Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ QUỸ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP

LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ QUỸ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP

Tải bản đầy đủ - 0trang

phải thấy rằng, cho dù chế độ BHTN có những đặc điểm chung của chế độ BHXH,

nhưng nó cũng có những đặc điểm riêng khác với các chế độ khác trong cùng hệ

thống. Đó là, BHTN gắn liền với vấn đề việc làm và tạo việc làm, do vậy về đối

tượng, mục đích, quỹ, cơng tác quản lý... đều có những vấn đề riêng biệt

Như vậy, có thể đưa ra khái niệm bảo hiểm thất nghiệp như sau:

BHTN là sự hỗ trợ một phần thu nhập cho người lao động bị mất thu nhập

do thất nghiệp và hỗ trợ họ sớm quay trở lại thị trường lao động. [16]

BHTN là bảo hiểm bồi thường cho người lao động bị thiệt hại về thu nhập do

bị mất việc làm để họ ổn định cuộc sống và có điều kiện tham gia vào thị trường lao

động.

Như vậy, mục đích của BHTN là trợ giúp về mặt tài chính cho người thất

nghiệp để họ ổn định cuộc sống cá nhân và gia đình trong một chừng mực nhất

định, từ đó tạo điều kiện cho họ tham gia vào thị trường lao động để có những cơ

hội mới về việc làm. Vì thế, một số nhà kinh tế học cho rằng BHTN là hạt nhân của

thị trường lao động và nằm trong chính sách kinh tế xã hội của quốc gia. Chính sách

này trước hết vì lợi ích của người lao động và người sử dụng lao động sau nữa là vì

lợi ích xã hội.

BHTN cũng là một loại hình bảo hiểm con người, song nó có một số đặc

điểm khác như: khơng có hợp đồng trước, người tham gia và hưởng thụ quyền lợi là

một, khơng có việc chuyển rủi ro của những người bị thất nghiệp sang những người

khác có khả năng thất nghiệp. BHTN khơng có dự báo chính xác về số lượng và

phạm vi và có thể bị thiệt hại về kinh tế rất lơn, đặc biệt là trong những thời kỳ nền

kinh tế bị khủng hoảng.

Ở đây có một số điểm cần nhấn mạnh.

- Mức hỗ trợ thu nhập dựa trên cơ sở đóng góp của người lao động trước khi

bị thất nghiệp.

- Người lao động tham gia BHTN, khi thất nghiệp sẽ được hỗ trợ về tư vấn

giới thiệu việc làm, đào tạo nghề để có thể sớm tìm được việc làm, gia nhập lại thị

trường lao động.

Như vậy, bên cạnh việc hỗ trợ một khoản tài chính đảm bảo ổn định cuộc

sống cho người lao động trong thời gian mất việc làm thì mục đích chính của

BHTN là thông qua các hoạt động đào tạo nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm, sớm



7



đưa những lao động thất nghiệp tìm được một việc làm mới thích hợp và ổn định.

Nguồn tài chính hỗ trợ cho người thất nghiệp được lấy từ quỹ BHTN.

Quỹ BHTN là quỹ tiền tệ tập trung, được hình thành từ sự đóng góp của các

bên tham gia BHTN, theo nguyên tắc cộng đồng chia sẻ rủi ro, khơng vì mục đích

lợi nhuận. Quỹ này được dùng để trợ cấp cho người lao động bị thất nghiệp, nhằm

đảm bảo ổn định đời sống cho họ và gia đình.

1.1.2. Vai trò của bảo hiểm thất nghiệp

BHTN có vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội của mỗi quốc

gia, đó là:

- Bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi mất việc làm

Trong quan hệ lao động không thể tránh khỏi các trường hợp người lao động

bị mất việc làm, do đó cần có mối quan hệ tương tác lẫn nhau giữa ba bên: Người

sử dụng lao động, cơ quan BHXH và người lao động để đảm bảo bù đắp thu nhập

cho người lao động khi mất việc làm. Người sử dụng lao động có trách nhiệm đóng

góp khoản tiền BHTN cho người lao động đang làm việc cho mình và người lao

động cũng phải có trách nhiệm đóng góp một phần tiền lương của mình để tự bảo

hiểm cho mình. Sự đóng góp của người sử dụng lao động và người lao động phải là

khoản đóng góp bắt buộc và theo các quy định về mức đóng, định kỳ đóng cho cơ

quan BHXH. Cơ quan BHXH được giao nhiệm vụ quản lý thu, chi BHXH và chỉ

khi nào bên được bảo hiểm (người lao động) có đủ điều kiện cần thiết mới được

hưởng các khoản thu nhập từ nguồn quỹ BHXH.

- Phân phối lại thu nhập

Trong thực tế, chỉ có một bộ phận người lao động bị mất việc làm trở thành

thất nghiệp do các nguyên nhân thực tế khách quan và không ai muốn mất việc làm

để được hưởng trợ cấp từ quỹ BHTN. Do đó, số người hưởng trợ cấp thất nghiệp tất

yếu ít hơn số người tham gia đóng góp bắt buộc vào quỹ BHTN. Từ đó hình thành

ngun tắc BHTN là “lấy số đơng bù số ít”. Nguyên tắc này thể hiện việc phân phối

lại thu nhập giữa những người lao động có thu nhập khác nhau, giữa những người

có thu nhập cao và thu nhập thấp, giữa những người đóng góp đều đặn và khơng

đều đặn vào quỹ BHTN. Từ đó cũng cho thấy rằng, khả năng, vai trò của BHTN

khơng những phân phối lại thu nhập mà còn góp phần thực hiện cơng bằng xã hội.

- Động viên người lao động hăng hái làm việc



8



Khi người lao động đang làm việc sẽ có thu nhập, còn khi mất việc làm do

các nguyên nhân khách quan họ được hưởng trợ cấp thất nghiệp. Như vậy, người

lao động đã có “phao an tồn” để đảm bảo cuộc sống cho họ và BHTN là chỗ dựa

vững chắc khi tạm thời khơng có việc làm. “Phao an tồn” đó sẽ làm cho người lao

động gắn bó với công việc, với địa chỉ làm việc và yên tâm, tích cực làm việc để

tăng thêm nguồn thu nhập và cũng từ đó có điều kiện tăng mức đóng BHTN để lúc

nào đó có thể sẽ được BHTN. Đó là quan hệ hai chiều mang tính chất tích cực của

BHTN đối với người lao động.

- Hình thành quỹ để phát triển sản xuất - kinh doanh

Do việc huy động BHTN bắt buộc đối với người lao động, cũng như người

sử dụng lao động và được nhận phần hỗ trợ của ngân sách Nhà nước, nên đã tồn

tích thành quỹ tiền tệ tập trung trong thời điểm nhàn rỗi có thể đầu tư một phần vào

các hoạt động kinh tế để sinh lời, tăng thêm nguồn thu cho quỹ BHTN. Khoản đầu

tư này vừa góp phần phát triển sản xuất - kinh doanh, vừa đảm bảo an toàn cho quỹ

BHTN khỏi bị mất giá để chi trả trợ cấp BHTN cho người lao động.

- Tạo điều kiện gắn bó giữa lợi ích của Nhà nước và người lao động

Đứng trên quan điểm xã hội, BHTN là một biện pháp dàn trải rủi ro, thiệt hại

theo cả không gian và thời gian, chia sẻ những rủi ro, thiệt hại cho số đông người,

từ đó tăng thêm khả năng giải quyết rủi ro, thiệt hại cho số ít người lao động khi đã

tham gia BHTN.

Về phía Nhà nước, chi BHTN cho người lao động là khoản chi nhỏ hơn thu

nhập khi họ đang làm việc, nhưng vẫn phải giải quyết tốt những rủi ro, thiệt hại,

khó khăn về đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần ổn định và an

tồn xã hội, còn đối với người sử dụng lao động và người lao động cũng vì đó mà

có lợi và bảo vệ được quyền lợi của mình.

1.1.3. Đặc điểm của bảo hiểm thất nghiệp

BHTN tạo điều kiện mở rộng khả năng khống chế và khắc phục hậu quả đối

với các rủi ro do mất việc làm và khơng có thu nhập, đảm bảo duy trì mức sống tối

thiểu cho người lao động và ràng buộc chặt chẽ trách nhiệm của các bên tham gia

quan hệ lao động. BHTN còn là một chính sách nằm trong hệ thống các chính sách

kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia và có những đặc điểm cơ bản là:



9



- Đối tượng áp dụng BHTN là những người trong độ tuổi lao động, có sức

lao động, bị mất việc làm nhưng ln sẵn sàng trở lại làm việc. Ngược lại, trong

BHXH, đối tượng được hưởng trợ cấp là những người lao động tham gia BHXH

đang làm việc và cả những người nghỉ hưu...

- Dự báo đối tượng của BHTN khó khăn hơn đối với một số chế độ BHXH

khác (chế độ hưu trí, tử tuất...) vì thất nghiệp chịu sự chi phối của nhiều yếu tố tác

động như sự dịch chuyển lao động trong cơ chế thị trường, do thay đổi cơ cấu sản

xuất, thay đổi công nghệ, do lực lượng lao động có tính ln chuyển lớn khi các

doanh nghiệp thiếu tính bền vững, ổn định sản xuất - kinh doanh hoặc do bản thân

người lao động, nhất là lao động nhập cư thường hay thay đổi nơi làm việc và nơi

cư trú...

- BHTN không chỉ dừng ở việc thu và chi tiền bảo hiểm mà còn gắn liền với

tình trạng cung, cầu trên thị trường lao động, với các dòng di chuyển lao động.

Trong BHTN, đòi hỏi phải vừa nhận đăng ký thất nghiệp, kiểm tra các điều kiện

BHTN của người đăng ký, vừa phải nắm chắc thông tin về thị trường lao động để

môi giới, giới thiệu việc làm, đào tạo và đào tạo lại nghề hoặc tổ chức việc làm tạm

thời cho người thất nghiệp. Bên cạnh đó còn thực hiện các chính sách hỗ trợ người

thất nghiệp tự hành nghề, hỗ trợ các doanh nghiệp nhận người thất nghiệp vào làm

việc.

- BHTN xuất phát từ quan hệ lao động nhưng khi thực hiện lại chủ yếu thuộc

lĩnh vực việc làm. Việc trợ giúp tài chính cho người lao động bị thất nghiệp để sớm

ổn định cuộc sống luôn gắn liền với việc giải quyết việc làm cho họ. Do đó, BHTN

vừa có chức năng đảm bảo hỗ trợ tạm thời cho người thất nghiệp khi bị mất việc

làm nhưng đồng thời còn tìm mọi cách đưa người thất nghiệp trở lại với thị trường

lao động. Trong khi đó BHXH có mục đích trợ cấp chủ yếu là nhằm bù đắp cho

người lao động khi gặp phải các trường hợp bị ngừng hoặc bị mất thu nhập.

Xuất phát từ những đặc điểm trên cho thấy, BHTN chính là sự bù đắp những

rủi ro về thu nhập của người lao động để họ có điều kiện tham gia vào thị trường lao

động. BHTN với mức chi trả trợ cấp thất nghiệp sẽ góp phần đảm bảo cuộc sống

cho người lao động khi bị mất việc làm. Với ý nghĩa này, BHTN là một phạm trù

kinh tế - xã hội mang tính nhân đạo xã hội sâu sắc.



10



1.1.4. Các nguyên tắc của bảo hiểm thất nghiệp

Các nguyên tắc cơ bản của BHTN được hiểu là những phương hướng, tư

tưởng chủ đạo, xuyên suốt và chi phối toàn bộ hệ thống. Cụ thể bao gồm:

1.1.4.1. Mỗi người lao động đều có quyền được bảo hiểm thất nghiệp trong

trường hợp mất việc làm

Quyền được BHTN là Bảng hiện cụ thể về quyền con người, đó là quyền của

người lao động trong q trình làm việc đã có đóng góp cho quỹ BHTN, phải được

hưởng trợ cấp thất nghiệp khi mất việc làm có thể luôn luôn xảy ra một cách ngẫu

nhiên. Về nguyên lý là như vậy, nhưng trong thực tế lại có một khoảng cách do phụ

thuộc vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước trong từng giai đoạn.

Những quyền đó khơng phải là có sẵn một cách ngẫu nhiên mà do mỗi nước phải tự

mình xây dựng hệ thống BHTN trên cơ sở điều kiện môi trường kinh tế - xã hội,

môi trường luật pháp để tạo cho người sử dụng lao động và người lao động thực

hiện trách nhiệm đóng góp tài chính của mình vào quỹ BHTN. Nếu khơng có sự

đóng góp thì sẽ khơng có quyền được hưởng BHTN, mặc dù chính sách BHTN có

tồn tại trong thực tế.

1.1.4.2. Chế độ bảo hiểm thất nghiệp phải thể hiện tính xã hội, có sự chia sẻ rủi

ro

BHTN là "hạt nhân" của chính sách thị trường lao động, nằm trong hệ thống

chính sách kinh tế - xã hội, góp phần đảm bảo lợi ích của các bên trong quan hệ lao

động. Do vậy, BHTN có tính chất tương trợ, lấy số đơng bù số ít. Nếu khơng qn

triệt ngun tắc này thì ý nghĩa xã hội của BHTN sẽ mất đi.

Việc tham gia vào BHTN là bắt buộc đối với người lao động và người sử

dụng lao động. Những chủ thể này đều có trách nhiệm tham gia BHTN và xem đây

là một nội dung trong hợp đồng lao động. Nhà nước chỉ thực hiện chức năng quản

lý và hỗ trợ khi cần thiết.

1.1.4.3. Chế độ bảo hiểm thất nghiệp phải thể hiện mối quan hệ hữu cơ giữa

đóng góp và hưởng thụ

Trong cơ chế thị trường, đối với các hoạt động kinh doanh, Nhà nước chỉ

thực hiện chức năng quản lý, nên khi xây dựng BHTN cần có tỷ lệ tương xứng giữa



11



đóng góp với hưởng thụ của người lao động, đảm bảo ở chừng mực hợp lý sự bù

đắp của Nhà nước đối với quỹ BHTN.

Một trong các vai trò quan trọng của BHTN là hỗ trợ cuộc sống cho người

lao động khi bị mất thu nhập do thất nghiệp gây nên. Do đó, việc quy định mức

hưởng và thời gian hưởng trợ cấp BHTN phải đảm bảo mức sống tối thiểu cho

người lao động và được cân đối với mức đóng góp BHTN trước đó (q trình làm

việc có đóng bảo hiểm trước đó) của người lao động. Khi xác định mức hưởng trợ

cấp BHTN một mặt căn cứ vào khả năng chi trả của quỹ BHTN, mặt khác còn phải

thực hiện các hỗ trợ, khuyến khích người lao động tìm kiếm việc làm nhằm thốt

khỏi tình trạng thất nghiệp. Đây là điểm khác biệt trong việc xác định mức trợ cấp

BHTN so với các loại trợ cấp BHXH thông thường. Nếu quy định tỷ lệ phần trăm

hưởng trợ cấp BHTN quá thấp (mức trợ cấp quá thấp), thời gian được hưởng quá ít

sẽ làm mất ý nghĩa của BHTN. Nếu quy định mức trợ cấp BHTN quá cao, thời gian

hưởng trợ cấp kéo dài sẽ dẫn đến khó cân đối tài chính giữa thu và chi BHTN, dễ

gây tâm lý ỷ lại trông chờ vào sự trợ giúp của BHTN, chấp nhận tình trạng thất

nghiệp để hưởng trợ cấp mà khơng tích cực tìm việc làm. Chính vì vậy, để hạn chế

tình trạng này, thời hạn hưởng trợ cấp BHTN cần được quy định hợp lý, phải căn cứ

tình hình thực tế của nền kinh tế - xã hội của mỗi nước, phù hợp với thông lệ và luật

pháp quốc tế.

1.1.4.4. Bảo hiểm thất nghiệp phải góp phần lành mạnh hóa thị trường lao

động

BHTN không thể giải quyết những vấn đề mang tính gốc rễ gây ra thất

nghiệp. Do vậy, để giải quyết thất nghiệp đòi hỏi phải có một chính sách tổng thể,

được thiết kế khoa học để kích thích nền kinh tế. Xu hướng chung của các nước

hiện nay là, ngoài trợ cấp cho người lao động khi thất nghiệp có điều kiện sinh sống

người ta còn thực hiện thêm biện pháp đào tạo lại người lao động để họ có điều kiện

dễ tìm việc làm mới. Vì vậy, BHTN cần được liên kết chặt chẽ với các biện pháp thị

trường lao động tích cực như: Tạo ra chỗ làm việc mới, bảo vệ chỗ làm việc, nâng

cao năng lực cho người lao động, tìm việc làm cho người thất nghiệp. Các biện

pháp này ln gắn liền với chính sách và chương trình việc làm quốc gia. Do đó,



12



cần thiết có sự phối hợp giữa BHTN với chương trình việc làm quốc gia, coi đây

như một biện pháp, chính sách hỗ trợ lao động nhằm đẩy lùi thất nghiệp, nhanh

chóng đưa người thất nghiệp trở lại làm việc.

1.1.4.5. Ngân quỹ bảo hiểm thất nghiệp đóng vai trò quan trọng trong hoạt

động của bảo hiểm thất nghiệp

Cũng như ngân quỹ của một doanh nghiệp, ngân quỹ BHTN đảm nhận vai

trò duy trì hoạt động của bộ máy tổ chức quản lý trong hoạt động của cơ quan bảo

hiểm. Ngoài ra nó còn thực hiện chức năng :

Một là, đảm bảo các hoạt động thu, chi theo kế hoạch chi thường xun và

khơng thường xun, đảm bảo tính bền vững của hệ thống BHTN không bị gián

đoạn.

Hai là, thực hiện chức năng điều tiết, cụ thể là mức trợ cấp, mức đóng theo

chính sách BHTN của nhà nước, góp phần lành mạnh hóa thị trường lao động.

Ba là, thực hiện chức năng quản lý vĩ mô của Nhà nước : Đảm bảo an sinh xã

hội cho người dân, qua việc thu – chi giúp Nhà nước đưa ra các chính sách kịp thời

và phù hợp với xu hướng phát triển của đất nước nói chung, góp phần phát triển

hoạt động của cơ quan BHTN nói riêng.

1.2. Tổng quan về Quỹ bảo hiểm thất nghiệp

1.2.1. Khái niệm Quỹ bảo hiểm thất nghiệp

1.2.1.1. Khái niệm

Ngày 29/6/2006, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XI tại kỳ

họp thứ 9 đã thơng qua Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH), trong đó có quy định chế độ

bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), chế độ bảo hiểm này có hiệu lực thực hiện từ ngày

01/01/2009. Từ ngày 01/01/2015, chế độ bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) sẽ thực hiện

theo quy định của Luật Việc làm 2013, thay cho quy định của Luật Bảo hiểm xã hội

2006. Theo đó, Quỹ BHTN là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách

Nhà nước.

Quỹ BHTN là tập hợp đóng góp bằng tiền của các bên tham gia bảo hiểm:

người lao động, người sử dụng lao động, Nhà nước nhằm mục đích chi trả cho các

chế độ BHTN và đảm bảo hoạt động của hệ thống BHTN.

Quỹ BHTN được tổ chức hoạt động dựa trên các nguyên tắc sau:



13



- Bảo đảm chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

- Mức đóng bảo hiểm thất nghiệp được tính trên cơ sở tiền lương của người

lao động.

- Mức hưởng bảo hiểm thất nghiệp được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian

đóng bảo hiểm thất nghiệp.

- Việc thực hiện bảo hiểm thất nghiệp phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo

đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia.

- Quỹ bảo hiểm thất nghiệp được quản lý tập trung, thống nhất, công khai,

minh bạch, bảo đảm an toàn và được Nhà nước bảo hộ.

Hiện nay, chế độ BHTN tại Việt Nam được thực hiện gồm có 4 nội dung là:

- Trợ cấp thất nghiệp.

- Hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm.

- Hỗ trợ Học nghề.

- Hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc

làm cho người lao động.

1.1.2.2. Đặc điểm

Quỹ BHTN có những đặc điểm đặc trưng sau:

- Là một quỹ tiền tệ tập trung, giữ vị trí là khâu tài chính trung gian trong hệ

thống tài chính quốc gia. Là tổ chức tái chính nằm giao thoa giữa ngân sách nhà

nước với các tổ chức tài chính Nhà nước, tài chính doanh nghiệp và sau đó là tài

chính dân cư.

- Phân phối quỹ BHTN vừa mang tính hồn trả, vừa mang tính khơng hồn

trả. Tính khơng hồn trả của quỹ BHTN được áp dụng đối với người đã tham gia

BHTN trong suốt quá trình lao động.

- Sự ra đời, tồn tại và phát triển của BHTN gắn liền với chức năng vốn có

của nhà nước là vì quyền lợi của người lao động chứ khơng vì mục đích kiếm lời,

đồng thời nó cũng phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội và điều kiện lịch

sử trong từng thời kì của từng quốc gia. Khi nền kinh tế càng phát triển thì càng có

nhiều chế độ BHTN được thực hiện, và bản thân từng chế độ cùng được áp dụng

rộng rãi hơn, nhu cầu thoả mãn về BHTN đối với người lao động càng được nâng

cao và họ càng có khả năng tham gia vào nhiều chế độ bảo hiểm xã hội.

- Một mặt, quỹ BHTN mang tính tiêu dùng được thể hiện thơng qua mục

tiêu, mục đích của nó là chi trả cho các chế độ BHTN. Nhưng mặt khác nó lại mang

tính dự trữ vì thơng thường, khi người lao động đóng góp vào quỹ BHTN thì họ



14



khơng được sử dụng quỹ này khi gặp trường hợp thất nghiệp mà phải có đủ thời

gian dự bị.

- Hoạt động của quỹ BHTN đặt ra yêu cầu và hình thành tất yếu chế độ tiết

kiệm bắt buộc của xã hội và người lao động dành cho rủi ro bị thất nghiệp. Đó cũng

là q trình phân phối lại thu nhập của cá nhân và cộng đồng.

1.1.2.3. Đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp

Theo Luật Việc làm 2013, đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp

gồm có:

1. Người lao động phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp khi làm việc theo hợp

đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc như sau:

a) Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc không xác định thời hạn;

b) Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc xác định thời hạn;

c) Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một cơng việc nhất định có thời

hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng.

Trong trường hợp người lao động giao kết và đang thực hiện nhiều hợp đồng

lao động quy định tại khoản này thì người lao động và người sử dụng lao động của

hợp đồng lao động giao kết đầu tiên có trách nhiệm tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

2. Người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này đang hưởng lương

hưu, giúp việc gia đình thì khơng phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

3. Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm cơ quan

nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ

chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ

chức xã hội - nghề nghiệp; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động

trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình, hộ kinh doanh, tổ

hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng

làm việc hoặc hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều này.

1.2.2. Quản lý Quỹ bảo hiểm thất nghiệp và các nội dung liên quan đến thuchi Quỹ bảo hiểm thất nghiệp

1.2.2.1. Khái niệm quản lý Quỹ bảo hiểm thất nghiệp và sự cần thiết phải quản

lý Quỹ bảo hiểm thất nghiệp

Khái niệm

Quỹ BHTN là một quỹ tiền tệ ngoài ngân sách nhà nước, được cấu thành dựa



15



trên đóng góp của người lao động, chủ sử dụng lao động và còn có thể được đóng

góp từ ngân sách nhà nước. Ở đây, việc quản lý quỹ bao hàm tất cả các hoạt động

liên quan đến việc thu, chi và cân đối thu chi quỹ BHTN. Việc quản lý quỹ BHTN

do nhà nước trực tiếp quản lý tập trung, thống nhất, có vai trò hết sức quan trọng

trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước từng thời kỳ. Nhà nước

chủ động thu, chi, quản lý loại quỹ này theo các quy định của pháp luật hiện hành,

nhằm thực hiện sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế.

Sự cần thiết phải quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp

Quỹ bảo hiểm thất nghiệp là một bộ phận của tài chính bảo hiểm thất nghiệp.

Nguồn hình thành quỹ bảo hiểm thất nghiệp hoàn toàn phụ thuộc vào mức độ thu

nhập. Nếu thu nhập của quỹ bảo hiểm thất nghiệp cao thì người lao động khi bị thất

nghiệp được hưởng các chế độ bảo hiểm thất nghiệp với mức cao, còn nếu thu nhập

thấp thì ngược lại, hay nói một cách khác nó tỷ lệ thuận với thu nhập.

Quản lý quỹ BHTN được thực hiện trên cơ sở tuân thủ các chính sách, chế

độ tài chính được Nhà nước quy định. Hoạt động BHTN khơng nhằm mục đích

hồn toàn vào lợi nhuận mà nhằm đảm bảo cân đối, an toàn quỹ để thực hiện nhiệm

vụ thúc đẩy sự ổn định, phát triển xã hội và an ninh cuộc sống cho người thất

nghiệp và gia đình họ. Việc hoạch quản lý quỹ BHTN phải tính đến khả năng thu

nhập của chủ sử dụng lao động và người lao động trong từng thời kỳ phát triển kinh

tế - xã hội. Do đó, cần phải tính tốn một cách khoa học để xác định ra một tỷ lệ

đóng cần thiết và có biện pháp điều chỉnh tỷ lệ đóng nhằm đảm bảo cân đối quỹ lâu

dài, không ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh cũng như đời sống của người tham

gia đóng bảo hiểm thất nghiệp.

Nguyên tắc hoạt động tự cân đối thu - chi, quỹ bảo hiểm thất nghiệp phải

thường xuyên được bổ sung các nguồn tài chính từ các hoạt động đầu tư sinh lời

theo quy định của pháp luật. Bộ phận quỹ tài chính của bảo hiểm thất nghiệp dùng

để đầu tư sinh lời phải được thực hiện theo các hình thức đa dạng, lựa chọn các dự

án để đầu tư theo cơ chế thị trường, phù hợp với môi trường đầu tư và tự chịu trách

nhiệm về mức độ hiệu quả cũng như rủi ro trong đầu tư tài chính. Quản lý, kiểm tra,

kiểm sốt tài chính đối với quỹ bảo hiểm thất nghiệp nhằm đảm bảo hoạt động của

quỹ an tồn, tiết kiệm và có hiệu quả kinh tế xã hội cao, nhất là kiểm soát chặt chẽ



16



thu - chi là hai khâu quan trọng nhất của hoạt động BHTN.

Từ các điểm trên cho thấy nếu như quỹ BHTN không được quản lý một cách

triệt để, nhằm đảm bảo an toàn quỹ, đầu tư sinh lời sẽ có ảnh hưởng lớn đến tồn bộ

các bên tham gia vào việc quản lý, đóng góp cũng như phát triển sử dụng quỹ. Cụ

thể là:

- Người lao động, doanh nghiệp sẽ phải đóng góp ở mức cao hơn 1% như

hiện nay do cần bù đắp quỹ. Mặt khác NLĐ sẽ khơng được hưởng đầy đủ quyền lợi

của mình khi tham gia đóng BHTN (hỗ trợ học nghề, bảo hiểm y tế, trợ cấp thất

nghiệp...), khó có thể quay trở lại thị trường lao động sau khi thất nghiệp, thu nhập

và trợ cấp không đủ đảm bảo cuộc sống.

- Nhà nước hiện đang đóng góp vào quỹ BHTN 1% (trong tổng 3% đóng góp

của ba bên là NLĐ, chủ sử dụng lao động, nhà nước), mức đó sẽ tăng nếu như quỹ

bị thâm hụt, gia tăng gánh nặng cho ngân sách nhà nước, từ đó gián tiếp ảnh hưởng

tới mức sống của nhân dân, và mục tiêu đặt ra là tiến tới Nhà nước không cần hỗ trợ

1% vào quỹ BHTN là không thể thực hiện được.

- Cơ quan trực tiếp quản lý quỹ BHTN ở đây là BHXH Việt Nam cũng sẽ bị

ảnh hưởng lớn như sẽ phải tìm kiếm nguồn thu mới bù đắp vào quỹ BHTN, cụ thể

là ở các nguồn thu khác của BHXH như quỹ Bảo hiểm y tế, hưu trí.... Do BHXH

Việt Nam là cơ quan sự nghiệp có thu, nếu như quản lý không tốt, nguồn thu không

đảm bảo tức là đã không hồn thành nhiệm vụ mà Chính phủ đặt ra (an toàn quỹ,

gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước).

1.2.2.2. Nguyên tắc quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp

Quỹ bảo hiểm thất nghiệp phải được quản lý thống nhất, dân chủ, cơng khai

và hạch tốn độc lập

Do quỹ BHTN được hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia BHTN

là: Người sử dụng lao động, người lao động và Nhà nước nên hoạt động của quỹ

phải dựa trên nguyên tắc quản lý thống nhất, dân chủ, công khai và hạch toán độc

lập, tự thu, tự chi. Quỹ BHTN do một cơ quan quản lý thống nhất từ trung ương đến

địa phương theo chế độ tài chính của Nhà nước. Quỹ được sử dụng vào các mục

đích như: Chi trả trợ cấp BHTN cho người lao động; chi cho các hoạt động tìm việc

làm cho người thất nghiệp; chi cho công tác đào tạo, đào tạo lại, dạy nghề cho



17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ QUỸ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×