Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
VỐN KINH DOANH VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP

VỐN KINH DOANH VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ - 0trang

David Begg, trong cuốn “Kinh tế học” ông đã đưa ra hai định nghĩa về vốn

là: Vốn hiện vật và vốn tài chính cùa doanh nghiệp. Vốn hiện vật là dự trữ các hàng

hoá đã sản xuất ra để sản xuất các hàng hố khác. Vốn tài chính là các giấy tờ có giá

và tiền mặt của doanh nghiệp. Như vậy, đã có sự đồng nhất vốn với tài sản của

doanh nghiệp trong định nghĩa của David Begg [11, tr123].

Qua các khái niệm trên cho thấy, doanh nghiệp dù hoạt động trong bất cứ

lĩnh vực nào cũng cần có một lượng vốn nhất định. Lượng vốn đó dùng để thực hiện

các khoản đầu tư cần thiết như chi phí thành lập doanh nghiệp, chí phí mua sắm tài

sản cố định, nguyên vật liệu... Vốn đưa vào sản xuất kinh doanh có nhiều hình thái

vật chất khác nhau để từ đó tạo ra sản phẩm, dịch vụ phục vụ nhu cầu thị trường. Số

tiền mà doanh nghiệp thu về sau khâu tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ phải bù đắp được

các chi phí bỏ ra, đồng thời phải có lãi. Q trình này diễn ra liên tục đảm bảo cho

sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp

Vốn kinh doanh liên tục vận động và tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau

trong các khâu của hoạt động sản xuất kinh doanh. Nó có thể là tư bản, máy móc

thiết bị, nhà xưởng, nguyên vật liệu, thành phấm, bán thành phấm... Khi kết thúc

một vòng ln chuyển thì vốn kinh doanh lại trở về hình thái tiền tệ. Như vậy, vốn

kinh doanh không ngừng tăng lên nếu doanh nghiệp trong quá trình hoạt động sản

xuất kinh doanh làm ăn có hiệu quả.

Như vậy, từ các quan điểm về vốn kinh doanh nêu trên, vốn kinh doanh trong

luận văn này được tác giả định nghĩa như sau: “Vốn kinh doanh của doanh nghiệp

là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động

sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời”.

1.1.2. Phân loại vốn kinh doanh

Vốn kinh doanh có thể được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau cụ

thể như sau:

Thứ nhất, căn cứ vào nguồn hình thành vốn:

Về cơ bản, vốn kinh doanh được hình thành từ nguồn vốn chủ sở hữu và nợ

phải trả.

- Vốn chủ sở hữu: Là phần vốn thuộc chủ sở hữu của doanh nghiệp, nó bao

gồm vốn do chủ doanh nghiệp tự bỏ ra và phần vốn bổ sung được hình thành từ kết

quả kinh doanh.



8



Vốn chủ sở hữu tại một thời điểm = Giá trị tổng tài sản - Tổng nợ phải trả

Trong đó, vốn chủ sở hữu này sẽ bao gồm các khoản:

+ Với doanh nghiệp nhà nước thì đó là nguồn vốn do NSNN cấp ban đầu và

cấp bổ sung, còn với doanh nghiệp tư nhân thì nguồn vốn này do chủ doanh nghiệp

bỏ ra khi thành lập doanh nghiệp. Đối với Công ty cổ phần hoặc liên doanh thì nó sẽ

bao gồm phần đóng góp của các chủ đầu tư hoặc các cổ đông.

+ Phần lợi nhuận để lại tái đầu tư sau các quá trình hoạt động sản xuất kinh

doanh của doanh nghiệp.

- Nợ phải trả: Bao gồm các khoản đi vay của các cá nhân hay các tổ chức tín

dụng dưới mọi hình thức hoặc do phát hành trái phiếu, các khoản phải trả người

bán, trả cho Nhà nước, khoản người mua ứng trước, phải trả cho lao động trong

doanh nghiệp.

Thứ hai, căn cứ vào đặc điểm luân chuyển vốn:

Dựa trên tiêu thức này, vốn kinh doanh được chia làm hai loại: Vốn cố định

và vốn lưu động.

- Vốn cố định của doanh nghiệp

Vốn cố định: Là lượng vốn đầu tư ứng trước để hình thành nên TSCĐ của

doanh nghiệp. Quy mô của vốn cố định sẽ quyết định đến lượng TSCĐ được hình

thành và ngược lại, đặc điểm hoạt động của TSCĐ sẽ chi phối đặc điểm luân chuyển

của vốn cố định. Từ mối liên hệ này, ta có thể khái quát những đặc thù của vốn cố

định như sau:

+ Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh mà vẫn giữ

nguyên hình thái hiện vật. Có được đặc điểm này là do TSCĐ tham gia vào phát

huy tác dụng trong nhiều chu kỳ sản xuất. Vì vậy vốn cố định là hình thái biểu hiện

bằng tiền của TSCĐ và cũng tham gia vào các chu kỳ sản xuất tương ứng.

+ Vốn cố định được luân chuyển giá trị dần dần, từng phần trong các chu kỳ

sản xuất. Khi tham gia vào quá trình sản xuất, TSCĐ khơng bị thay đổi hình thái

hiện vật ban đầu nhưng tính năng và cơng suất của nó bị giảm dần, tức là nó bị hao

mòn và cùng với sự giảm dần về giá trị sử dụng, thì giá trị của nó cũng bị giảm đi,

theo đó vốn cố định được tách thành hai bộ phận:

Bộ phận thứ nhất tương ứng với phần giá trị hao mòn của TSCĐ được luân

chuyển và cấu thành chi phí sản xuất sản phẩm dưới hình thức chi phí khấu hao và

được tích luỹ lại thành quỹ khấu hao, sau khi sản phẩm hàng hoá được tiêu thụ, quỹ



9



khấu hao này sẽ được sử dụng để tái sản xuất TSCĐ nhằm duy trì năng lực sản xuất

của doanh nghiệp.

Phần còn lại của vốn cố định vẫn được "cố định" trong đó, tức là giá trị còn

lại của tài sản cố định. Hình thái hiện vật của vốn cố định là tài sản cố định.

Sau mỗi chu kỳ sản xuất, phần vốn được luân chuyển vào giá trị sản phẩm và

được thu hồi dần dần tăng lên, song phần vốn đầu tư ban đầu vào TSCĐ lại dần dần

giảm xuống. Kết thúc quá trình vận động đó cũng là lúc TSCĐ hết thời gian sử

dụng, giá trị của nó được chuyển dịch vào giá trị sản phẩm đã sản xuất và khi đó

vốn cố định mới hồn thành một vòng ln chuyển.

Vốn cố định thường có chu kỳ vận động dài, sau nhiều năm mới có thể thu

hồi đủ số vốn đầu tư đã ứng ra ban đầu. Trong thời gian dài như vậy, đồng vốn luôn

bị đe doạ bởi những rủi ro, những nguyên nhân chủ quan và khách quan làm thất

thoát vốn như:

Do kinh doanh kém hiệu quả, sản phẩm làm ra không tiêu thụ được, do giá

bán thấp hơn giá thành nên thu nhập khơng đủ bù đắp mức độ hao mòn TSCĐ.

Do sự phát triển của tiến bộ khoa học kỹ thuật làm cho mức độ hao mòn vơ

hình của TSCĐ vượt qua mức dự kiến về mặt hiện vật cũng như về mặt giá trị.

Do yếu tố lạm phát trong nền kinh tế. Khi lạm phát xảy ra, giá trị thực của

đồng vốn bị thay đổi, do đó đòi hỏi doanh nghiệp phải đánh giá và điều chỉnh lại giá

trị tài sản để tránh tình trạng mất vốn kinh doanh theo tốc độ lạm phát trên thị

trường.

+ Vốn cố định hồn thành một vòng ln chuyển sau nhiều chu kỳ kinh

doanh.

Trong các doanh nghiệp, vốn cố định là một bộ phận quan trọng và chiếm tỷ

trọng tương đối lớn trong tồn bộ vốn đầu tư nói riêng, vốn sản xuất kinh doanh nói

chung. Quy mơ của vốn cố định và trình độ quản lý sử dụng nó là nhân tố ảnh

hưởng quyết định đến trình độ trang bị kỹ thuật của sản xuất kinh doanh. Do ở một

vị trí then chốt và đặc điểm luân chuyển của nó lại tuân theo tính quy luật riêng, nên

việc quản lý vốn cố định có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn sản xuất

kinh doanh của doanh nghiệp.

- Vốn lưu động của doanh nghiệp:

Vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn bằng tiền được ứng ra để hình

thành các tài sản lưu động sản xuất, tài sản lưu động lưu thông và một phần để trả



10



tiền công cho người lao động nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất của doanh

nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục.

Tài sản lưu động sản xuất bao gồm ở khâu dự trữ sản xuất như: Nguyên liệu,

vật liệu, công cụ, dụng cụ… Tài sản lưu động ở khâu sản xuất như sản phẩm đang

chế tạo, bán thành phẩm. Các tài sản lưu động ở khâu lưu thông bao gồm các sản

phẩm, thành phẩm chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền, các khoản vốn trong thanh

tốn, các khoản chi phí chờ kết chuyển, chi phí trả trước… Trong q trình sản xuất

kinh doanh, các tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông luôn vận

động thay thế và đổi chỗ cho nhau đảm bảo quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh

được tiến hành liên tục và thuận lợi.

Khác với tài sản cố định, trong quá trình sản xuất kinh doanh, tài sản lưu

động của doanh nghiệp luôn ln thay đổi hình thái biểu hiện để tạo ra sản phẩm,

hàng hố. Do đó, phù hợp với các đặc điểm của tài sản lưu động, vốn lưu động của

doanh nghiệp cũng không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh

doanh: Dự trữ sản xuất, sản xuất và lưu thơng. Q trình này được diễn ra liên tục

và thường xuyên lặp lại theo chu kỳ và được gọi là q trình tuần hồn chu chuyển

của vốn lưu động. Ta có sơ đồ chu chuyển vốn lưu động:

Dự trữ

T

NVL

Sản xuất

Sản phẩm

Lao động



T’



Trong quá trình vận động, vốn lưu động luân chuyển toàn bộ giá trị ngay

trong một lần, qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh, vốn lưu động lại thay đổi

hình thái biểu hiện, từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu chuyển sang hình thái vốn vật tư

hàng hoá dự trữ. Qua giai đoạn sản xuất, vật tư được đưa vào chế tạo thành các bán

thành phẩm và thành phẩm, sau khi sản phẩm được tiêu thụ, vốn lưu động lại trở về

hình thái tiền tệ như điểm xuất phát ban đầu của nó. Sau mỗi chu kỳ tái sản xuất,

vốn lưu động mới hoàn thành một vòng chu chuyển.

Trong các doanh nghiệp, q trình sản xuất kinh doanh luôn diễn ra một cách

thường xuyên, liên tục cho nên có thể thấy trong cùng một lúc, vốn lưu động của

doanh nghiệp được phân bổ trên khắp các giai đoạn luân chuyển và tồn tại dưới

nhiều hình thức khác nhau. Muốn cho quá trình sản xuất được liên tục, doanh



11



nghiệp phải có đủ vốn lưu động đầu tư vào các hình thái khác nhau nó đảm bảo cho

việc chuyển hố hình thái của vốn trong q trình luân chuyển được thuận lợi.

Từ những đặc điểm của vốn lưu động đã được xem xét ở trên đòi hỏi việc

quản lý và tổ chức sử dụng vốn lưu động cần chú trọng giải quyết một số vấn đề

sau:

+ Xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên, cần thiết tối thiểu cho hoạt

động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đảm bảo đủ vốn lưu động cho quá trình

sản xuất kinh doanh.

+ Tổ chức khai thác nguồn vốn tài trợ vốn lưu động, đảm bảo đầy đủ, kịp

thời vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đồng thời phải có

giải pháp thích ứng nhằm quản lý và tổ chức sử dụng vốn lưu động có hiệu quả, đẩy

nhanh tốc độ chu chuyển vốn, rút ngắn chu kỳ sản xuất, tiết kiệm chi phí sử dụng

vốn.

Thứ ba, căn cứ vào phạm vi huy động, vốn kinh doanh được hình thành từ

hai nguồn:

- Nguồn vốn từ bên trong doanh nghiệp: Việc doanh nghiệp huy động sử

dụng nguồn vốn bên trong có ưu điểm là doanh nghiệp được quyền tự chủ sử dụng

vốn cho sự phát triển của mình mà khơng phải chi phí cho việc sử dụng vốn. Tuy

nhiên, cũng chính vì lợi thế về việc khơng phải trả chi phí khi sử dụng vốn bên

trong dẫn đến việc doanh nghiệp sử dụng vốn kém hiệu quả.

- Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp: Là nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể

huy động từ bên ngồi để đáp ứng cho nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất kinh

doanh. Loại nguồn vốn này bao gồm: Vốn vay ngân hàng, vay các tổ chức kinh tế

khác, phát hành trái phiếu, nợ người bán và các khoản nợ khác…

Ưu điểm của nguồn vốn này là tạo cho doanh nghiệp một cơ cấu tài chính

linh động hơn. Nếu doanh nghiệp đạt được mức doanh lợi cao hơn chi phí sử dụng

vốn càng nhiều thì việc huy động vốn từ bên ngoài nhiều sẽ giúp cho doanh nghiệp

phát triển mạnh hơn.

Nhược điểm: Doanh nghiệp phải trả lợi tức tiền vay và hoàn trả vay đúng

thời hạn, nếu doanh nghiệp sử dụng vốn sản xuất kinh doanh kém hiệu quả thì

khoản nợ phải trả trở thành gánh nặng và doanh nghiệp phải chịu rủi ro lớn.

Như vậy xuất phát từ những ưu nhược điểm trên ta thấy việc sử dụng kết hợp

nguồn vốn bên trong và nguồn vốn bên ngoài một cách hợp lý sẽ đem lại cho doanh



12



nghiệp hiệu quả kinh tế cao và rủi ro là thấp nhất.

Thứ tư, căn cứ vào thời gian huy động vốn:

Theo tiêu thức này có thể chia nguồn vốn của doanh nghiệp ra thành hai

loại: Nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời.

+ Nguồn vốn thường xun: Là nguồn vốn có tính chất lâu dài và ổn định mà

doanh nghiệp có thể sử dụng, nguồn này được dùng cho việc hình thành tài sản lưu

động thường xuyên cần thiết cho doanh nghiệp, nguồn vốn thường xuyên bao gồm

nguồn vốn riêng và các khoản vay dài hạn.

+ Nguồn vốn tạm thời: Là các nguồn vốn có tính chất ngắn hạn doanh

nghiệp sử dụng đáp ứng nhu cầu tạm thời, bất thường phát sinh trong doanh nghiệp.

Nguồn vốn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn và nợ ngắn hạn.

Tài sản

= Tài sản lưu động + Tài sản cố định

Nguồn vốn = Nợ ngắn hạn + Nợ dài hạn + Vốn chủ sở hữu

Trong đó:

Vốn tạm thời

= Nợ ngắn hạn

Vốn thường xuyên = Nợ dài hạn + Vốn chủ sở hữu

Việc phân loại nguồn vốn theo cách này giúp cho người quản lý doanh

nghiệp xem xét huy động các nguồn vốn một cách phù hợp với thời gian sử dụng,

đáp ứng đầy đủ, kịp thời vốn sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

của doanh nghiệp.

1.2. Hiệu quả sử dụng vốn và phân tích hiệu quả sử dụng vốn trong doanh

nghiệp

1.2.1. Khái niệm về hiệu quả và hiệu quả sử dụng vốn

Để đánh giá trình độ quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của

một doanh nghiệp, người ta sử dụng thước đo là hiệu quả sản xuất kinh doanh của

doanh nghiệp đó. Hiệu quả sản xuất kinh doanh được đánh giá trên hai giác độ:

Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Trong phạm vi quản lý doanh nghiệp, người ta

chủ yếu quan tâm đến hiệu quả kinh tế. Đây là một phạm trù phản ánh trình độ sử

dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất với chi phí hợp

lý nhất. Do vậy, các nguồn lực kinh tế đặc biệt là nguồn vốn của doanh nghiệp có

tác động rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó, việc

nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là yêu cầu mang tính thường xuyên và bắt buộc đối

với doanh nghiệp. Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn sẽ giúp ta thấy được hiệu quả của



13



hoạt động kinh doanh nói chung và trình độ quản lý sử dụng vốn nói riêng.

Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh

trình độ khai thác, sử dụng và quản lý nguồn vốn làm cho đồng vốn sinh lời tối đa

nhằm mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp là tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở

hữu.

Về mặt lượng, hiệu quả sử dụng vốn thể hiện ở mối tương quan giữa kết quả

thu được từ hoạt động bỏ vốn đó mang lại với lượng vốn bỏ ra. Mối tương quan đó

thường được biểu hiện bằng công thức:



Dạng thuận:

Kết quả

Vốn kinh doanh

Chỉ tiêu này dùng để xác định ảnh hưởng của hiệu quả sử dụng vốn đến kết

H



=



quả kinh tế.



Dạng nghịch:

Vốn kinh doanh

Kết quả

Chỉ tiêu này là cơ sở để xác định quy mô tiết kiệm hay lãng phí nguồn lực về

E



=



mặt định tính hiệu quả sử dụng vốn thể hiện trình độ khai thác, quản lý và sử dụng

vốn của doanh nghiệp.

Quan điểm này đã đánh giá được tốt nhất trình độ sử dụng các nguồn lực ở

mọi điều kiện “động” của hoạt động kinh tế. Vậy hiệu quả kinh tế của hoạt động sử

dụng vốn kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng nguồn lực

vốn kinh doanh nhằm đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã xác định.

Khái niệm hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và

hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh nói riêng đã khẳng định bản chất của hiệu quả

kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh là phản ánh mặt chất lượng của các

hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực vốn kinh doanh để

đạt được mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.

Tuy nhiên, để hiểu rõ bản chất của phạm trù hiệu quả kinh tế của hoạt động

sử dụng vốn kinh doanh, cũng cần phân biệt ranh giới giữa hai khái niệm hiệu quả

và kết quả của hoạt động sử dụng vốn kinh doanh. Hiểu kết quả hoạt động sử dụng

vốn kinh doanh của doanh nghiệp là những gì mà doanh nghiệp đạt được sau một



14



quá trình sử dụng vốn kinh doanh nhất định, kết quả cần đạt cũng là mục tiêu cần

thiết của doanh nghiệp. Kết quả hoạt động sử dụng vốn kinh doanh của một doanh

nghiệp có thể là những đại lượng cân đong đo đếm được như số sản phẩm tiêu thụ

mỗi loại, doanh thu, lợi nhuận, thị phần,… và cũng có thể là các đại lượng chi phí

phản ánh mặt chất lượng hồn tồn có tính chất định tính như uy tín của doanh

nghiệp, là chất lượng sản phẩm, … Như thế, kết quả bao giờ cũng là mục tiêu của

doanh nghiệp. Trong khi đó, cơng thức ở trên lại cho thấy trong khái niệm về hiệu

quả sử dụng vốn kinh doanh người ta đã sử dụng cả hai chỉ tiêu kết quả (đầu ra) và

chi phí (các nguồn lực đầu vào) để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh.

Để tiến hành bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng như thực

hiện sự kết hợp giữa lao động với các yếu tố vật chất để tạo ra kết quả phù hợp với

ý đồ của doanh nghiệp và từ đó có thể tạo ra lợi nhuận. Như vậy, mục tiêu bao trùm

lâu dài của kinh doanh là tạo ra lợi nhuận, tối đa hóa lợi nhuận trên cơ sở nguồn lực

sẵn có. Để đạt được mục tiêu này, quản trị doanh nghiệp phải sử dụng nhiều phương

pháp khác nhau. Hiệu quả kinh doanh là một công cụ để các nhà quản trị thực hiện

chức năng quản trị của mình. Việc xem xét và tính tốn hiệu quả kinh doanh khơng

những chỉ cho biết việc sản xuất đạt ở trình độ nào mà còn cho phép các nhà quản

trị phân tích, tìm ra các nhân tố để đưa ra các biện pháp thích hợp trên cả hai

phương diện tăng kết quả, giảm chi phí kinh doanh, nhằm nâng cao hiệu quả.

Bản chất của phạm trù hiệu quả đã chỉ rõ trình độ sử dụng các nguồn lực sản

xuất càng cao, doanh nghiệp càng có khả năng tạo ra kết quả cao trong cùng một

nguồn lực đầu vào hoặc tốc độ tăng kết quả lớn hơn so với tốc độ tăng việc sử dụng

các nguồn lực đầu vào. Đây là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp đạt được mục

tiêu lợi nhuận tối đa. Do đó xét trên phương diện lý luận và thực tiễn, phạm trù hiệu

quả sản xuất kinh doanh đóng vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá, so sánh,

phân tích kinh tế nhằm tìm ra một giải pháp tối ưu nhất, đưa ra phương pháp đúng

đắn nhất để đạt được mục tiêu lợi nhuận tối đa. Với tư cách là một công cụ đánh giá

và phân tích kinh tế, phạm trù hiệu quả khơng chỉ được sử dụng ở giác độ tổng hợp,

đánh giá chung trình độ sử dụng tổng hợp các nguồn lực đầu vào trong phạm vi

hoạt động của tồn doanh nghiệp, mà còn sử dụng để đánh giá trình độ sử dụng của



15



từng yếu tố đầu vào ở phạm vi toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp cũng như ở từng bộ phận cấu thành của doanh nghiệp. Nâng cao hiệu quả

kinh doanh tức là đã nâng cao khả năng sử dụng các nguồn lực có hạn trong sản

xuất, đạt được sự lựa chọn tối ưu. Trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực sản

xuất thì nâng cao hiệu quả kinh doanh là điều kiện không thể không đặt ra đối với

bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào.

Từ công thức định nghĩa về hiệu quả kinh tế, chúng ta thấy khi thiết lập mối

quan hệ tỷ lệ giữa “đầu vào” và “đầu ra” sẽ có thể cho một dãy các giá trị khác

nhau. Vấn đề được đặt ra là trong các giá trị đạt được thì giá trị nào phản ánh tính

hiệu quả (nằm trong miền có hiệu quả), các giá trị nào sẽ phản ánh tính hiệu quả cao

cũng như những giá trị nào nằm trong miền khơng đạt hiệu quả.

1.2.2. Khái niệm, mục tiêu, vai trò của phân tích hiệu quả sử dụng vốn

Khái niệm phân tích hiệu quả sử dụng vốn

Phân tích tài chính là một tập hợp các khái niệm, phương pháp và các công

cụ cho phép thu thập và xử lý các thông tin kế tốn và các thơng tin khác về quản lý

nhằm đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ và

chất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó, khả năng và tiềm lực của

doanh nghiệp, giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính, quyết

định tài chính phù hợp.

Khái niệm phân tích hiệu quả sử dụng vốn cũng có thể được hiểu như là

phân tích tài chính, tuy nhiên phân tích hiệu quả sử dụng vốn chủ yếu tập chung vào

việc phân tích hệ thống các chỉ tiêu về hiệu suất sử dụng vốn cố định, vốn lưu động,

sức sinh lời của vốn, tốc độ luân chuyển vốn,...để phản ánh quan hệ giữa đầu ra và

đầu vào của q trình sản xuất kinh doanh thơng qua thước đo tiền tệ hay cụ thể là

mối tương quan giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra để thực hiện nhiệm vụ sản

xuất kinh doanh. Kết quả thu được càng cao so với chi phí vốn bỏ ra thì hiệu quả sử

dụng vốn càng cao.

Doanh nghiệp phải thường xuyên phân tích đánh giá hiệu quả sử dụng vốn

để nhanh chóng có biện pháp khắc phục những mặt hạn chế và phát huy những ưu

điểm của doanh nghiệp trong quản lý và sử dụng vốn. Thơng qua phân tích hiệu quả

sử dụng vốn sẽ cung cấp hình ảnh về việc sử dụng vốn tại doanh nghiệp, những ưu



16



điểm và hạn chế trong cơng tác tài chính tại doanh nghiệp.

Mục tiêu và vai trò của phân tích hiệu quả sử dụng vốn

Trong điều kiện sản xuất và kinh doanh theo cơ chế thị trường, để tồn tại và

phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp phải kinh có lãi. Để đạt được kết quả cao nhất

trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải đưa ra phương

hướng mục tiêu trong đầu tư, biện pháp sử dụng các điều kiện có sẵn về các nguồn

như: vốn, nguồn nhân tài, vật lực... Muốn vậy, các doanh nghiệp cần nắm được các

nhân tố ảnh hưởng, mức độ và xu hướng tác động của từng nhân tố đến kết quả kinh

doanh. Điều này chỉ thực hiện được trên cơ sở phân tích và sử dụng hợp lý các

nguồn sẵn có trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

Như chúng ta biết mọi hoạt động kinh tế của hoạt động sản xuất của doanh

nghiệp đều nằm trong thế liên hoàn với nhau. Bởi vây, chỉ có tiến hành phân tích

hoạt động sản xuất kinh doanh một cách tồn diện mới có thể giúp cho các nhà

doanh nghiệp đánh giá đầy đủ và sâu sắc trong hoạt động kinh tế trong trạng thái

thực của chúng. Trên cơ sở đó, nêu lên một cách tổng hợp về trình độ hồn thành

các mục tiêu nó được biểu hiện bằng các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật- tài chính của

doanh nghiệp. Đồng thời, phân tích sâu sắc các ngun nhân hồn thành và khơng

hồn thành các chỉ tiêu đó trong sự tác động lẫn nhau giữa chúng. Từ đó, có thể

đánh giá đầy đủ mặt mạnh, mặt yếu trong công tác quản lý doanh nghiệp. Mặt khác,

qua phân tích kinh doanh, giúp cho các doanh nghiệp tìm ra các biện pháp sát thực

để tăng cường hoạt động kinh tế, và quản lý doanh nghiệp, nhằm phát huy mọi khả

năng tiềm tàng về vốn, lao động, đất đai, ...vào quá trình sản xuất kinh doanh của

doanh nghiệp. Trong đó một trong những yếu tố khơng thể thiếu được trong cơng

tác này đó là cơng tác quản lý vốn.

Thơng tin sử dụng trong phân tích hiệu quả sử dụng vốn

Trong phân tích tài chính nói chung và cụ thể ở đây là phân tích hiệu quả sử

dụng vốn, nhà phân tích phải thu thập, sử dụng mọi nguồn thơng tin: Từ những

thông tin nội bộ doanh nghiệp cho đến những thơng tin bên ngồi doanh nghiệp, từ

thơng tin số lượng đến thơng tin giá trị. Những thơng tin đó đều giúp cho nhà phân

tích có thể đưa ra được những nhận xét, kết luận tinh tế và thích đáng.

Thơng tin sử dụng trong phân tích hiệu quả sử dụng vốn được lấy từ 2 nguồn

thơng tin chính, đó là nguồn thơng tin kế tốn và nguồn thơng tin khác ngồi kế



17



tốn.

Nguồn thơng tin kế tốn bao gồm nguồn thơng tin từ bộ báo cáo tài chính và

nguồn thơng tin khác. Trong bộ báo cáo tài chính chủ yếu khai thác thơng tin có

được từ bảng cân đối kế tốn và bảng báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh

doanh.

Nguồn thơng tin khác ngồi kế tốn thu thập được từ thơng tin Bộ ngành liên

quan, tình hình phát triển kinh tế xã hội cũng như các chính sách của Nhà nước.

Trong những thơng tin bên ngồi, cần lưu ý thu thập những thông tin chung như

thông tin liên quan đến trạng thái của nền kinh tế, cơ hội kinh doanh, chính sách

thuế, lãi suất, thơng tin về ngành kinh doanh (thơng tin liên quan đến vị trí của

ngành trong nền kinh tế, cơ cấu ngành, các sản phẩm của ngành, tình trạng cơng

nghệ, thị phần...) và các thơng tin về pháp lý, kinh tế đối với doanh nghiệp.

Tuy nhiên, để đánh giá một cách cơ bản tình hình của doanh nghiệp, có thể

sử dụng thơng tin kế tốn trong nội bộ doanh nghiệp như là một nguồn thông tin

quan trọng bậc nhất. Với những đặc trưng hệ thống, đồng nhất và phong phú, kế

toán hoạt động như một nhà cung cấp quan trọng những thông tin đáng giá cho hoạt

động phân tích tài chính nói chung và hoạt động phân tích hiệu quả sử dụng vốn nói

riêng. [Nguồn: 2, tr.32-37]

1.2.3. Phân biệt hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh với các khái niệm kết quả,

hiệu suất

Để phân biệt khái niệm hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh với các khái niệm

kết quả kinh doanh và hiệu suất kinh doanh, tác giả thể hiện trong bảng sau:

Chỉ tiêu

Cơ sở xác định



Hiệu quả

Hiệu suất

Kết quả

Kết

quả

đạt Kết

quả

đạt Là đại lượng tuyệt

được/Mục tiêu đề ra được/Chi phí bỏ ra

đối có được sau một

thời kỳ

Cơ sở đánh giá

Mức độ thực hiện Cách thức thực hiện Khơng cho phép so

mục tiêu

mục tiêu

sánh với chi phí bỏ

ra hay mục tiêu thực

hiện

Mục đích

Làm đúng việc

Làm đúng cách

Phản ánh các giá

trị,đại lượng,thuộc

tính ... mà thu được

sau 1 quá trình

Tầm quan trọng Quan trọng hơn

Ít quan trọng

Quan trọng



18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

VỐN KINH DOANH VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×