫn người lao động đăng ký thất

nghiệp, làm các thủ tục hưởng BHTN đầy đủ và đúng thời hạn.

+ Tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền chế độ, chính

sách về BHTN với nhiều hình thức phù hợp với từng nhóm đối

tượng nhằm nâng cao nhận thức về BHTN, nhất là người lao động

ở vùng sâu vùng xa, ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ như phát tờ

rơi, báo chí, phim ảnh, phóng sự, sách hỏi đáp về BHTN, sách tìm

hiểu về BHTN... để người lao động và người sử dụng lao động thấy

rõ quyền lợi và trách nhiệm của mình trong việc tham gia về

BHTN.

+ Tổ chức các lớp tập huấn về BHTN cho người sử dụng lao

động, cán bộ cơng đồn của các doanh nghiệp hoặc có thể kết hợp

tuyên truyền BHTN trong các cuộc họp cơng đồn, họp Hội đồng

quản trị tại các doanh nghiệp...



80



+ Tăng cường công tác tuyên truyền thơng qua các câu lạc

bộ tìm hiểu về pháp luật tại các đơn vị nơi người lao động làm việc.

Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về chính sách BHTN.

+ Đẩy mạnh kết hợp liên ngành trong công tác tuyên truyền

BHTN như ngành Lao động – Thương binh và Xã hội, ngành Kế

hoạch và Đầu tư, Nội vụ, Cơng đồn với cơ quan BHXH, các khu

công nghiệp, khu chế xuất...

+ Cần gắn công tác tuyên truyền BHTN với công tác rà soát

đối tượng tham gia BHTN nhằm đưa ra các giải pháp để thúc đẩy

các đơn vị tham gia BHTN đầy đủ.

3.3.4.2. Tăng cường đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực cán bộ

Không ngừng nâng cao năng lực cán bộ: thông qua đào tạo,

bồi dưỡng và tập huấn nghiệp vụ, kỹ năng làm việc để thực hiện

BHTN, tư vấn, giới thiệu việc làm và dạy nghề.

Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực BHTN: Cả về kỹ

thuật và tài chính nhằm tranh thủ sự hỗ trợ về kinh nghiệm, về

nâng cao năng lực cán bộ, về mơ hình tổ chức và dự báo tài chính

quỹ BHTN.

Xây dựng giáo trình đào tạo riêng, thống nhất từ Trung ương

đến địa phương về chính sách BHTN, nghiệp vụ thực hiện BHTN, kỹ

năng tư vấn giới thiệu việc làm, kỹ năng đào tạo nghề và các kỹ

năng mềm đối với người lao động để đào tạo, tập huấn cho các

cán bộ thực hiện BHTN tại cơ quan BHXH các cấp và các cán bộ

làm công tác nhân sự tại các đơn vị...

Tăng cường hơn nữa các khóa tập huấn về BHTN cho các cán

bộ thực hiện chính sách từ quy trình thu đến quy trình giải quyết

hưởng BHTN.

3.3.4.3. Tăng cường cơng tác thanh tra, kiểm tra

Công tác thanh tra, kiểm tra là một nội dung quan trọng

không thể thiếu trong công tác thực hiện chính sách BHTN và cũng



81



là nhân tố quan trọng đảm bảo tăng thu và an toàn quỹ BHTN, qua

thực hiện tốt công tác kiểm tra sẽ đảm bảo cho quyền lợi của NLĐ

theo Luật quy định, góp phần nâng cao ý thức tự giác chấp hành

các quy định về BHTN của NLĐ và NSDLĐ, đảm bảo thu đúng, thu

đủ về quỹ BHTN. Chính vì tầm quan trọng của công tác thanh tra,

kiểm tra như vậy nên khi lập dự tốn hàng năm, khoản kinh phí chi

hỗ trợ cơng tác kiểm tra đã được bố trí thành một mục riêng trong

kinh phí quản lý bộ máy. Nội dung chính trong thanh tra kiểm tra

quản lý thu BHTN: Công tác kiểm tra là biện pháp nhằm tăng

cường pháp chế trong hoạt động thu BHTN, đảm bảo mọi NLĐ đều

được tham gia BHTN theo đúng quy định hiện hành. Qua công tác

kiểm tra để phát hiện những vi phạm trong thực hiện chính sách

BHTN, nộp chậm hoặc khơng nộp BHTN cho NLĐ của chủ SDLĐ.

Kịp thời phát hiện, ngăn chặn và có biện pháp xử lý nghiêm

các hành vi vi phạm, hành vi lạm dụng chính sách bảo hiểm thất

nghiệp để trục lợi. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra việc

thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp, đặc biệt tăng cường

công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện bảo hiểm thất nghiệp

của cơ quan bảo hiểm và của doanh nghiệp. Có chế tài xử phạt đủ

sức răn đe đối với các bên liên quan có sai phạm trong thực hiện

bảo hiểm xã hội, những doanh nghiệp chây ỳ, nợ đọng và trốn

tránh trách nhiệm bảo hiểm xã hội; nhằm bảo vệ quyền lợi hợp

pháp, chính đáng của người lao động tham gia bảo hiểm thất

nghiệp.

Thực hiện thường xuyên và đúng quy định các cuộc thanh tra

định kỳ trên. Bên cạnh đó cần có các cuộc thanh tra đột xuất tại

các đơn vị SDLĐ nhất là các DNNQD - nơi mà quyền lợi của NLĐ

hay bị vi phạm nhiều nhất, kịp thời phát hiện những sai phạm, điều

chỉnh và xử lý kịp thời để đảm bảo quyền lợi cho NLĐ.Giám đốc



82



BHXH các tỉnh cím bố trí cán bộ có đủ phẩm chất đạo đức, ý thức

trách nhiệm, năng lực chuyên môn nghiệp vụ làm công tác kiểm

tra; tăng cường chỉ đạo, tổ chức thực hiện kiểm tra theo kế hoạch

hàng năm và kiểm tra đột xuất nhằm kịp thời khắc phục, chấn

chỉnh những tồn tại, sai sót trong cơng tác quản lý đơn vị và giải

quyết các chế độ BHXH, BHYT cho người lao động; đồng thời cần

quan tâm hơn nữa trong việc theo dõi, đôn đốc kiểm tra việc thực

hiện các yêu cầu, kiến nghị, xử lý kết luận sau thanh tra, kiểm tra.

Tăng cường phối hợp trong cơng tác thanh tra, kiểm tra đối

với thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp trên. BHXH cần tổ

chức những đợt rà soát thường xuyên đến các doanh nghiệp tham

gia để nắm được thực tế tình hình SDLĐ tại các doanh nghiệp ra

sao, ý thức chấp hành quá trình tham gia như thế nào. Khi nhận

thấy dấu hiệu tiêu cực, BHXH sẽ kết hợp với các cơ quan quản lý

Nhà nước để có biện pháp kiểm tra cụ thể. Để thực hiện được công

tác này, cần sự phối hợp với chế độ đãi ngộ xứng đáng để khuyến

khích cán bộ Bảo hiểm. BHXH Tỉnh cũng cần phải triển khai trực

tiếp xuống BHXH các huyện, thành phố để cùng phối hợp nắm bắt

tình hình thực hiện ở từng địa phương, để từ đó đưa ra phương

hướng hoạt động cụ thể trong từng khu vực.

Như vậy, rà soát cũng cần kết hợp với sự phối hợp đa ngành.

Do BHTN có tính chất đặc thù liên quan đến rất nhiều ngành lĩnh

vực khác như lao động, tiền lương, việc thực hiện các luật như luật

doanh nghiệp, luật đầu tư, luật hợp tác xã, luật lao động. Bởi vậy,

sự kết hợp với các ngành khác liên quan đến các mảng hoạt động

của đơn vị là hết sức cần thiết, song lại chưa được BHXH tỉnh chú

trọng thực hiện trong những năm qua. Do đó, trong thời gian tới,

để cơng tác quản lý BHXH nói chung và cơng tác quản lý đối tượng

tham gia nói riêng được thực hiện tốt hơn, BHXH tỉnh cần thực hiện



83



phối hợp với các Sở, Ban ngành trong thanh tra, kiểm tra.

Phối hợp với Sở Lao động thương binh & xã hội, các Phòng

Lao động thương binh & xã hội từng huyện, thành phố kiểm soát

số đơn vị SDLĐ trên địa bàn tỉnh cũng như các HĐLĐ trong từng

đơn vị để xác định quan hệ lao động làm căn cứ tham gia BHTN.

Phối hợp với Cục thuế để đối chiếu tờ khai về lương trong hồ

sơ tham gia BHTN với tờ khai về lương để đóng thuế xem có khớp

nhau khơng. Tránh tình trạng cùng 1 doanh nghiệp nhưng có nhiều

bảng lương khác nhau để trốn tránh nghĩa vụ đóng BHTN.

Phối hợp với Ngân hàng, Kho bạc cũng để kiểm sốt tổng quỹ

lương của các đơn vị cho chính xác, đảm bảo công tác quản lý đối

tượng tham gia thực hiện tốt.

Sự phối hợp này cần được thể hiện rõ qua những đợt kiểm tra

liên ngành thường xuyên, thay vì chỉ kiểm tra trung bình mỗi năm

1 đến 2 lần như hiện nay. Đồng thời có thể áp dụng các hình thức

kiểm tra đột xuất xen kẽ với kiểm tra định kỳ.

3.4. Kiến nghị

3.4.1. Đối với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

Tổ chức rà soát, phát hiện, sửa đổi và bổ sung kịp thời các văn bản hướng

dẫn thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp. Tiếp tục tổ chức rà soát, phát hiện,

sửa đổi và bổ sung kịp thời các văn bản hướng dẫn thực hiện chính sách bảo hiểm

thất nghiệp; trong đó có nội dung về bảo hiểm việc làm nhằm bổ sung các quy định

nhằm hạn chế, ngăn ngừa thất nghiệp, đồng thời hoàn thiện các chế độ bảo hiểm

thất nghiệp hiện hành và quản lý lao động...; các văn bản hướng dẫn thi hành một số

điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp cho phù hợp với thực tế

triển khai thực hiện chính sách, như: vấn đề đối tượng áp dụng, hỗ trợ học nghề,

trình tự thực hiện (đăng ký có thể trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày chấm dứt hợp

đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, giải quyết hưởng bảo hiểm thất nghiệp),

trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người lao động, chi phí cho

hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm và cán bộ của trung tâm giới thiệu việc làm



84



đối với người thất nghiệp.

Khẩn trương ban hành các Nghị định hướng dẫn Bộ luật lao động về việc

làm, tuyển lao động, hợp đồng lao động, tiền lương, kỷ luật lao động và trách nhiệm

vật chất...và các văn bản hướng dẫn cụ thể về cơng chức, viên chức có liên quan đến

việc thực hiện BHTN.

Tiếp tục hoàn chỉnh và ban hành các thông tư hướng dẫn Nghị định

100/2012/NĐ-CP ngày 21.11.2012 của Chính phủ, Quyết định 55/2013/QĐ-TTg

ngày 3.10.2013 của Thủ tướng Chính phủ, Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày

22.8.2013 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, BHXH... và rà

soát các quy định hiện hành để bổ sung hồn thiện.

3.4.2. Đối với Thanh tra chính phủ, kiểm tốn Nhà nước

Hiện nay, chưa có thanh tra về BHTN mà thanh tra về lĩnh vực BHXH nói

chung do đó, cơng tác thanh tra về BHTN chưa thực sự hiệu quả. Việc phát hiện và

xử lý các vi phạm về BHTN chưa được triệt để, do đó trong thời gian tới cần thành

lập cơ quan thanh tra về lĩnh vực BHTN để kịp thời ngăn chặn và nghiêm trị các

hành vi vi phạm về BHTN đặc biệt là công tác thu BHTN.

Người lao động và người sử dụng lao động thông đồng để làm các thủ tục

thôi việc để hưởng BHTN, nhưng thực tế vẫn làm việc tại doanh nghiệp; người lao

động trong thời hạn nộp hồ sơ hưởng BHTN kể từ ngày đăng ký thất nghiệp đó có

việc làm nhưng vẫn nộp hồ sơ và hưởng trợ cấp thất nghiệp... Đây là vấn đề rất khó

kiểm sốt, cần có các biện pháp, chế tài xử lý nhằm ngăn ngừa các hành vi này, đảm

bảo đúng mục đích của chính sách.

Tổ chức thực hiện đúng, đầy đủ các quy định hiện hành về BHTN: Rà soát

các đối tượng tham gia BHTN; thực hiện việc thông báo biến động lao động của các

doanh nghiệp, tổ chức theo quy định theo quy định tại Nghị định 100/2012/NĐ-CP

ngày 21.11.2012 của Chính phủ và Thơng tư 04/2013/TT- BLĐTBXH ngày

1.3.2013 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội; thực hiện việc thông báo hằng

năm cho từng người lao động về việc đóng BHTN; chốt sổ BHXH về BHTN; tiếp

nhận và giải quyết hưởng BHTN theo phương châm 3 đúng ”đúng đối tượng, đúng

chế độ và đúng thời hạn”; tăng cường các giải pháp tích cực để tư vấn, giới thiệu

việc làm và hỗ trợ học nghề cho người thất nghiệp ngay từ khi người lao động đến



85



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Sơ đồ 3.1: Tổ chức bộ máy Bảo hiểm thất nghiệp theo ngành dọc từ Trung ương tới địa phương

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×