Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Đơn vị: triệu đồng

Đơn vị: triệu đồng

Tải bản đầy đủ - 0trang

Bảng 2.10: Tình hình sử dụng quỹ bảo hiểm thất nghiệp giai đoạn 2011-2015

Đơn vị: Triệu đồng

STT Năm

1

2

3

4

5



2011

2012

2013

2014

2015

Tổng



Số thu



Số chi



6.747.116

8.664.818

10.094.742

11.812.738

12.939.530

50.258.944



1.250.462

2.810.605

3.876.793

4.731.902

5.844.758

8.547.193



Tỷ lệ sử dụng quỹ

Kết dư quỹ

BHTN (%)

18,53

14.828.717

32,44

20.682.930

38,40

26.900.879

40,06

33.981.715

45,17

41.076.487

17,01

Nguồn: BHXH Việt Nam



Từ số liệu bảng trên cho thấy, tính đến hết 2015 tổng số tiền thu BHTN

(2011 – 2015) là 50.258.944 triệu đồng, số tiền đó chi trả từ 2011 đến nay là

8.547.193 triệu đồng, chiếm khoảng17,01% tổng số thu quỹ BHTN. Cân đối thu chi nguồn quỹ BHTN cuối năm 2015 đạt kết dư 41.076.487 triệu đồng. Mặc dù số

kết dư vẫn còn lớn tuy nhiên, nếu xét theo khía cạnh tỷ lệ sử dụng ngân quỹ hàng

năm có thể thấy chỉ trong vòng 5 năm từ 2011-2015, tỷ lệ sử dụng ngân quỹ đã tăng

vọt từ mức 18,53% lên đến 45,07% (tỷ lệ sử dụng quỹ đã tăng hơn 2,5 lần).

Ngân quỹ BHTN kết dư được BHXH Việt Nam quản lý, đưa vào đầu tư tăng

trưởng an toàn hiệu quả và đúng quy định của pháp luật. Sở dĩ ngân quỹ BHTN có

số kết dư lớn là do số thu năm 2009 chỉ thu không phải chi trả, năm 2010 và 2011

do mới thực hiện chi trả nhưng ở mức thấp và thời hạn hưởng là 3 tháng trợ cấp, từ

năm 2012 trở đi quỹ BHTN bắt đầu chi ra lớn hơn nhiều so với trước do số người

hưởng trợ cấp ngày càng tăng cao, thời gian hưởng dài hơn. Theo Báo cáo thu chi

của BHXH Việt Nam năm 2015, “nếu chính sách khơng kịp thời thay đổi thì số thu

BHTN về lâu dài là khó khăn trong việc cân đối thu chi”. Vấn đề đặt ra là cần có

phương án để đưa ra các khuyến nghị giải pháp để đảm bảo ngân quỹ đủ vận hành

lâu dài.

2.3.2. Đánh giá công tác quản lý Quỹ bảo hiểm thất nghiệp

Từ thực trạng cân đối thi-chi Quỹ bảo hiểm thất nghiệp, chúng ta thấy công

tác quản lý Quỹ bảo hiểm thất nghiệp thời gian qua đã đạt được những kết quả chủ



48



yếu sau:

Thứ nhất, đối tượng tham gia BHTN ngày càng được mở rộng. Việc mở rộng

đối tượng tham gia BHTN đã tạo điều kiện cho nhiều người lao động có thể tham

gia BHTN, đảm bảo quyền được tham gia BHTN của người dân một cách cơng

bằng. Nhờ đó đơn vị sử dụng lao động, số lao động tham gia BHTN liên tục tăng

qua các năm.

Việc mở rộng đối tượng tham gia BHTN, loại hình BHTN đã tạo điều kiện

cho người lao động có thể tự do di chuyển, lựa chọn nơi làm việc từ đơn vị này đến

đơn vị khác thuộc mọi thành phần kinh tế phù hợp với khả năng và nguyện vọng,

tạo ra sự bình đẳng giữa những người lao động trong các thành phần kinh tế. Đó là

một trong những điều kiện quan trọng để thúc đẩy sự phát triển của thị trường lao

động, phát huy và sử dụng triệt để năng lực lao động của từng người lao động, tạo

ra nhiều của cải xã hội. Sự tăng nhanh của các đối tượng tham gia BHTN là nền

tảng vững chắc của sự phát triển BHTN, và chỉ có sự tham gia tích cực của đơng

đảo người dân mới thực hiện được BHTN cho mọi người lao động.

Thứ hai, quá trình thu BHTN đã cơ bản đảm bảo thu đúng, thu đầy đủ, đúng

đối tượng, kịp thời và tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

Thời gian qua BHXH Việt Nam đã tập trung và áp dụng nhiều biện pháp để

tổ chức, thực hiện thu BHTN. Mặcdù còn nhiều khó khăn nhưng cơng tác thu

BHTN thời gian qua ln đạt được những kết quả tốt đẹp, năm sau luôn cao hơn

năm trước

Các bộ phận trong hệ thống thu BHTN đã thực hiện được chức năng và

nhiệm vụ của mình và từng bước đã có sự phối hợp.

Trong tổ chức thực hiện thu BHTN, BHXH Việt Nam và các phòng thu đã

chủ động thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, đồng thời chủ động phối hợp

với các cơ quan chức năng có liên quan khác trong q trình thu, đối chiếu, thanh

tra, kiểm tra, giám sát giải quyết các khiếu nại liên quan đến quá trình thu BHTN.

Thứ ba, mức thụ hưởng BHTN đã có tác động tích cực đến việc ổn định đời

sống của người lao động trong quá trình lao động và khi nghỉ hưu, mức hưởng đã

cơ bản đảm bảo cuộc sống cho hàng triệu người lao động khi gặp rủi ro khơng có

thu nhập hay khi hết khả năng lao động. Các chế độ chính sách BHTN được thực

hiện chặt chẽ, đúng đối tượng, đúng chế độ. Việc chi trả trợ cấp BHTN đảm bảo



49



đúng kỳ, đủ số tiền, tận tay không phiền hà cho người được hưởng, cụ thể:

Thứ tư, tài chính của quỹ BHTN đã bảo đảm hình thành một quỹ BHXH độc

lập, nguồn thu là từ đóng góp của các bên tham gia BHTN với mục tiêu tiến dần

đến cân đối, độc lập. Quỹ BHTN độc lập với NSNN, được quản lý tập trung, thống

nhất, hạch toàn độc lập thu, chi bảo tồn và phát triển theo luật định. Nhờ đó, bước

đầu tạo nên sự ổn định tài chính cần thiết để thực hiện các chế độ BHTN đối với

NLĐ, không phụ thuộc và ảnh hưởng đến nguồn NSNN.

2.4. Thành tựu và hạn chế trong công tác thu- chi của quỹ bảo hiểm thất

nghiệp giai đoạn 2011- 2015

2.4.1. Thành tựu đạt được

Nhận thức về quyền, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và người lao động đã

có bước chuyển biến cơ bản trong khi tham gia BHTN, do đó ý thức chấp hành

pháp luật về BHXH, BHTN ngày càng tiến bộ và được quan tâm hơn trước; từ đó

triển khai cơng tác thu, chi diễn ra nhanh chóng và thuận tiện hơn.

Công tác triển khai các hoạt động về BHTN được thực hiện khá đồng bộ, kịp

thời và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành Lao động – Thương binh và xã hội,

Tài chính, Tổ chức cơng đồn và hệ thống BHXH Việt Nam trong việc tuyên

truyền, kiểm tra, hướng dẫn tổ chức thực hiện, chia sẻ thông tin, giải quyết các

vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện.

Cơ quan BHXH được tổ chức theo hệ thống ngành dọc ở 3 cấp, có mạng lưới

chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH đến tận xã phường, thị trấn trong toàn quốc tạo

thuận lợi cho thực hiện thu, chi BHTN.

Quỹ BHTN được quản lý tập trung thống nhất, công khai, minh bạch theo cơ

chế quản lý tài chính của nhà nước, hàng năm đều được các cơ quan có thẩm quyền

kiểm tra, giám sát, kiểm toán định kỳ đúng quy định.

Cân đối thu - chi nguồn quỹ BHTN đạt kết dư trên 40.000 tỷ đồng vào cuối

năm 2015 (xem bảng 2.10), hàng năm số việc làm mới được tạo thêm là trên 1,6

triệu việc làm. Mặc dù số kết dư vẫn còn lớn, tuy nhiên cần tính tốn tới việc cân

đối thu chi trong năm của những năm sắp tới, bởi tỷ lệ sử dụng ngân quỹ ngày một

tăng nhanh (tăng hơn 2,5 lần từ 18% lên hơn 45% chỉ từ 2011-2015), nếu khơng có

biện pháp kịp thời kiểm sốt có thể dẫn tới mất cân đối thu chi.



50



2.4.2. Hạn chế

Tình trạng nợ đóng bảo hiểm thất nghiệp còn khá lớn: Nếu như năm 2011 số

nợ đọng bảo hiểm thất nghiệp là 374 tỷ đồng, thì đến năm 2012 số nợ đóng bảo

hiểm thất nghiệp là 545 tỷ đồng, trong đó nợ ngân sách là 372 tỷ đồng (chiếm

68,2% tổng số nợ). Tính đến 2015 số nợ bảo hiểm thất nghiệp là 311 tỷ đồng trong

đó ngân sách nhà nước hỗ trợ đóng bảo hiểm thất nghiệp nợ 37 tỷ đồng (chiếm 12%

tổng nợ bảo hiểm thất nghiệp).

Việc xác định chính xác số lượng đơn vị, những người thực tế làm việc tại

đơn vị mà thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp chưa được rà soát và quản

lý chặt chẽ. Tình trạng doanh nghiệp trốn đóng bảo hiểm cho người lao động còn

diễn ra hoặc lách luật bằng cách ký hợp đồng lao động/hợp đồng làm việc với người

lao động dưới 12 tháng để khơng phải đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao

động. Điển hình tại TP Hồ Chí Minh, theo phản ánh của cơ quan bảo hiểm xã hội

thành phố thì hiện nay khơng xác định được hết số doanh nghiệp và người lao động

thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp, cũng như chính xác tình trạng việc

làm hiện tại của người lao động đang được hưởng trợ cấp BHTN trên địa bàn thành

phố do số lượng này quá lớn.

Việc nhận tiền trợ cấp của người thụ hưởng còn chậm được giải quyết. Để

nhận tiền trợ cấp thất nghiệp người lao động phải đến 2 cơ quan là sở lao động

thương binh xã hội và BHXH tại địa phương, chưa thuận lợi cho người lao động và

việc chi trả trợ cấp thất nghiệp theo tháng, phổ biến thực hiện vào một ngày nhất

định trong tháng (áp dụng như chi trả chế độ hưu trí, mất sức lao động) do bộ máy

thực hiện bảo hiểm thất nghiệp chưa được tổ chức theo hệ thống ngành dọc, khó

khăn cho việc chỉ đạo và triển khai thực hiện. Tuy nhiên, chế độ trợ cấp thất nghiệp

chi theo ngày, nên người lao động thường nhận được trợ cấp thất nghiệp chậm hơn

nhiều so với thời gian nhận được Quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp, nên không

đảm bảo việc kịp thời hỗ trợ người lao động một khoản kinh phí để ổn định cuộc

sống trong thời gian tìm việc làm mới. Mặt khác, khi phát hiện các vấn đề vi phạm

sẽ khó xử lý theo quy định của pháp luật, nhất là đối với các trường hợp tạm dừng,

chấm dứt hưởng bảo hiểm thất nghiệp.



51



Chưa triển khai kết nối phần mềm quản lý bảo hiểm thất nghiệp của ngành

lao động- Thương binh và xã hội với cơ quan BHXH để phục vụ cho việc tiếp nhận

và giải quyết hưởng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động trong việc

hưởng các chế độ bảo hiểm thất nghiệp, giảm bớt thủ tục hành chính và kiểm tra,

kiểm sốt kịp thời khi thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp tránh tình trạng

gian lận, trục lợi Quỹ bảo hiểm thất nghiệp.

2.4.3. Nguyên nhân

2.4.3.1. Nguyên nhân khách quan

Một là, nhận thức của người lao động và người sử dụng lao động

- Nhận thức của người sử dụng lao động còn hạn chế trong việc thực hiện

trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với người lao động trong vấn đề bảo hiểm

thất nghiệp. Tình trạng doanh nghiệp phá sản, giải thể, nợ tiền bảo hiểm xã hội, trốn

đóng bảo hiểm xã hội còn phổ biến; doanh nghiệp chậm ban hành quyết định nghỉ

việc, thanh lý hợp đồng lao động. hay làm thủ tục chốt sổ chậm với cơ quan bảo

hiểm xã hội. Khơng ít trường hợp chủ DN trích tiền lương của người lao động để

đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế nhưng không nộp hoặc khi các cơ quan thanh

tra, xử lý thì DN mới chịu nộp.

- Nhận thức của người lao động về các quyền lợi được hưởng khi hưởng trợ

cấp thất nghiệp còn hạn chế. Phần lớn người lao động chỉ quan tâm đến tiền trợ cấp

thất nghiệp mà không chú ý đến quyền được giới thiệu việc làm và học nghề miễn

phí. Điều này cho thấy, cơng tác tun truyền về chính sách bảo hiểm thất nghiệp

chưa đúng mức, dẫn đến người lao động còn mơ hồ về bảo hiểm thất nghiệp.

Hai là, do thực trạng cầu của thị trường lao động Việt Nam

Số doanh nghiệp giải thể, phá sản, tạm dừng hoạt động... đang nóng lên kéo

theo sự khó khăn của NLĐ đó là thực tế đang diễn ra. Doanh nghiệp phá sản, giải

thể hoặc thu hẹp sản xuất cũng đồng nghĩa với việc thu hẹp nhân sự.

Chính điều này đã ảnh hưởng lớn tới nhu cầu tuyển dụng lao động của các

doanh nghiệp. Người thất nghiệp chủ yếu là lao động phổ thông, trong khi nhu cầu

lao động phổ thông ở nước ta rất lớn nên người lao động dễ tìm lại được việc làm

sau khi mất việc. Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng chủ yếu tuyển dụng lao động phổ

thông, dù người lao động có qua đào tạo họ cũng chỉ trả lương theo vị trí cơng việc



52



của lao động phổ thơng. Chính vì vậy, người lao động dường như khơng quá mặn

mà với chính sách đào tạo lại và giới thiệu việc làm của bảo hiểm thất nghiệp.

2.4.3.2. Nguyên nhân chủ quan

Một là, do cơ cấu tô chức quản lý chính sách bảo hiêm thất nghiệp hiện nay

Theo quy định thì BHXH Việt Nam chịu trách nhiệm thực hiện việc thu, chi

và quản lý quỹ BHTN, trong việc này BHXH Việt Nam triển khaithực hiện rất hiệu

quả do có một số lợi thế như được tổ chức theo ngành dọc 3 cấp là Trung ương,

tỉnh, cấp huyện, đối tượng tham gia BHTN cũng nằm trong đối tượng tham gia

BHXH và cuối cùng là BHXH Việt Nam đã có 15 năm kinh nghiệm quản lý quỹ tài

chính tập trung là quỹ BHXH, bảo hiểm y tế.

Trong khi đó ngành Lao động-Thương binh và Xã hội thực hiện việc tiếp

nhận và giải quyết các thủ tục hưởng chính sách BHTN, ở Trung ương là BHTN

trực thuộc Cục Việc làm, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội và ở địa phương là

Phòng BHTN, Trung tâm giới thiệu việc làm thuộc Sở Lao động-Thương binh và

Xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Tuy nhiên, do Phòng BHTN nghiệp

trực thuộc Trung tâm giới thiệu việc làm của Sở Lao động-Thương binh và Xã hội

hoạt động do địa phương quản lý nên việc chỉ đạo từ trên Trung ương xuống các địa

phương đã gặp phải những khó khăn nhất định.

Việc phối hợp giữa Cục Việc làm, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội với

BHXH Việt Nam còn chưa chặt chẽ, cơng tác phối hợp giữa hai ngành còn gặp

nhiều khó khăn.

Do vậy, thực hiện mơ hình hiện nay, người lao động bị thất nghiệp phải đến

hai ngành để làm thủ tục đăng ký thất nghiệp, hưởng các chế độ BHTN, gây khó

khăn cho người thất nghiệp. Hơn nữa, đây lại là hai ngành độc lập với nhau về tổ

chức. Do đó, các thủ tục hành chính phải qua rất nhiều khâu, gây khó khăn, phiền

hà cho người hưởng BHTN.

Hai là, do trình độ nguồn nhân lực còn hạn chế

Nhìn chung chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở Việt nam là chính sách mới

được đưa vào thực hiện từ năm 2009, do đó việc quản lý chính sách bảo hiểm thất

nghiệp còn nhiều bỡ ngỡ. Trong khi đó, nhiều cán bộ quản lý chính sách bảo hiểm

thất nghiệp có trình độ chun mơn chưa cao, chưa có bề dày kinh nghiệm.

Ba là, do cơng tác tuyên truyền, hỗ trợ người lao động cho chính sách bảo



53



hiểm thất nghiệp còn chưa thực sự được chú trọng

Là một chính sách mới được thực hiện trong vòng 6 năm trở lại đây nên hầu

hết người lao động còn chưa nhận thức đầy đủ về chính sách bảo hiểm thất nghiệp

và quyền lợi và trách nhiệm của mình trong thực hiện chính sách. Trong khi đó cơ

quan quản lý lại chưa thực sự chú trọng công tác tuyên truyền cho người lao động

hiểu rõ quyền lợi của mình, cũng như chưa đẩy mạnh tuyên truyền cho người sử

dụng lao động hiểu trách nhiệm và quyền lợi của họ trong việc tham gia bảo hiểm

thất nghiệp cho người lao động. Đặc biệt là đối với những huyện, xã thuộc vùng sâu

vùng xa.

Năm là, do công tác thanh tra, kiểm tra chấp hành bảo hiểm thất nghiệp còn

chưa phát huy được đầy đủ hiệu quả

Trong thời gian qua, cơ quan bảo hiểm xã hội vẫn chưa chú trọng tới công

tác thanh, kiểm tra. Số đợt kiểm tra, số lượng đơn vị thuộc diện kiểm tra còn thấp.

Cơng tác kiểm tra thực tiễn tại cơ sở còn chưa được tiến hành thường xuyên, hình

thức kiểm tra chủ yếu là qua giấy tờ, sổ sách. Trong khi đó, các biện pháp xử phạt

còn nhẹ, chưa thực sự kiên quyết. Do vậy, tình trạng nợ đọng bảo hiểm thất nghiệp

còn xảy ra nhiều.



54



TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

Toàn bộ chương 2 luận văn đã mang đến cái nhìn tổng quát

về quản lý thu-chi Quỹ bảo hiểm thất nghiệp trong giai đoạn 20112015. Thông qua các số liệu khảo sát, thu thập tài liệu tại tác giả

đã mô tả, đánh giá được thực trạng về cân đối thu-chi quỹ BHTN

trong các năm vừa qua.

Những ưu điểm đạt được: công tác triển khai các hoạt động về BHTN

được thực hiện khá đồng bộ, kịp thời, tình hình thu tài chính Quỹ bảo

hiểm thất nghiệp tăng trưởng với tỷ lệ ổn định và tăng dần qua các

năm, cân đối thu - chi nguồn quỹ BHTN đạt kết dư trên 40.000 tỷ đồng vào cuối

năm 2015.

Bên cạnh những ưu điểm đạt được thì vẫn còn tồn tại những

hạn chế: tình trạng nợ đóng bảo hiểm thất nghiệp còn khá lớn, việc xác định

chính xác số lượng đơn vị, những người thực tế làm việc tại đơn vị mà thuộc đối

tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp chưa được rà soát và quản lý chặt chẽ, việc

nhận tiền trợ cấp của người thụ hưởng còn chậm được giải quyết

Trên cơ sở những nguyên nhân tìm được, chương 3 của luận

văn sẽ đề ra một số giải pháp, khiến nghị nhằm cân đối thu chi để

đảm bảo phát triển Quỹ BHTN trong thời gian tới.



55



CHƯƠNG 3

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CÂN ĐỐI THU- CHI NHẰM ĐẢM BẢO PHÁT

TRIỂN QUỸ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TẠI VIỆT NAM

3.1. Tình hình kinh tế-xã hội và tình trạng thất nghiệp ở nước ta hiện nay

3.1.1. Tình hình kinh tế-xã hội ở nước ta hiện nay và những năm sắp tới

Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, Việt nam đã phát

triển nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung dựa trên sở hữu tập thể

về tư liệu sản xuất. Kết quả phát triển kinh tế kém đã buộc Việt

Nam phải chuyển sang thực hiện đổi mới từ tháng 12/1986, với

mục đích hình thành hệ thống thị trường dưới sự chỉ đạo của nhà

nước. Chương trình “đổi mới” được thực hiện theo giai đoạn, từng

bước khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân và đầu tư nước

ngoài, giải thể các hợp tác xã nơng nghiệp, và bỏ kiểm sốt giá cả

đối với nông sản.

Ngày nay Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế

thế giới. Năm 1995, Việt Nam gia nhập Vùng Mậu dịch Tự do

ASEAN, và đến năm 2007 gia nhập Tổ chức Thương Mại Thế giới.

Xuất khẩu tăng từ mức 36% GDP năm 1990 lên 50% năm 2000 và

lên 80% năm 2012. Đồng thời, tỷ trọng GDP của các ngành cơ bản

(nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp) giảm từ mức 40% năm

1990 xuống 23% năm 2000, và sau đó giảm chậm hơn, xuống mức

20% năm 2012. Khu vực dịch vụ khá ổn định, dao động xung

quanh mức gần 40% GDP.

Sự thay đổi cơ cấu kinh tế kéo theo thay đổi của cơ cấu việc

làm như thấy ở Bảng 3.1. Khu vực các ngành cơ bản (nông nghiệp,

lâm nghiệp và ngư nghiệp) chiếm 62% lực lượng cơng nhân vào

năm 2000, hiện còn dưới một nửa lượng công nhân. Số lượng việc

làm trong khu vực dịch vụ, công nghiệp và xây dựng gần ngang

nhau.



56



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đơn vị: triệu đồng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×