Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nguồn: Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Nguồn: Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Tải bản đầy đủ - 0trang

Bảng 2.5: Chi trả trợ cấp thất nghiệp giai đoạn 2011-2015

Chi trả trợ cấp

thất nghiệp

Số người

Số tiền chi trả



Đơn vị

tính

Người

Triệu

đồng



Năm 2011



Năm 2012



Năm 2013



Năm 2014



Năm 2015



291.302



421.048



454.840



459.870



463.859



1.080.718



2.531.646



3.549.338



4.356.789



5.423.211



Nguồn: Bảo hiểm Xã hội Việt Nam

Số người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng có xu hướng

tăng qua 5 năm. Xu hướng gia tăng chi trợ cấp thất nghiệp tăng mạnh trong năm

2012 và năm 2012. Năm 2011 số tiền chi trả trợ cấp thất nghiệp là 1.080.718 triệu

đồng thì đến hết năm 2012 là 2.531.646 triệu đồng (tăng 134%); riêng chi năm 2013

là 3.549.338 triệu đồng (tăng 40% so với năm 2012). Năm 2014 và năm 2015, số

chi trả trợ cấp thất nghiệp tiếp tục tăng lên lần lượt là 4.356.789 triệu đồng và

5.423.211 triệu đồng. Sở dĩ có tỷ lệ tăng này là do số người hưởng tăng lên, đồng

thời từ tháng 01/2012 bắt đầu có cả đối tượng hưởng trợ cấp thất nghiệp với thời

gian 06 tháng, tiền lương tối thiểu chung tăng dẫn đến mức đóng BHTN tăng, kéo

theo đó mức hưởng BHTN cũng tăng.

- Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp

Kể từ ngày 01/01/2012, có nhiều lao động đủ điểu kiện hưởng trợ cấp thất

nghiệp 6 tháng. Riêng trong năm 2012 có 177.652 người được hưởng trợ cấp thất

nghiệp 6 tháng chiếm 42% số người được hưởng trợ cấp thất nghiệp, số người có

quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp 3 tháng là 243.396 người chiếm 58%. Một số

địa phương có tỷ lệ người lao động hưởng trợ cấp thất nghiệp với thời gian 6 tháng

rất cao so với tổng số người có quyết định hưởng như: Lai Châu: 81,6% (31 người),

Quảng Ninh: 68,5% (1.388 người), Cao Bằng: 64,3% (252 người), Gia Lai: 62,2%

(862 người)...

Trong năm 2015, có 331.813 người được hưởng trợ cấp thất nghiệp 6 tháng

chiếm 50,96% số người được hưởng trợ cấp thất nghiệp, tăng 30,5% so với năm

2014 (277.652 người); số người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp 3 tháng là

223.026 người chiếm 49,04% số người được hưởng trợ cấp thất nghiệp, giảm 8,4%

so với năm 2014 (243.396 người).

Những vùng có tỷ lệ người lao động hưởng trợ cấp thất nghiệp cao với thời



39



gian 6 tháng như: vùng Tây Nguyên, vùng Tây Bắc, vùng Đồng bằng Sông Hồng,

vùng Nam Trung Bộ, vùng Đông Nam Bộ lần lượt là: 62,6%, 57,85%, 55,94%,

54,4%, 50,74%. Trong đó, một số địa phương có tỷ lệ gười lao động hưởng trợ cấp

thất nghiệp với thời gian 6 tháng rất cao so với số người có quyết định hưởng trợ

cấp thất nghiệp. Tuy nhiên, hầu như đều là những địa phương có ít người hưởng trợ

cấp thất nghiệp như: Điện Biên: 74,75% (74 người), Lai Châu: 73,02% (46 người),

Quảng Ninh: 72,47% (2.375 người), Gia Lai: 72,16% (1.345 người), Kom Tum:

70,56% (429 người).

Những địa phương có số người hưởng trợ cấp thất nghiệp mức 6 tháng như

sau: Hà Nội 59,4%; Đồng Nai 55,9%; TP. Hồ Chí Minh 54,84%; Long An 45,4%.

Có 25 địa phương có tỷ lệ người hưởng trợ cấp thất nghiệp mức 6 tháng thấp hơn số

người hưởng trợ cấp thất nghiệp mức 3 tháng, tập trung chủ yếu tại Đồng bằng

Sông Cửu Long, vùng Đông Bắc. Trong đó một số địa phương có tỷ lệ số người

hưởng trợ cấp thất nghiệp mức 6 tháng thấp như: Bắc Giang 31,6%, Lạng Sơn

36,46%, Tiền Giang 40,17%, Bắc Ninh 40,7%, Bình Dương 40,85%.

- Đối tượng hưởng trợ cấp thất nghiệp

Theo báo cáo của BHXH Việt Nam thì giai đoạn 2011 – 2015 trong tổng số

người được hưởng trợ cấp thất nghiệp có 27.328 người thuộc khu vực sự nghiệp

cơng được hưởng chính sách BHTN. Đây là con số khơng nhiều vì khu vực sự

nghiệp cơng việc có tính chất ổn định cao. Tuy nhiên, con số này phản ánh được

thực tế là khu vực này cũng có nguy cơ mất việc làm và việc tham gia BHTN của

người lao động và người sử dụng lao động trong khu vực này là hoàn toàn phù hợp.

- Mức trợ cấp thất nghiệp

Mức lương bình qn đóng BHTN của người tham gia BHTN ngày càng

tăng (Năm 2011 và năm 2012, 2013 giao động trong khoảng 2 triệu đồng/tháng,

năm 2014 và năm 2015 khoảng 2,5 triệu đồng/tháng). Do vậy, mức hưởng trợ cấp

thất nghiệp bình quân hàng tháng của người lao động cũng có xu hướng tăng nhẹ.

Tỷ lệ những người có mức hưởng tối đa so sánh với số người có quyết định hưởng

trợ cấp thất nghiệp rất nhỏ (giao động trong khoảng 0,05 - 0,1%). Số người có mức

hưởng trợ cấp thất nghiệp cao mức tối đa vẫn tập chung ở 2 thành phố lớn là TP. Hồ

Chí Minh (chiếm 3,1% số người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp) và TP. Hà



40



Nội (chiếm 5% số người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp). Các địa phương

có mức hưởng cao nhất chiếm tỷ lệ lớn hầu như tập chung ở các địa phương có kinh

tế phát triển với nhiều doanh nghiệp u cầu người lao động có trình độ, kỹ thuật

cao nên mức lương của người lao động ở đây được trả cao do đó mức hưởng cũng

cao.

Tại các tỉnh, thành phố lớn có tổng thu BHTN cao thì mức chi BHTN cũng

chiếm tỷ lệ cao. Xét riêng chi trợ cấp thất nghiệp, TP. Hồ Chí Minh đứng đầu cả

nước, tiếp theo đó là các tỉnh Đồng Nai, TP. Hà Nội, Bình Dương. Với tỷ lệ mức thu

trung bình chiếm khoảng gần 50% và mức chi trung bình chiếm khoảng hơn 65%

của cả nước, việc thực hiện chính sách ở 4 địa phương lớn này rất cần phải được

quan tâm ở cả cấp Trung ương và địa phương, ngoài việc đầu tư vào nhân sự, cơ sở

hạ tầng, việc xây dựng các mơ hình, cơ chế phối hợp thực hiện chính sách giữa

ngành Lao động - Thương binh & Xã hội và ngành BHTN tại các địa phương này là

hết sức quan trọng giống như mơ hình mà TP. Hồ Chí Minh hay tỉnh Bình Dương

đã và đang thực hiện.

2.2.2. Chi trả chế độ hỗ trợ học nghề

Theo quy định hiện nay, BHXH thực hiện chi tiền hỗ trợ học nghề theo tháng

cho người lao động. Nhưng thực tế người lao động học nghề phải nộp tiền học phí

theo từng khóa học. Do đó, gây khó khăn cho người lao động trong q trình học

nghề và gây khó khăn cho việc tìm cơ sở đào tạo nghề tiếp nhận người thất nghiệp

tham gia học nghề của Trung tâm Giới thiệu việc làm.

Bảng 2.6: Tình hình chi trả hỗ trợ học nghề năm 2011-2015

Hỗ trợ học

nghề

Số người

Số tiền chi trả



Đơn vị

tính

Người

Triệu



Năm 2011



Năm 2012



Năm 2013



Năm 2014



Năm 2015



1.036

629



4.776

2.156



10.610

4.430



14.231

6.789



18.789

7.895



Nguồn: BHXH Việt Nam

Từ Bảng số liệu trên cho thấy: Số tiền chi trả cho việc hỗ trợ học nghề chiếm

tỷ lệ rất nhỏ trong tổng số chi cho các chế độ BHTN: năm 2011 là 629 triệu đồng

(chiếm 0,05%), năm 2012 là 2.156 triệu đồng (chiếm 0,076%), năm 2013 là 4.430

triệu đồng (chiếm 0,114%), năm 2014 là 6.789 triệu đồng (chiếm 0,143%), năm



41



2015 là 7.895 triệu đồng (chiếm 0,135%). Nguyên nhân là do người lao động có

tâm lý chú trọng đến khoản trợ cấp thất nghiệp mà khơng quan tâm đến học nghề,

có địa phương khơng có người học nghề trong năm qua.

Theo báo cáo của BHXH các địa phương thì tất cả những người đang hưởng

trợ cấp thất nghiệp có nguyện vọng học nghề đều được cơ quan lao động tổ chức để

hỗ trợ học nghề theo đúng quy định của pháp luật; số lượng người được hỗ trợ học

nghề tăng qua từng năm, cụ thể như sau: năm 2011 là 1.036 người; năm 2012 là

4.776 người, bằng 460% so với năm 2011; năm 2013 là 10.610 người và tăng 122%

so với năm 2012, năm 2014 và năm 2015 lần lượt là 14.231 người và 18.789 người

Tuy nhiên, tỷ lệ lao động thất nghiệp tham gia học nghề so với tổng số

người hưởng trợ cấp thất nghiệp chỉ xấp xỉ khoảng 1% mặc dù số lượng người thất

nghiệp tham gia học nghề vẫn tăng khá nhanh với số lượng năm sau gấp nhiều lần

năm trước. Số lượng người được hỗ trợ học nghề năm 2011 chiếm 0,035% tổng số

người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp, tỷ lệ này năm 2013 là 2,33% và năm

2015 là 4,05.

Do số lượng người thất nghiệp tham gia học nghề rất thấp nên số tiền chi

cho hoạt động học nghề cũng thấp so với số tiền trợ cấp thất nghiệp. Nguyên nhân

của tình trạng này là do nhu cầu của các doanh nghiệp đang cần tuyển lao động phổ

thông (không cần đào tạo) là rất lớn, nên người lao động dễ tìm kiếm việc làm mới

sau khi thất nghiệp; dù người lao động đó qua đào tạo thì doanh nghiệp tuyển lao

động vào làm việc chỉ trả lương theo vị trí cơng việc cũng giống như lao động phổ

thông; người lao động chưa nhận thức đầy đủ về việc học nghề để nâng cao trình độ

nhằm đáp ứng những vị trí, cơng việc tốt hơn. Ngoài ra, một nguyên nhân quan

trọng là do mức hỗ trợ học nghề thấp trong điều kiện người lao động khơng có dự

trữ hay các nguồn khác để đảm bảo sinh hoạt và cuộc sống khi tham gia học nghề.

Ở khía cạnh tổ chức, do chính sách BHTN còn mới nên thời gian vừa qua các Trung

tâm Giới thiệu việc làm chủ yếu cố gắng giải quyết tốt chế độ trợ cấp thất nghiệp

mà chưa đầu tư một cách “nghiêm túc” cho hoạt động này. Cũng vì thế nên khi hoạt

động chi trả trợ cấp thất nghiệp đó đi vào nề nếp, nhiều Trung tâm Giới thiệu việc

làm đã chú trọng tới khía cạnh khác của chính sách BHTN, do vậy số lượng người



42



thất nghiệp tham gia học nghề đó có xu hướng tăng nhanh hơn trong thời gian gần

đây.



43



Bảng 2.7: Tỷ lệ số người hỗ trợ học nghề so với số người hưởng trợ cấp của

một số tỉnh các năm 2012-2015

Đơn vị : %

NĂM



Tỉnh

Hà Nội

TP. Hồ Chí Minh

Bắc Ninh

Vĩnh Phúc

Thái Ngun

Hải Phòng

Sơn La

Hà Tĩnh

Bình Thuận



2012

2013

2014

2015

1,14

2,16

5,20

4,00

0,09

0,03

1,32

4,80

11,76

3,38

2,40

6,67

0

8,47

17,00

1,11

1,86

8,76

4,30

13,63

0

0

0

6,44

0

2,94

0

0

1,89

0,07

0

0,07

2,50

6,29

3,20

3,65

Nguồn: Bộ lao động Thương binh và Xã hội, Cục Việc làm



Tình hình hỗ trợ học nghề tại các địa phương:

- Năm 2012: có 23 địa phương có người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp

được hỗ trợ học nghề, trong đó những địa phương dẫn đầu về tỷ lệ số người học

nghề so với số người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp lần lượt là tỉnh Bắc

Ninh 11,76%, Bình Thuận: 2,5%, Hà Tĩnh: 1,89%, Thái Nguyên: 1,86% và TP. Hà

Nội 1,14%.

- Năm 2013: có 26 địa phương có người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp

được hỗ trợ học nghề, trong đó những địa phương dẫn đầu về tỷ lệ số người học

nghề so với số người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp lần lượt là Thái

Nguyên 8,76%, Vĩnh Phúc: 8,47%, Bình Thuận: 6,29%, Bắc Ninh: 3,38% và Sơn

La 2,94%.

- Năm 2014: có 29 địa phương có người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp

được hỗ trợ học nghề, trong đó những địa phương dẫn đầu về tỷ lệ số người học

nghề so với số người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp lần lượt là Vĩnh Phúc:

17%, Hà Nội: 5,2%, Thái Nguyên: 4,3%, Bình Thuận: 3,2% và Bắc Ninh: 2,4%.

- Năm 2015: có 42 địa phương có người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp

được hỗ trợ học nghề, trong đó những địa phương dẫn đầu về tỷ lệ số người học

nghề so với số người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp lần lượt là: Thái



44



Nguyên: 13,63%, Bắc Ninh: 6,67%, Hải Phòng: 6,44%, TP.Hồ Chí Minh: 4,8%, Hà

Nội: 4%. Tuy nhiên, tại rất nhiều vùng, công tác hỗ trợ học nghề còn yếu. Trong

năm 2015 có vùng khơng có hoặc có rất ít lao động hưởng trợ cấp thất nghiệp được

hỗ trợ học nghề như: Tây Bắc (0 người), Tây Nguyên (17 người), Bắc Trung Bộ (44

người). Những ngành nghề chủ yếu người lao động đăng ký học là: tin học văn

phòng, các nghề về ẩm thực và thẩm mỹ, sửa chữa máy vi tính, điện dân dụng và

cơng nghiệp, thiết kế quảng cáo, lái xe...

2.2.3. Chi trả chế độ bảo hiểm y tế

Từ năm 2010, mức đóng bảo hiểm y tế là 4,5% tiền lương, tiền cơng bình

qn/tháng. Như vậy, số tiền chi từ quỹ BHTN để đóng bảo hiểm y tế cho người

thất nghiệp sẽ tăng nhanh qua từng năm. Theo số liệu của Bảo hiểm xã hội Việt

Nam, số tiền chi đóng bảo hiểm y tế năm 2011 là 44,8 tỷ đồng; số tiền chi đóng bảo

hiểm y tế năm 2012 là 111,4 tỷ đồng và năm 2013 là 148,02 tỷ đồng; số tiền chi

đóng bảo hiểm y tế năm 2015 là 148,025 tỷ đồng. Như vậy, chi chế độ bảo hiểm y

tế từ quỹ BHTN cũng là một khoản chi khá lớn và có xu hướng tăng trong những

năm tới:

Bảng 2.8: Tình hình chi chế độ bảo hiểm y tế giai đoạn 2011-2015

Đóng BHYT cho

người hưởng TCTN

Số người

Số tiền



Đơn vị

tính

Người

Triệu



2011

289.181



44.805



2012



2013



2014



2015



421.048



473.777



498.789



501.232



111.442 148.025 166.980 189.092

Nguồn: Bộ lao động Thương binh và Xã hội



Theo đánh giá của nhiều địa phương, việc cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người

thất nghiệp còn nhiều hạn chế, nhất là ở giai đoạn đầu, ảnh hưởng đến quyền lợi của

người lao động khi không may bị ốm đau, tai nạn, thai sản...

Cơ quan Bảo hiểm xã hội cấp huyện thực hiện việc chi trả trợ cấp thất nghiệp

cho người lao động tại trụ sở hoặc đại lý chi trả tại xã vào một ngày nhất định trong

tháng (áp dụng như chi trả chế độ hưu trí, mất sức lao động). Tuy nhiên, chế độ trợ

cấp thất nghiệp chi theo ngày, chế độ hưu trí chi theo tháng. Do vậy, người lao động

thường nhận được trợ cấp thất nghiệp chậm hơn nhiều so với thời gian nhận được

Quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp, nên không đảm bảo việc kịp thời hỗ trợ



45



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nguồn: Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×